Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Diversifier / Người Đầu Tư Đa Dạng

Một nhà đâu tư giữ một phần của cải của mình dưới dạng tiền và phần còn lại là công trái hợp nhất.

Diversification / Đa Dạng Hoá

Hoặc có nhiều ngành trong một khu vực hoặc có một loạt sản phẩm do một hãng bán ra.

International Wheat Council / Hội Đồng Lúa Mỳ Quốc Tế

Một tổ chức hành hoá quốc tế được thành lập năm 1979 theo Hiệp định về lúa mỳ Quốc tế lần thứ nhất nhằm điều hành Công ước Buôn bán lúa mỳ theo Hiệp định về lúa mì quốc tế năm 1971.

Little – Mirrlees Method / Phương Pháp Little – Mirrlees

Một kỹ thuật đánh giá dự án trong cách ước đang phát triển đã được người ta chú ý rộng rãi. Các tác giả nhấn mạnh vào sự méo mó cả trong sản phẩm và thị trường yếu tố sản xuất là điểm khởi đầu cho phương pháp luận của mình. Phương pháp của họ thực chất là Phân tích chi phí – lợi ích trong đó người ta điều chỉnh theo giá cả yếu tố sản xuất và sản phẩm cũng như lãi suất. Gía trị chuẩn của họ là thu nhập không cam kết xã hội trong tay của chính phủ và được tính bằng ngoại tệ chuyển đổi. Họ lý luận rằng toàn bộ chi phí và lợi ích của dự án có tác động đối với cán cân thanh toán và cho rằng các giá trị ngoại hối có khả năng phản ánh đúng hơn các chi phí và lợi ích xã hội tương đối của các hàng hóa và dịch vụ khác nhau ở nước đang phát triển. Các tác giả cũng lý luận rằng thêm một đơn vị tiêu dùng thì kém giá trị hơn so với thêm một đơn vị đầu tư. Tiêu dùng thêm từ một dự án, tuy nhiên, có giá trị xã hội nhất định, tiêu dùng thêm này phải được đánh giá theo giá trị chuẩn. Bởi vì tiết kiệm ít hơn mức tối ưu xã hội nên thêm một đơn vị thu nhập được cho là có giá trị hơn so với thêm một đơn vị tiêu dùng cá nhân. Giá mờ của lao động sử dụng trong đánh giá dự án được tính toán theo các ý tưởng này. Nó tương đương sản phẩm biên của lao động trong nghề thay thế của nó cộng với chi phí xã hội của việc cung cấp cho tiêu dùng thêm của người công nhân sử dụng (có thể) ở mức lương cao hơn nhiều trừ đi lợi ích được đo bằng thu nhập xã hội của tiêu dùng thêm đó. Trong phân tích khác, Little – Mirrlees sử dụng khái niệm lãi suất kế toán và lãi suất tiêu dùng. Lãi suất kế toán là tỷ lệ mà tại đó giá trị thu nhập của chính phủ giảm theo thời gian. Độ lớn của nó phụ thuộc vào tỷ suất lợi tức xã hội trên các dự án công cộng tăng thêm, phần được tiết kiệm trong lương của thu nhập chính phủ so với tiêu dùng cá nhân. Việc xác định yếu tố cuối cùng cần phải có thông tin về lãi suất tiêu dùng. Đây là lãi suất mà tiêu dùng tương lai cần có để chiết khấu nhằm để nó bằng mức tiêu dùng hiện tại. Trong việc đánh giá đầu ra và đầu vào, Little – Mirrlees phân chia hàng háo thành hàng hóa được buôn bán và không được buôn bán. Hàng hóa được buôn bán bao gồm những hàng hóa sẽ được xuất hoặc nhập khẩu nếu như quốc gia đó cóa chính sách buôn bán hợp lý, và hàng hóa không được buôn bán là hàng hóa sẽ không tham gia vào thương mai của thế giới ngay cả khi không có hạn chế đối với thương mại. Hàng hóa được buôn bán được bán với giá trên thế giới hay ở biên giới với việc hàng hóa xuất khẩu được định giá theo FOB và hàng nhập khẩu theo giá CIF. Hàng hóa không được buôn bán được chia nhỏ thành các yếu tố cấu thành (như được buôn bán, không được buôn bán, lao động và ngoại hối). Cuối cùng bằng việc đánh giá đầu vào (cà đầu vào chuyển thành các đầu vào khác) người ta có thể tìm ra chi phí tính bằng lao động và ngoại hối. Lao động được định giá tính theo mức tiền lương bóng tính bằng ngoại hối. Người ta đã phê bình phương pháp này của Little và Mirrlees. Một số nhà kinh tế cho rằng giá trị trong nước là các chỉ số tốt hơn về CHI PHÍ CƠ HỘI so với giá trị ngoại hối. Tương tự, nếu có sự dư thừa công suất trong một ngành nào đó thì việc tăng cầu đối với một sản phẩm nào có liên quan có thể không ảnh hưởng đến cán cân thương mại. Người ta lý luận rằng sẽ không logic nếu nói rằng chỉ tăng tiêu dùng cá nhân thì không có giá trị bằng đầu tư và tiết kiệm. Người ta cũng lý luận rằng cải thiện phúc lợi có thể được tiến hành nếu giảm tiêu dùng hiện tại và tăng đầu tư.

International Trade Organization / Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế - ITO

Hội nghị Bretton Woods vào năm 1944 đã đề xuất thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) nhằm thiết lập các quy tắc và luật lệ cho thương mại giữa các nước. Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Việc làm tại Havana tháng 3 năm 1948. Tuy nhiên, Thượng nghị viện Hoa Kì đã không phê chuẩn hiến chương này. Một số nhà sử học cho rằng sự thất bại đó bắt nguồn từ việc giới doanh nghiệp Hoa Kì lo ngại rằng Tổ chức Thương mại Quốc tế có thể được sử dụng để kiểm soát chứ không phải đem lại tự do hoạt động cho các doanh nghiệp lớn của Hoa Kì (Lisa Wilkins, 1997). ITO chết yểu, nhưng hiệp định mà ITO định dựa vào đó để điều chỉnh thương mại quốc tế vẫn tồn tại. Đó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). GATT đóng vai trò là khung pháp lí chủ yếu của hệ thống thương mại đa phương trong suốt gần 50 năm sau đó. Các nước tham gia GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán, kí kết thêm nhiều thỏa ước thương mại mới. Vòng đám phán thứ tám, Vòng đàm phán Uruguay, kết thúc vào năm 1994 với sự thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thế cho GATT. Các nguyên tắc và các hiệp định của GATT được WTO kế thừa, quản lý, và mở rộng. Không giống như GATT chỉ có tính chất của một hiệp ước, WTO là một tổ chức, có cơ cấu tổ chức hoạt động cụ thể. WTO chính thức được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995.

Little - Mirrlees Method / Phương Pháp Little - Mirrlees

Một kỹ thuật đánh giá dự án trong các NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN đã được chú ý rộng rãi.

Dividend Paying Agent / Nhân Viên Chi Trả Cổ Tức

Divend Paying Agent có nghĩ là: Nhân viên chi trả cổ tức. Thuật ngữ này dùng để chỉ nhân viên công ty, thường là ngân hàng thương mại được chỉ định chịu trách nhiệm chi trả cổ tức hàng quý cho cổ đông có tên trong danh sách. Người này có thể hoặc không thể giống như nhân viên chuyển giao (Transfer Agent) là người theo dõi thu hồi và phát hành chứng khoán mới.

Cartel / Các-Ten

Các-ten (Cartel) là khái niệm chỉ một tổ chức các thành viên tự nguyện liên kết theo phương thức cam kết đồng thuận. Các-ten thường sinh ra do một mục tiêu chung là tập hợp các tổ chức và đối tượng cùng ngành nghề để có thể khống chế thị trường bằng quyền lực kinh tế do các thành viên các-ten mang lại. Nguyên tắc của các-ten là đồng thuận và phân chia hợp lý lợi ích kinh tế. Hai yếu tố chính của thị trường mà các-ten thường xuyên tìm cách tác động lên là giá và số lượng. Một trong những các-ten rất nổi tiếng có thể lấy làm ví dụ là OPEC, Tổ chức các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ. Các-ten này thường họp lại mỗi khi có biến động giá cả dầu mỏ lớn trên các thị trường thế giới để quyết định các nước thành viên OPEC liệu sẽ tăng hay giảm sản lượng khai thác và xuất khẩu để điều chỉnh giá trên thị trường toàn cầu. Để làm được việc này, tổng trữ lượng có thể khai thác và xuất khẩu của các-ten OPEC chiếm tới trên 60% sản lượng toàn cầu, tạo ra một sức mạnh mặc cả và đàm phán đáng kể với các quốc gia tiêu thụ nhiều dầu mỏ, thường là các nước công nghiệp phát triển giàu có. Thoả thuận chính thức giữa các hãng trong một thị trường độc quyền nhóm để kết hợp các thủ tục đã được thống nhất về các biến như giá cả và sản lượng. Xem OLIGOPOLY.

Listed Security / Chứng Khoán Niêm Yết

Chứng khoán đã được phê duyệt cho những mục đích kinh doanh bằng sự trao đổi được công nhận và điều chỉnh.Chứng khoán niêm yết có lợi thế về khả năng thanh toán cao trong một môi trường điều hòa. Thêm vào đó, các nhà đầu tư có thể tìm kiếm những thông tin chính xác về tất cả các công ký đã đăng ký.Tại Mỹ, những chứng khoán này phải được công nhận mua bán bởi một trong các sàn giao dịch có tổ chức và đăng kí,  các sàn giao dịch này liệt kê hơn 6.000 loại chứng khoán của khoảng 3.500 công ty. Nhìn chung, chứng khoán được niêm yết có những lợi thế sau: 1. Thị trường trật tự.2. Khả năng thanh toán bằng tiền mặt cao.3. Giá được ấn định công bằng hợp lý.4. Doanh số bán và báo giá được báo cáo liên tục và chính xác.5. Thông tin về các công ty được liệt kê đầy đủ.6. Luật lệ nghiêm ngặt bảo vệ sở hữu chủ chứng khoán.Mỗi thị trường có quy định liệt kê riêng, trong đó quy định của NYSE (NewYork Stock Exchange) là chặt chẽ nhất. Chứng khoán liệt kê bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, trái phiếu khả hoán, cổ phiếu ưu đãi, chứng khế, chứng quyền và các hợp đồng quyền chọn, tuy nhiên không phải hình thức nào của chứng khoán cũng được chấp nhận trên tất cả các thị trường. Các chứng khoán không liệt kê được mua bán trên thị trường OTC (Over-the-counter market).

International Trade / Thương Mại Quốc Tế

Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ xuyên qua biên giới quyết gia và vùng lãnh thổ. Ở hầu hết các nước, thương mại quốc tế chiếm một phần lớn trong GDP. Trong khi thương mại quốc tế đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử (như Con đường tơ lụa, hay Con đường Hổ phách), tầm quan trọng trong kinh tế, xã hội, và chính trị của thương mại quốc tế mới chỉ dấy lên trong những thế kỉ gần đây. Cách mạng công nghiệp, giao thông phát triển, toàn cầu hóa, các công ty đa quốc gia, và thuê ngoài là những nhân tố ảnh hưởng lớn. Sự tăng cường trong thương mại quốc tế là một nhân tố cơ bản dẫn tới toàn cầu hóa. Thương mại quốc tế cũng là một nhánh của kinh tế học, cùng với tài chính quốc tế, hình thành nên một nhánh lớn hơn của kinh tế học quốc tế. Thông thường thương mại được điều chỉnh bởi các hiệp định thương mại song phương giữa hai quốc gia. Trong hàng thế kỉ dưới thời đại của Chủ nghĩa trọng thương, hầu hết các quốc gia có thuế quan cao và đưa ra rất nhiều giới hạn trong thương mại quốc tế. Vào thế kỉ thứ 19, đặc biệt là ở Anh, niềm tin vào thương mại tự do trở nên đỉnh điểm. Niềm tin này bao trùm quan niệm của thế giới Phương Tây khi đó bất kể những bằng chứng rằng việc lựa chọn chính sách thương mại kiểu này đã nhân tố kết hợp đưa đến sự suy thoái của Anh. Trong những năm sau Chiến tranh thế giới thứ II, những hiệp ước đa phương mang nhiều tranh cãi như GATT và WTO đã cố gắng tạo ra một cơ cấu thương mại được điều chỉnh trên toàn cầu. Những hiệp ước này thường gây ra phản ứng và bất bình bởi những quan điểm cho rằng đó là thương mại bất bình đẳng và không tạo ra lợi ích đôi bên. Thương mại tự do thường được ủng hộ mạnh mẽ bởi những cường quốc về kinh tế, thông qua việc lựa chọn chế độ bảo vệ các ngành công nghiệp chiến lược như thuế quan bảo vệ áp dụng cho nông nghiệp ở Mỹ và Châu Âu. Hà Lan, Anh là những nước ủng hộ thương mại tự do ở thời kì nổi lên trước kia, ngày nay Mỹ, Anh, Australia, và Nhật Bản là những nước ủng hộ mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, rất nhiều nước khác (như Ấn Độ, Trung Quốc, và Nga) đang ngày càng trở nên tích cực ủng hộ thương mại tự do hơn bởi vì nền kinh tế của họ ngày càng mạnh. Khi các mức thuế quan giảm, các nền kinh tế lại bằng lòng ngồi thương thuyết cùng nhau để bàn về cắt giảm thuế quan, bao gồm cả đầu tư trực tiếp nước ngoài, thuận lợi hóa thương mại và thu mua hàng hóa.

Listed Securities / Các Chứng Khoán Yết Giá

Tên chỉ các chứng khoán được buôn bán trên sở giao dịch chứng khoán Anh quốc.

Liquitidy Trap / Bẫy Thanh Khoản

Tình huống mà trong đó việc tăng cung tiền không dẫn tới việc giảm lãi suất mà đơn thuần chỉ dẫn đến việc tăng số dư tiền nhàn rỗi; độ co giãn cầu về tiền đối với lãi suất trở thành vô hạn. Trong những điều kiện thông thường, tăng cung tiền, dẫn tới tăng số dư tiền mặt, sẽ làm tăng giá trái phiếu, vì các cá nhân thường dùng tiền mua tài sản, dẫn tới việc giảm lãi suất tương ứng. Trong tình huống mà Keynes miêu tả là bẫy thanh khoản, các cá nhân cho rằng giá trái phiếu quá cao và do đó sẽ giảm, và như vậy lãi suất quá thấp và buộc phải tăng. Do vậy, họ cho rằng mua trái phiếu sẽ là chuốc lấy sự lỗ vốn nên họ chỉ giữ tiền mà thôi. Từ đó, việc tăng cung về tiền đơn thuần chỉ tăng số dư tiền nhàn rỗi và lãi suất thì không bị ảnh hưởng. Quan điểm của cá nhân về mức giá trái phiếu có thể đươc tóm tắt bằng quan điểm của họ về lãi suất. Thuyết của Keynes giả định rằng mỗi cá nhân có một quan điểm về lãi suất cân bằng dài hạn và có tồn tài một mức lãi suất ngưỡng, mà dưới mức đó thì các cá nhân sẽ chỉ giữ tiền và trên mức đó sẽ chỉ giữ trái phiếu. Rõ ràng nếu một người giữ tiền như khi họ bị rơi vào bẫy thanh khoản thì lãi suất hiện hành sẽ phải thấp hơn lãi suất thấp nhất trong dân chúng. Ảnh hưởng của bẫy thanh khoản là chính sách tiền tệ trở nên không hiệu quả trong những hoàn cảnh đó. Việc tăng cung tiền tệ sẽ không có ảnh hưởng gì đến lãi suất và dô vậy cũng không có ảnh hưởng gì đến đầu tư và tổng cầu. Ban đầu, khi Keynes đưa ra trong Lý thuyết tổng quát, điều này có vẻ là một tiêu chí quan trọng về tính hiệu quả của chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, trong thực tế không có bằng chứng cụ thể ủng hộ sự tồn tại của bẫy thanh khoản. Hơn nữa, trong khi giả thiết dựa vào quan điểm cho rằng kỳ vọng là lũy thoái thì nó không đưa ra thuyết về bằng cách nào mà chúng được tạo lập chính xác.

International Standard Industrial Classification / ISIC - Phân Loại Ngành Công Nghiệp Theo Tiêu Chuẩn Quốc Tế

Sự phân loại công nghiệp về các hoạt động kinh tế được đề ra nhằm tăng cường khả năng so sánh quốc tế của các số liệu thống kê do Liên hợp quốc tập hợp và xuất bản.

Liquility / Khả Năng Chuyển Hoán

Tính chất của tài sản "gần" tới mức mua tự do, TIỀN được định nghĩa là có khả năng chuyển hoán cao nhất.

International Payments System / Hệ Thống Thanh Toán Quốc Tế

Một cụm thuật ngữ chung chỉ cách thức tiến hành các giao dịch tài chính quốc tế, nghĩa là các thanh toán giữa công dân của các nước đang giữ các đồng nội tệ khác nhau.

Disturbance Term / Sai Số

Sai số trong một phương trình hồi quy (hay còn gọi là nhiễu ngẫu nhiên).

Liquidity Trap / Bẫy Tiền Mặt; Bẫy Thanh Khoản

Tình huống mà trong đó việc tăng cung tiền không dẫn tới việc giảm lãi suất mà đơn thuần chỉ dẫn đến việc tăng số dư tiền nhàn rỗi; độ co giãn cầu về tiền đối với lãi suất trở thành vô hạn.

Liquidity Ratio / Hệ Số Khả Năng Thanh Toán Nợ Ngắn Hạn

Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là năng lực về tài chính mà doanh nghiệp có được để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ cho các cá nhân, tổ chức có quan hệ cho doanh nghiệp vay hoặc nợ. Năng lực tài chính đó tồn tại dưới dạng tiền tệ (tiền mặt, tiền gửi …), các khoản phải thu từ các cá nhân mắc nợ doanh nghiệp, các tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền như: hàng hóa, thành phẩm, hàng gửi bán. Các khoản nợ của doanh nghiệp có thể là các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, khoản nợ tiền hàng do xuất phát từ quan hệ mua bán các yếu tố đầu vào hoặc sản phẩm hàng hóa doanh nghiệp phải trả cho người bán hoặc người mua đặt trước, các khoản thuế chưa nộp ngân hàng nhà nước, các khoản chưa trả lương. Với quan niệm khả năng thanh toán của doanh nghiệp như vậy, việc tính khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp theo công thức: Khả năng thanh toán ngắn hạn = Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn / Nợ ngắn hạn Theo công thức trên, khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ là tốt nếu tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn chuyển dịch theo xu hướng tăng lên và nợ ngắn hạn chuyển dịch theo xu hướng giảm xuống; hoặc đều chuyển dịch theo xu hướng cùng tăng nhưng tốc độ tăng của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn lớn hơn tốc độ tăng của nợ ngắn hạn; hoặc đều chuyển dịch theo xu hướng cùng giảm nhưng tốc độ giảm của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn nhỏ hơn tốc độ giảm của nợ ngắn hạn. Tuy nhiên ở đây xuất hiện mâu thuẫn: Thứ nhất, khả năng thanh toán của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp, không thể nói tình hình tài chính của doanh nghiệp là không tốt nếu khả năng thanh toán ngắn hạn lớn. Nhưng khả năng thanh toán ngắn hạn lớn có thể do: các khoản phải thu (tức nợ không đòi được hoặc không dùng để bù trừ được) vẫn còn lớn, hàng tồn kho lớn (tức nguyên vật liệu dự trữ quá lớn không dùng hết và hàng hóa, thành phẩm tồn kho không bán được không đối lưu được) tức là có thể có một lượng lớn Tài sản lưu động tồn trữ lớn, phản ánh việc sử dụng tài sản không hiệu quả, vì bộ phận này không vận động không sinh lời.. Và khi đó khả năng thanh toán của doanh nghiệp thực tế sẽ là không cao nếu không muốn nói là không có khả năng thanh toán. Thứ hai, tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn có thể được hình thành từ vốn vay dài hạn như tiền trả trước cho người bán; hoặc được hình thành từ nợ khác (như các khoản ký quỹ, ký cược …) hoặc được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu. Chính vì thế có thể vốn vay ngắn hạn của doanh nghiệp nhỏ nhưng nợ dài hạn và nợ khác lớn. Nếu lấy tổng tài sản lưu động chia cho nợ ngắn hạn để nói lên khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp thì chẳng khác gì kiểu dùng nợ để trả nợ vay. Chính vì vậy, không phải hệ số này càng lớn càng tốt. Tính hợp lý của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ngành nghề nào có tài sản lưu động chiếm tỷ trọng cao như Thương mại trong tổng tài sản thì hệ số này cao và ngược lại.

International Monetary Fund / Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế

Quỹ tiền tệ quốc tế (tiếng Anh là International Monetary Fund, viết tắt IMF) là một  tổ chức quốc tế giám sát hệ thống tài chính toàn cầu bằng theo dõi tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán, cũng như hỗ trợ kỹ thuật và giúp đỡ tài chính khi có yêu cầu. Quỹ tiền tệ quốc tế được thánh lập năm 1944 tại Bretton Woods. Ngày 27/12/1945, điều lệ thành lập IMF đã được 29 nước ký kết. Ngày 1/3/1947 IMF bắt đầu hoạt động và tiến hành cho vay khoản đầu tiên ngày 8/5/1947. Tổng số thành viên của IMF hiện nay là 184 quốc gia Tôn chỉ hoạt động: Thúc đẩy sự hợp tác tiền tệ quốc tế; tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng và tăng trưởng thương mại quốc tế một cách cân đối; tăng cường ổn định tỷ giá; hỗ trợ cho việc thành lập hệ thống thanh toán đa phương; cho các nước hội viên tạm thời sử dụng các nguồn vốn chung của Quỹ với những đảm bảo thích hợp; và rút ngắn thời gian và giảm bớt mức độ mất cân bằng trong cán cân thanh toán quốc tế của các nước hội viên.  Nguồn vốn của IMF: chủ yếu là vốn cổ phần của các nước thành viên và tích luỹ của IMF. Ban đầu, mức cổ phần đóng góp phụ thuộc vào tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu của nước đó so với kim ngạch xuất nhập khẩu của thế giới. Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, IMF cũng có thể vay vốn trên thị trường tài chính quốc tế để phục vụ cho các hoạt động của mình.   Cổ phần: Các nước thành viên có cổ phần lớn trong IMF là Mỹ (17,46%), Đức (6,11%), Nhật bản (6,26%), Anh (5,05%) và Pháp (5,05%).

Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Carry Trades / Đồng Tiền Quốc Gia Được Yêu Thích

Những đồng tiên quốc gia được yêu thích được goi là Carry Trades, trong đó các nhà đầu tư sử dụng tiền có chi phí đi vay thấp hơn và đầu tư vào đồng tiền có tỉ suất sinh lợi (tỉ suất lợi nhuận) lớn hơn, để kiếm chênh lệch giữa giá đi vay và giá cho vay. Nhưng rủi ro mà những đồng tiền giá rẻ đó đem lại có thể lấn át lợi nhuận.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55