Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Investment / Đầu Tư

Một tài sản hoặc hàng hoá thường được mua bán với mục đích nó sẽ tạo ra thu nhập hoặc tăng giá trị trong tương lai. Trong kinh tế, đầu tư là việc mua hàng hoá không phải để dùng trong hiện tại mà để nhằm mục đích tạo ra của cải trong tương lai. Việc xây dựng một nhà xưởng để sản xuất hàng hoá hay quyết định của một sinh viên đến trường đại học để học đều là ví dụ về đầu tư xét trong lĩnh vực kinh tế học. Trong lĩnh vực tài chính, đầu tư được hiểu là việc mua một tài sản tiền tệ với mục đích là tài sản đó sẽ mang lại thu nhập trong tương lai hoặc là tài sản đó sẽ tăng giá và ta có thể bán nó với mức giá cao hơn, thu về một khoản lãi. Đầu tư trong lĩnh vực tài chính bao gồm các hoạt động mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc bất động sản. Cần phải phân biệt rõ ràng việc tiến hành một hoạt động đầu tư và hoạt động "đầu cơ". Đầu tư thường gắn liền với việc tạo ra của cải vật chất trong khi đầu cơ chỉ là một trò chơi may rủi và xét một cách tổng thể thì không tạo ra của cải cho xã hội (zero-sum game). Mặc dù những người đầu cơ thường đưa ra quyết định dựa trên kiến thức và hiểu biết nhưng đầu cơ vẫn không được coi là một hoạt động đầu tư truyền thống. Hiện tại trên thị trường có rất nhiều công cụ đầu tư và bạn hoàn toàn có thể lựa chọn cho mình một công cụ đầu tư phù hợp nhất. Sau đây là một số công cụ đầu tư tài chính  phổ biến: Đầu tư vào chứng khoán như trái phiếu, cổ phiếu Đầu tư thông qua các hợp đồng quyền chọn Đầu tư thông qua hợp đồng tương lai Đầu tư bất động sản... Ngay cả trong một công cụ đầu tư như chứng khoán chẳng hạn, bạn cũng sẽ có rất nhiều lựa chọn. Nếu như bạn là người có hiểu biết về thị trường chứng khoán, bạn nắm trong tay các thông tin, bạn chỉ cần thông qua một công ty môi giới để thực hiện lệnh của mình. Nếu bạn chấp nhận mạo hiểm, nhưng trong tay không có nhiều thông tin lắm, bạn có thể sử dụng dịch vụ tư vấn của người môi giới. Các công ty môi giới có thể cung cấp cho bạn rất nhiều gói dịch vụ, kể cả dịch vụ từ A-Z. Nếu bạn không có nhiều tiền, không dám mạo hiểm nhưng lại vẫn muốn đầu tư để kiếm lời, bạn có thể tham gia vào các quỹ tương hỗ (Unit trust hoặc Mutual fund). Nói chung luôn có sự song hành giữa lợi nhuận và rủi ro. Vì thế hãy xác định rõ mục đích của bạn trước khi tiến hành một hoạt động đầu tư.

Cash Market / Thị Trường Tiền Mặt

Thị trường trong đó chứng khoán, công cụ tài chính hay tiền tệ được chuyển từ người mua sang người bán và được trả theo giá thị trường hiện hành. Các giao dịch thị trường tiền mặt chỉ tạm thời, giao ngay, trái với các hợp đồng tài chính kỳ hạn,, các hợp đồng thị trường kỳ hạn, các hợp đồng có quyền chọn và hoán đổi, yêu cầu giao vào kỳ hạn tương lai. Cũng được gọi là thị trường giao ngay.

Cash Management Bill / Phiếu Nợ Quản Lý Tiền Mặt

Đây là công cụ nợ ngắn hạn do công khố Hoa Kỳ phát hành có thời hạn 50 ngày, nó là một dạng khác của phiếu kho bạc (Treasury Notes) hay trái phiếu kho bạc ngắn hạn. Phiếu nợ quản lý tiền mặt được bán cho các nhà đầu tư thị trường tiền tệ theo đơn vị tối thiểu là 1 triệu dollars. Phiếu nợ được phát hành để trang trải cho thiếu hụt lên mặt tạm thời, thí dụ ngay trước khi đến ngày đáo hạn thu thuế chủ yếu - như 15 tháng 4 hay 15 tháng 6.

Dividend Rollover Plan / Kế Hoạch Xoay Qua Cổ Tức

Đây là phương pháp mua và bán chứng khoán gần ngày công ty tuyên bố chứng khoán được chia cổ tức để thu cổ tức và mua bán lại để kiếm một ít lợi nhuận. Điều này đòi hỏi phải mua cổ phần khoảng 2 tuần trước khi chứng khoán ở vào vị thế không có cổ tức. Sau ngày chưa được chia cổ tức (Ex-Dividend) giá sẽ giảm xuống vào khoảng bằng trị giá cổ tức, sau đó sẽ trở lại giá cũ. Bằng cách bán hơi cao hơn giá mua, nhà đầu tư có thể trang trải giá phí môi giới, thu lại cổ tức, và có một lợi nhuận nhỏ trong 3 hay 4 tuần. Kế hoạch này còn gọi là nắm bắt cổ tức (Dividend Capture).

Cash Limit / Hạn Mức Chi Tiêu, Hạn Mức Tiền Mặt

Một dạng kiểm soát CHI TIÊU CÔNG CỘNG thực hiện ở Anh.

Investing / Đầu Tư

Có một định nghĩa đơn giản thế này: đầu tư có nghĩa là để tiền làm việc cho bạn. Cách nghĩ này khác với các nghĩ làm sao để làm ra tiền? Khi lớn lên, hầu hết chúng ta đều được dạy rằng bạn có thể kiếm được một khoản thu nhập nào đó chỉ bằng việc  tìm kiếm một công việc và làm việc. Đó là cách mà hầu hết chúng ta vẫn thực hiện. Thế nhưng có một vấn đề lớn xảy ra đó là: Nếu bạn muốn có nhiều tiền hơn, bạn phải làm việc nhiều giờ hơn. Tuy nhiên, lại có giới hạn về số giờ làm việc một ngày mà chúng ta có thể làm, đó là chưa kể đến việc có nhiều tiền hơn cũng chẳng có gì mà thú vị nếu chúng ta không có thời gian thư giãn và tiêu xài để tận hưởng cuộc sống.Bạn không thể tạo ra một người giống hệt bạn ( bản sao của bạn) để có thể tăng thời gian làm việc, thay vì vậy, bạn cần học cách để đưa tiền của bạn vào làm việc.Cách đó là, trong khi bạn đang bỏ hàng giờ đồng hồ với công việc làm thuê của mình, hoặc thậm chí là cắt cỏ, ngủ, đọc báo hoặc tán dóc với bạn bè, bạn vẫn có thể kiếm được tiền ở một nơi khác nào đó. Khá đơn giản thôi, đó là khiến cho tiền của bạn làm việc để tối đa hóa khả năng kiếm tiền của bạn dù cho bạn được tăng lương hay không, dù cho bạn có quyết định làm việc thêm giờ hay không hoạc là dù cho bạn có tìm được một công việc có mức lương cao hơn hay không?Có rất nhiều cách mà bạn có thể thực hiện một khoản đầu tư. Khái niệm đầu tư bao gồm việc bạn bỏ tiền vào cổ phiếu, trái phiếu, quỹ hỗ tương hoặc nhà đất( bất động sản), hoặc là bạn bắt đầu khởi nghiệp, xây dựng doanh nghiệp riêng cho mình. Mỗi một lựa chọn đầu tư đều có mặt tích cực và mặt tiêu cực của nó. Điểm quan trọng là dù bạn đầu tư với phương pháp nào thì mục tiêu vẫn luôn luôn là để tiền làm việc cho bạn vì thế nó sẽ giúp bạn tăng thêm được lợi nhuận.Nhưng đầu tư không phải là đánh bạc. Đánh bạc là bỏ tiền một cách đầy rủi ro vào cá cược cho một phần thắng không chắc chắn. Tuy nhiên nhiều người nhầm lẫn giữa đầu tư và đánh bạc có lẽ do bởi cái cách mà một số người sử dụng các lựa chọn đầu tư. Ví dụ, nếu bạn mua một cổ phiếu dựa trên các tin đồn nóng mà bạn nghe được ở một quán café  nào đó thì nó cũng tương tự như bạn đang cá cược ở một sòng bạc.Đầu tư đúng có nghĩa là bạn sẽ hành động theo bản thân mình chứ không đơn giản dựa theo lời khuyên hoặc tin đồn. Một nhà đầu tư thật sự không quăng tiền của họ vào bất cứ một khoản đầu tư ngẫu nhiên nào. Họ thực hiện đầu tư thông qua các phân tích, các xét đoán và chỉ khi nào cảm thấy có mức kỳ vọng lợi nhuận hợp lý họ mới đem tiền của mình vào đầu tư. Dĩ nhiên là vẫn còn có rủi ro trong đầu tư đúng nghĩa vì không có gì là được đảm bảo chắc chắn, nhưng đầu tư thì nó phức tạp hơn nhiều so với việc bạn chỉ đơn giản kỳ vọng là thần May mắn luôn ở bên bạn.

Inverse Head And Shoulders / Mô Hình Đầu Và Vai Ngược

Mô hình đầu và vai ngược là một mô hình đồ thị giá chứng khoán được sử dụng trongphân tích kỹ thuật, dự báo sự đảo chiều của xu hướng xuống giá hiện hành. Mô hình này được đặc trưng khi giá chứng khoán diễn biến như sau: 1. Giá giảm nhẹ xuống một điểm đáy rồi tăng trở lại2. Giá giảm xuống sâu hơn điểm đáy thứ nhất và lại tăng 3. Cuối cùng, giá giảm một lần nữa nhưng không thấp như lần thứ hai rồi tăng. Sau khi xuống đến đáy thứ ba, giá bắt đầu nhích dần lên mức cản gần với giá cao nhất trong hai lần trước. Thông thường, các nhà đầu tư sẽ đầu cơ giá lên khi giá vượt qua mức cản của đường viền cổ. Trong mô hình này đỉnh thứ nhất và thứ ba trong mô hình này được coi như hai vai, còn đỉnh thứ hai là đầu. Như đã thấy trong biểu đồ trên, khi giá vượt qua mức cản, còn được gọi là đường viền cổ (neckline), đó được coi là tín hiệu cho thấy giá sẽ còn tăng mạnh lên cao hơn. Nhiều nhà đầu tư sẽ chờ đợi khi khối lượng giao dịch tăng đủ lớn để xác nhận cú đột phá về giá trên. Mô hình này đối nghịch với "mô hình đầu và vai" thông dụng, và thường được sử dụng để dự đoán cú đảo chiều của thị trường giá xuống thay vì thị trường giá lên.

Dividend Reinvestment Plan Drip/Drp / Tái Đầu Tư Bằng Cổ Tức

Đây là một dịch vụ do một công ty cung cấp. Dịch vụ này cho phép khách hàng có thể tái đầu tư cổ tức của họ bằng cách mua thêm cổ phiếu vào ngày thanh toán tiền cổ tức. DRIP là cách thức hoàn hảo để tăng giá trị khoản đầu tư của bạn. Phần lớn các dịch vụ DRIP đều cho phép bạn mua cổ phiếu mà không phải trả phí hoa hồng đồng thời bạn còn được hưởng một khoản chiết khấu giảm giá khá lớn tính trên mức giá bán của cổ phiếu trên thị trường. Hầu hết các dịch vụ DRIP đều không chấp nhận mức tái đầu tư thấp hơn $10. Thuật ngữ này đôi khi còn được viết tắt là "DRP"

Lockout / Sự Đóng Cửa Gây Áp Lực (Đối Với Công Nhân)

Việc người chủ đóng cửa nơi làm việc để buộc công nhân thừa nhận các điều khoản tuyển dụng của ban lãnh đạo.

Inverse Function Rule / Quy Tắc Hàm Ngược

Một quy tắc xác định đạo hàm của một hàm số, trong đó biến số mà chúng ta muốn lấy đạo hàm được biểu diễn dưới dạng biến phụ thuộc.

Locking - In Effect / Hiệu Ứng Kẹt

Hiệu ứng làm cho một người có một tài sản không bán tài sản đó nữa vì giá trị thị trường của nó giảm xuống và sẽ gây ra thua lỗ.

Locational Interdependence / Sự Phụ Thuộc Lẫn Nhau Về Vị Trí

Mối quan hệ tương hỗ giữa các hãng trong đó quyết định của một loại hãng về việc lựa chọn vị trí cho một nhà máy của nó bị tác động bởi những lựa chọn về vị trí của các đối thủ cạnh tranh.

Inventory Turnover Ratio / Hệ Số Vòng Quay Hàng Tồn Kho

Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Hệ số vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng giá vốn hàng bán chia cho bình quân hàng tồn kho. Trong đó Hệ số vòng quay hàng tồn kho cũng được tính cho 4 quý gần nhất theo công thức sau: Trong đó Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp. Cần lưu ý, hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu. Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều. Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm. Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng. Để có thể đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, việc xem xét chỉ tiêu hàng tồn kho cần được đánh giá bên cạnh các chỉ tiêu khác như lợi nhuận, doanh thu, vòng quay của dòng tiền…, cũng như nên được đặt trong điều kiện kinh tế vĩ mô, điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp.

Locational Integration / Liên Kết Theo Vị Trí

Sự liên kết này là một tập hợp những mối quan hệ tồn tại giữa một số ngành vừa gần nhau về mặt vị trí vừa liên quan với nhau do sản phẩm của một số ngành là đầu vào của ngành khác. Ví dụ, các sản phẩm hóa dầu như chất dẻo được sản xuất gần một nhà máy lọc dầu cung cấp nguyên liệu. Sự liên kết các hoạt động như vậy dẫn đến tiết kiệm chi phí vận tải và tăng hiệu quả của mối quan hệ giữa nhà cung cấp với quá trình tiêu thụ. Theo cách này, sự liên kết theo vị trí là một cách tiết kiệm chi phí được biết đến như là tính kinh tế nhờ kết hợp.

Break-Even Analysis / Phân Tích Điểm Hoà Vốn

Chi phí để sản xuất một hàng hoá có thể chia thành hai phần chính: CHI PHÍ CỐ ĐỊNH và CHI PHÍ KHẢ BIẾN. từ quan điểm của người kế toán về chi phí, số lượng doanh thu tại điểm hoà vốn là số lượng đảm bảo rằng tất cả chi phí cố định và khả biến đều được trang trải ở mức giá bán cụ thể.

Đây là một phân tích để xác định điểm mà doanh thu nhận được bằng với chi phí liên quan đến việc ghi nhận doanh thu. Phân tích điểm hòa vốn tính toán những gì được gọi là biên an toàn, khoản mà doanh thu vượt quá điểm hòa vốn. Đây là khoản mà doanh thu có thể giảm trong khi vẫn ở trên điểm hòa vốn. Phân tích điểm hòa vốn là phân tích phía cung; nghĩa là, chỉ phân tích chi phí bán hàng. Nó không phân tích cách mà cầu có thể bị ảnh hưởng tại các mức giá khác nhau. Ví dụ, nếu chi phí 50 đô la để sản xuất một phụ tùng và có chi phí cố định là 1.000 đô la, điểm hòa vốn cho việc bán các phụ tùng này sẽ là: Nếu bán với giá 100 đô la cho 20 phụ tùng (Được tính bằng 1000 / (100-50) = 20) Nếu bán với giá $ 200 cho 7 phụ tùng (Được tính bằng 1000 / (200-50) = 6,7) Trong ví dụ này, nếu ai đó bán sản phẩm với một giá cao hơn, điểm hòa vốn sẽ đến nhanh hơn. Những gì phân tích không cho thấy là có thể dễ dàng bán 20 phụ tùng tại giá 100 đô la mỗi phụ tùng, hơn 7 phụ tùng tại giá 200 đô la mỗi phụ tùng. Một phân tích về phía cầu sẽ cung cấp cho người bán thông tin đó.

Đây là một phân tích để xác định điểm mà doanh thu nhận được bằng với chi phí liên quan đến việc ghi nhận doanh thu. Phân tích điểm hòa vốn tính toán những gì được gọi là biên an toàn, khoản mà doanh thu vượt quá điểm hòa vốn. Đây là khoản mà doanh thu có thể giảm trong khi vẫn ở trên điểm hòa vốn. Phân tích điểm hòa vốn là phân tích phía cung; nghĩa là, chỉ phân tích chi phí bán hàng. Nó không phân tích cách mà cầu có thể bị ảnh hưởng tại các mức giá khác nhau. Ví dụ, nếu chi phí 50 đô la để sản xuất một phụ tùng và có chi phí cố định là 1.000 đô la, điểm hòa vốn cho việc bán các phụ tùng này sẽ là: Nếu bán với giá 100 đô la cho 20 phụ tùng (Được tính bằng 1000 / (100-50) = 20) Nếu bán với giá $ 200 cho 7 phụ tùng (Được tính bằng 1000 / (200-50) = 6,7) Trong ví dụ này, nếu ai đó bán sản phẩm với một giá cao hơn, điểm hòa vốn sẽ đến nhanh hơn. Những gì phân tích không cho thấy là có thể dễ dàng bán 20 phụ tùng tại giá 100 đô la mỗi phụ tùng, hơn 7 phụ tùng tại giá 200 đô la mỗi phụ tùng. Một phân tích về phía cầu sẽ cung cấp cho người bán thông tin đó.

Cash Flow Statement / Báo Cáo Lưu Chuyển Tiền Tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash Flow Statement) là một báo cáo tài chính cung cấp thông tin về những nghiệp vụ kinh tế có ảnh hưởng đến tình hình tiền tệ của Doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập trên cơ sở cân đối thu chi tiền mặt, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của DN. Lượng tiền phát sinh trong kỳ bao gồm vốn bằng tiền và các khoản đầu tư ngắn hạn được xem là tương đương tiền. Tổng quát: Tiền tồn đầu kì + Tiền thu trong kỳ  = Tiền chi trong kì + Tiền tồn cuối kỳ. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có vai trò quan trọng trong việc cung cấp những thông tin liên để đánh giá khả năng kinh doanh tạo ra tiền của DN, chỉ ra được mối liên quan giữa lợi nhuận ròng và dòng tiền ròng, phân tích khả năng thanh toán của DN và dự đoán được kế hoạch thu chi tiền cho kỳ tiếp theo. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 24 – Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ban hành theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002, Doanh nghiệp phải trình bày các luồng tiền trong kỳ trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo 03 loại hoạt động: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính. VAS 24 định nghĩa: - Hoạt động kinh doanh: Là các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp và các hoạt động khác không phải là các hoạt động đầu tư hay hoạt động tài chính. - Hoạt động đầu tư: Là các hoạt động mua sắm, xây dựng, thanh lý, nhượng bán các tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền. - Hoạt động tài chính: Là các hoạt động tạo ra các thay đổi về quy mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp.

Inventory Investment / Đầu Tư Tồn Kho

Sự tích luỹ hàng tồn kho khi sản xuất vượt quá sản lượng bán thực tế.

Location Theory / Lý Thuyết Về Vị Trí

Học thuyết phân tích những tác động quyết định đến vị trí của hoạt động kinh tế, giải thích và đoán trước hình thái vị trí của các đơn vị kinh tế.

Break Even Point / Điểm Hòa Vốn

Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó Tổng doanh thu bằng Tổng chi phí. Hay nói cách khác thì tại điểm hòa vốn, doanh nghiệp bắt đầu thu được lợi nhuận. Xác định điểm hòa vốn nhằm: Thiết lập một mức giá hợp lý Đạt mục tiêu hiệu quả nhất trong khi kết hợp giữa chi phí cố định và chi phí biến đổi. Để xác định thu hút và phân bổ tài chính trong các chiến lược khác nhau trong doanh nghiệp. Được sử dụng trong phân tích tính hiệu quả của dự án kinh doanh. Công thức tính: Q = FC / (Po - Vc) Trong đó: Q: Là sản lượng hòa vốn Fc: Chi phí cố định Vc: Chi phí biến đổi trên mỗi đơn vị sản phẩm. Po: Giá sản phẩm. Sơ đồ:     Ví dụ: Doanh nghiệp A sản xuất bóng đèn, chi phí cố định là 10 000$. Chi phí biến đổi trên mỗi sản phẩm là 10$. Giá bán mỗi sản phẩm trên thị trường là 30$. Vậy doanh nghiệp đạt điểm hòa vốn tại mức sản lượng là:Q = 10 000 / ( 30 - 10) = 5 000 ( bóng đèn)

Inventory Cycle / Chu Kỳ Hàng Tồn Kho

Những dao động của mức sản lượng do những thay đổi của lượng tồn kho.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55