Location Quotient / Thương Sị Trố Ví
Thước đo thống kê về mức chênh lệch mà một loạt hoạt động kinh tế cụ thể được đánh giá trong một vùng của nền kinh tế so với toàn bộ nền kinh tế nói chung.
Local Public Good / Hàng Hoá Công Cộng Địa Phương
Hàng hoá công cộng của một cộng đồng, chẳng hạn: hệ thống đèn đường.
Cash Flow Per Share / Dòng Tiền Trên Một Cổ Phiếu
Là một phép đo sức mạnh tài chính của doanh nghiệp, được tính bằng công thức: Dòng tiền trên một cổ phiếu = (Dòng tiền hoạt động - Cổ tức ưu đãi): cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trên thị trường. Rất nhiều nhà phân tích, bao gồm cả những nhà đầu tư vĩ đại nhất lịch sử đặt tầm quan trọng của dòng tiền trên một cổ phiếu lớn hơn thu nhập trên một cổ phiếu (P/E). Bởi vì chỉ số EPS rất dễ bị điều chỉnh nên mức độ tin cậy của nó có thể không được chắc chắn. Mặt khác, để điều chỉnh tiền mặt là rất khó nếu không nói là không thể. Bạn hoặc là có tiền hoặc là không. Vì vậy, chỉ số tiền mặt trên một cổ phiếu là một phép đo sức mạnh của doanh nghiệp và tính bền vững của mô hình kinh doanh.
Local Labour Market / Thị Trường Lao Động Địa Phương
Sự phân chia nhỏ theo địa lý của THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG chủ yếu là hậu quả của các chi phí về tâm lý và đặc biệt của việc đi lại nhiều để đến chỗ làm.
Local Finance / Tài Chính Địa Phương
Thu nhập và chi tiêu của chính quyền khu vực (địa phương).
Local Authorities' Market / Thị Trường Của Chính Quyền Địa Phương
THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ bán buôn ở London, gắn bó chặt chẽ với các thị trường công ty tài chính, tiền tệ Châu Âu và Liên ngân hàng, trong đó người ta cho các cơ quan chính quyền địa phương vay các khoản vay ngắn hạn, thông qua các công ty môi giới tiền tê.
Inventory / Hàng Tồn Kho
Hàng tồn kho bao gồm: Nguyên liệu đầu vào Hàng hoá đang trong quá trình sản xuất Hàng hoá thành phẩm Tất cả những thứ này được coi là hàng tồn kho và chiếm một phần lớn trong tỷ lệ tài sản kinh doanh của doanh nghiệp, bởi vì doanh thu từ hàng tồn kho là một trong những nguồn cơ bản tạo ra doanh thu và những khoản thu nhập thêm sau này cho doanh nghiệp. Đó là những tài sản đã sẵn sàng để đem ra bán hoặc sẽ được đem ra bán. Nếu để tồn hàng tồn kho quá lâu thì sẽ làm ảnh hưởng không tốt tới quá trình kinh doanh, bởi vì doanh nghiệp sẽ phải tốn chi phí dự trữ, chi phí thanh lý hay cải tiến hàng bị lỗi thời, và thanh lý hàng hư hỏng. Tuy nhiên, việc không dự trữ đủ hàng tồn kho cũng là một rủi ro bởi vì doanh nghiệp có khả năng đánh mất những khoản doanh thu bán hàng tiền năng hoặc thị phần nếu sau này giá lên cao mà doanh nghiệp không còn hàng để bán. Trong kế toán để tính toán giá trị của hàng tồn kho người ta hay sử dụng hai phương pháp là LIFO (last in, first out)-vào sau tính trước; và FIFO (first in, first out)-vào trước tính trước.
Branding / Xây Dựng Thương Hiệu
Xây dựng thương hiệu là quá trình lựa chọn và kết hợp các thuộc tính hữu hình cũng như vô hình với mục đích để khác biệt hóa sản phẩm, dịch vụ hoặc tập đoàn một cách thức thú vị, có ý nghĩa và hấp dẫn. Để có thể xây dựng thương hiệu phát triển bền vững trong dài hạn, các doanh nghiệp có thể tham khảo năm bước sau: (1) Xác định cấu trúc nền móng thương hiệu; (2) Định vị thương hiệu; (3) Xây dựng chiến lược thương hiệu; (4) Xây dựng chiến lược truyền thông; (5) Đo lường và hiệu chỉnh. Bước 1: Xác định cấu trúc nền móng của thương hiệu.Đây là bước quan trọng nhất của việc xây dựng thương hiệu vì nếu xây dựng sai lầm nền móng thì khó có thể điều chỉnh sau này. Các chất liệu cơ bản để xây dựng nền móng bao gồm: Các nhận biết cơ bản của thương hiệu: là logo, màu sắc, đặc điểm nhận dạng giúp thương hiệu đó khác biệt với thương hiệu khác. Các lợi ích thương hiệu: là lợi ích thực tính lợi ích cảm tính và lợi ích cảm xúc của thương hiệu đó mang lại cho người tiêu dùng. Niềm tin thương hiệu-niềm tin nào chứng tỏ rằng thương hiệu sẽ mang lại lợi ích cho người dùng. Tính cách thương hiệu: Nếu thương hiệu đó biến thành người thì người đó sẽ như thế nào, tính cách người đó ra sao? Tinh chất thương hiệu là tóm tắt yếu tố tạo sự khác biệt và đặc trưng, thường được sử như câu slogan của thương hiệu Bước 2: Định vị thương hiệu Xác định vị trí của thương hiệu trong “não” của người tiêu dùng (người tiêu dùng sẽ nhớ gì về thương hiệu đó). Tại sao phải định vị? Hàng ngày hàng giờ, người tiêu dùng tiếp nhận hàng núi thông tin, quá tải với trí nhớ của họ nên không thể nhớ được hết các thông tin thu nhận. Họ chỉ có thể nhớ những gì rõ ràng, đơn giản và khác biệt. Nếu thương hiệu không được xác định rõ nằm ở đâu trong não người dùng thì họ không bao giờ nhớ được thương hiệu đó. Định vị thương hiệu nhằm truyền thông tinh chất của thương hiệu một cách đồng nhất trên mọi phương tiện truyền thông từ đó xây dựng tài sản của thương hiệu Bước 3: Xây dựng chiến lược thương hiệu Sau khi đã định vị được thương hiệu, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược thương hiệu trong dài hạn (3 năm trở lên)bao gồm: Mục tiêu của thương hiệu trong từng năm Mức chi tiêu cho khuếch trương thương hiệu trong từng năm. Kế hoạch tung sản phẩm mới theo từng năm. …vv Bước 4: Xây dựng chiến dịch truyền thông Sau khi đồng ý chiến lược về thương hiệu, người quản lý thương hiệu dựa trên ngân sách của năm thứ nhất để lên kế hoạch truyền thông cho cả năm. Kế hoạch bao gồm tháng nào tiêu bao nhiêu tiền, quảng cáo thông điệp nào, trên các kênh nào…vv. Bước 5: Đo lường và hiệu chỉnh kế hoạch truyền thông Sau mỗi giai đoạn truyền thông, cần có sự đo lường hiệu quả của chiến dịch truyền thông để có sự hiệu chỉnh kịp thời. Các thông tin thường phải được thu thập bao gồm: Có bao nhiêu % người biết thương hiệu? Họ nhớ được những yếu tố nào của thương hiệu đó? Họ có mối liên hệ/nhận xét về thương hiệu đó thế nào? Có bao nhiêu % người dùng thử thương hiệu đó? Có bao nhiêu % người tiếp tục dùng sau lần dùng thử? Có bao nhiêu % người giới thiệu cho người khác về thương hiệu?
Loanable Funds / Các Quỹ Có Thể Cho Vay
Cụm thuật ngữ này có ý nghĩa là các khoản tiền sẵn có để cho vay trên thị trường tài chính, nhưng thường nó nảy sinh trong văn cảnh lý thuyết lãi suất.
Inventories / Hàng Tồn Kho, Dữ Trữ
Dự trữ hay mức duy trì hành hoá của các doanh nghiệp để đáp ứng những dao động thất thường tạm thời trong sản xuất hay kinh doanh.
Cash Flow / Lưu Chuyển Tiền Mặt, Dòng Tiền
Ngân hàng: 1. Tiền mặt sẵn có của một công ty từ các hoạt động kinh doanh và đầu tư. Dòng tiền mặt dương cho thấy thu nhập kinh doanh ròng đủ để trang trải các chi phí, trong khi dòng tiền mặt âm nghĩa là các chi phí đang tăng nhanh hơn thu nhập. Những bên cho vay, khi cho doanh nghiệp vay, đầu tiên thường chú ý đến dòng tiền mặt từ các hoạt động kinh doanh, xem xét tài sản thế chấp của người vay, là cơ sở chủ yếu để thanh toán tiền vay. 2. Lưu chuyển tiền thông qua một ngân hàng, là số đo lường quan trọng khả năng thanh khoản tổng thể, hay khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng. Nó thường được tóm tắt trong báo cáo lưu chuyển tiền mặt, thể hiện các nguồn quỹ của ngân hàng (hầu hết là tiền gửi) và việc sử dụng quỹ (hầu hết là cho vay) Xem CASH POSITION. 3. Dòng thanh toán gốc và lãi khi người vay trả dần các khoản vay tiêu dùng và các khoản vay cầm cố bằng các trái phiếu được đảm bảo bằng cầm cố và chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản.
Ngân hàng: 1. Tiền mặt sẵn có của một công ty từ các hoạt động kinh doanh và đầu tư. Dòng tiền mặt dương cho thấy thu nhập kinh doanh ròng đủ để trang trải các chi phí, trong khi dòng tiền mặt âm nghĩa là các chi phí đang tăng nhanh hơn thu nhập. Những bên cho vay, khi cho doanh nghiệp vay, đầu tiên thường chú ý đến dòng tiền mặt từ các hoạt động kinh doanh, xem xét tài sản thế chấp của người vay, là cơ sở chủ yếu để thanh toán tiền vay. 2. Lưu chuyển tiền thông qua một ngân hàng, là số đo lường quan trọng khả năng thanh khoản tổng thể, hay khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng. Nó thường được tóm tắt trong báo cáo lưu chuyển tiền mặt, thể hiện các nguồn quỹ của ngân hàng (hầu hết là tiền gửi) và việc sử dụng quỹ (hầu hết là cho vay) Xem CASH POSITION. 3. Dòng thanh toán gốc và lãi khi những người vay trả dần các khoản vay tiêu dùng và các khoản vay cầm cố bằng trái phiếu được đảm bảo bằng cầm cố và chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản.
Ngân hàng: 1. Tiền mặt sẵn có của một công ty từ các hoạt động kinh doanh và đầu tư. Dòng tiền mặt dương cho thấy thu nhập kinh doanh ròng đủ để trang trải các chi phí, trong khi dòng tiền mặ âm nghĩa là các chi phí đang tăng nhanh hơn thu nhập. Những bên cho vay, khi cho doanh nghiệp vay, đầu tiên thường chú ý đến dòng tiền mặt từ các hoạt động kinh doanh, xem xét tài sản thế chấp của người vay, là cơ sở chủ yếu để thanh toán tiền vay. 2. Lưu chuyển tiền thông qua một ngân hàng, là số đo lường quan trọng khả năng thanh khoản tổng thể, hay khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng. Nó thường được tóm tắt trong báo cáo lưu chuyển tiền mặt, thể hiện các nguồn quỹ của ngân hàng, hầy hết là tiền gửi, và việc sử dụng quỹ (hầu hết là cho vay) Xem CASH POSITION. 3. Dòng thanh toán gốc và lãi khi những người vay trả dần các khoản vay tiêu dùng và các khoản vầm cố bằng trái phiếu được đảm bảo bằng cầm cố và chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản.
Loan To Value Ratio / Tỷ Số Khoản Cho Vay So Giá Trị
Quan hệ, được thể hiện bằng phần trăm, giữa số tiền gốc của khoản cho vay và giá trị thẩm định của tài sản bảo đảm cho khoản tài trợ. Trong khoản cho vay thế chấp nhà ở, thì đây là giá trị phần trăm của tài sản mà bên cho vay sẵn sàng tài trợ với thể chấp. Ví dụ, thế chấp 160.000 USD trên ngôi nhà 200.000 USD có tỷ lệ khoản vay so giá trị là 80%. Bên cho vay thường quy định các giới hạn trên đối với những khoản vay mà họ sẵn sàng thực hiện, và có thể yêu cầu bên vay thực hiện các thế chấp xấp xỉ giá trị thẩm định của tài sản- thường là các khoản vay thế chấp có tỷ lệ khoản vay so giá trị trên 80% - để thực hiện bảo hiểm thế chấp tư nhân như bảo hiểm bổ sung.
Loan Syndication/ Syndicated Loan / Hợp Vốn Vay
Hợp vốn vay là một khoản cho vay lớn mà một nhóm các ngân hàng kết hợp lại với nhau để cho một người vay. Thông thường có 1 ngân hàng đứng đầu sử dụng vốn cho vay và tổ chức cách thức làm việc với các ngân hàng còn lại. Vốn vay theo hình thức này là vốn giữa 2 bên, chỉ có một người vay và một người cho vay. Loan syndication phần lớn được sử dụng trong những tổ chức cho vay rất lớn, việc liên kết với nhau cho phép một tổ chức có thể cung cấp một khoản vay lớn mà vẫn đảm bảo và kiểm soát được nguồn tín dụng cho vay và chia sẻ rủi ro giữa các ngân hàng, bởi vì số tiền đó là của nhiều ngân hàng gộp lại. Các tổ chức hợp vốn vay lớn nhất ở Mỹ năm 2006 Name Market share JP Morgan 28.9% Banc of America Securities LLC 21.4% Citigroup 14.7% Wachovia 5.6% Wells Fargo 4.8% Deutsche Bank AG 3.4% Royal Bank of Scotland Group 2.1% Goldman Sachs & Co 2.0% Merrill Lynch 1.9% Barclays Capital 1.8% Credit Suisse 1.8%
Cash Crops / Nông Sản Thương Mại; Hoa Màu Hàng Hoá/ Hoa Màu Thương Mại
Cụm thuật ngữ này để chỉ các loại hoa màu được nông dân trồng để bán trên thị trường chứ không phải để tiêu dùng trực tiếp CHO CÁC MỤC ĐÍCH TỰ CUNG TỰ CẤP.
Brand Vision / Tầm Nhìn Thương Hiệu
Tầm nhìn thương hiệu gợi ra một định hướng cho tương lai, một khát vọng của một thương hiệu về những điều mà nó muốn đạt tới.Khi đề cập đến một ý định, một mục đích mang tính chiến lược, chúng ta thường hay hình tượng hóa nó bằng một hình ảnh của tương lai. Tầm nhìn bao hàm ý nghĩa của một tiêu chuẩn tuyệt hảo, một điều lý tưởng. Nó mang tính lựa chọn một trong những giá trị tuyệt vời nhất của một thương hiệu. Tầm nhìn còn có tính chất của một sự độc đáo, nó ám chỉ đển việc tạo ra một điều gì đó đặc biệt.Tầm nhìn thương hiệu là một thông điệp ngắn gọn và xuyên suốt định hướng hoạt động đường dài cho một thương hiệu. Vai trò của tầm nhìn giống như một thấu kính hội tụ tất cả sức mạnh của một thương hiệu vào một điểm chung. Doanh nghiệp thông qua tầm nhìn sẽ định hướng được việc cần và không cần làm của một thương hiệu. Tầm nhìn thương hiệu là trọng tâm của một chiến lược thương hiệu. Khi đã có một tầm nhìn cho tương lai của một thương hiệu, trách nhiệm của nhà lãnh đạo là phải truyền tải tầm nhìn này đến mọi thành viên của tổ chức, biến nó thành một tầm nhìn chung được chia sẻ bởi tất cả mọi người, hội đủ các tiêu chuẩn: Thống nhất một mục tiêu xuyên suốt của công ty ở mọi cấp Tạo sự nhất quán trong việc lãnh đạo Động viên tinh thần nhân viên và quản lý Định hướng sử dụng nguồn tài nguyên Tạo tiền đề cho việc xây dựng mục tiêu và chỉ tiêu trong cùng một định hướng.
Intra-Firm Trade / Thương Mại Nội Bộ Công Ty
Thương mại nội bộ công ty là giao dịch giữa công ty con và công ty mẹ hoặc giao dịch giữa các công ty con thuộc cùng một công ty mẹ với nhau (công ty mẹ ở đây chủ yếu là các công ty đa quốc gia lớn). Theo báo cáo đầu tư thế giới năm 1995, tổng số các công ty mẹ và công ty con chiếm 2/3 tổng thương mại thế giới về hàng hóa và dịch vụ, 1/3 là thương mại trong nội bộ công ty, và 1/3 là thương mại giữa công ty và tổ chức bên ngoài. Tỷ lệ này là không đổi trong những năm 1990. Theo UNCTAD năm 2006 trên thế giới có tổng số 77 000 công ty mẹ và 770 000 công ty con, chiếm 2/3 tổng xuất khẩu thế giới, và 1/3 thương mại thế giới là giữa nội bộ công ty.
Loan Stock / Cổ Phiếu Vay Nợ
Cổ phiếu vay nợ là một loại chứng khoán có lãi suất cố định, hay là một khoản nợ của công ty với người nắm giữ cổ phiếu. Thông thường người nắm giữ các cổ phiếu loại này là các chủ nợ của công ty và họ không có quyền tham gia vào hoạt động quản lý điều hành. Xét trên thị trường chứng khoán quốc tế, có hai loại chứng khoán có lãi suất cố định đó là trái phiếu và cổ phiếu vay nợ. Cổ phiếu vay nợ được phát hành với mục đích vay nợ. Có hai loại cổ phiếu vay nợ. Loại thứ nhất là chứng khoán vay nợ không được đảm bảo, tức là công ty sẽ vay nợ thông qua cổ phiếu này mà không cần có một sự đảm bảo nào về việc sẽ thanh toán trong tương lai. Nói cách khác, nếu công ty không có khả năng trả nợ thì các chủ nợ cũng sẽ không có quyền đòi công ty thanh lý bằng tài sản. Vì vậy cổ phiếu vay nợ không đảm bảo là một dạng cổ phiếu tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với các nhà đầu tư. Loại cổ phiếu vay nợ thứ hai là cổ phiếu vay nợ chuyển đổi. Ưu điểm của loại cổ phiếu này đối với công ty phát hành đó là nó có mức lãi suất tương đối thấp. Đổi lại các chủ nợ có thể chuyển đổi cổ phiếu vay nợ thành cổ phiếu thông thường của công ty. Hợp đồng vay nợ giữa công ty và chủ nợ sẽ được định sẵn các điều khoản và thời gian chuyển đổi. Trái phiếu, một trong hai loại chứng khoán có lãi suất cố định, khác cổ phiếu vay nợ ở chỗ nó là một khoản nợ có sự đảm bảo. Tuy nhiên cách thức một trái phiếu được đảm bảo thì khác xa so với việc một cá nhân hay một thực thể dùng tài sản của mình để thế chấp. Trong trường hợp thế chấp, một tài sản cụ thể của người đi vay sẽ được giao cho chủ nợ, do đó họ có thể bán hay thanh lý nếu như người đó không có khả năng trả nợ. Còn đối với trái phiếu, khoản nợ này cũng sẽ được đảm bảo nhưng không chặt chẽ bằng vì không có tài sản nào được đưa ra để thế chấp. Nếu như công ty không có khả năng trả nợ, các chủ nợ có quyền bán một phần hoặc toàn bộ tài sản của công ty như đã cam kết để thu hồi tiền của mình. Trái phiếu có lợi hơn ở chỗ nó cho phép công ty vay nợ nhưng vẫn được sử dụng tài sản của mình cho các hoạt động khác.
Intrade / Thị Trường Mua Bán Dựa Vào Các Sự Kiện Tương Lai
Intrade là thị trường giao dịch mà ở đó người ta mua bán các sự kiện chính trị, tài chính và hiện tại chứ không phải là cổ phiếu. Intrade thuộc lĩnh vực tin tức vì các kết quả của hệ thống giao dịch này là căn cứ khá vững vàng để biết được kết quả của các sự kiện như bầu cử hay tiến cử bổ nhiệm. Intrade cung cấp một hệ thống Internet để qua đó mọi người có thể mua bán các khế ước hoặc hợp đồng. Các khế ước hay hợp đồng này được thiết lập dựa vào khả năng một sự kiện có xảy ra hay không. Hiện nay Intrade thu mức phí là 4 cent từ mỗi hợp đồng được mua bán. Hệ thống này hoạt động như thế nào: Khả năng một sự kiện sẽ xảy ra được biểu diễn bằng điểm. Mỗi hợp đồng có giá trị 100 điểm nếu như sự kiện đó xảy ra. Hợp đồng có giá trị bằng 0 nếu như sự kiện đó không xảy ra trong khoảng thời gian đã thỏa thuận trong hợp đồng. Mỗi điểm có giá trị tương đương với 10 cents. Một ví dụ là tình trạng pháp lý hiện tại của ông I. Lewis Libby, nguyên chánh văn phòng của Phó tổng thống Dick Cheney. Người ta bắt đầu mua bán hợp đồng về ngài Libby từ ngày 14 tháng 10. Các hợp đồng này tuyên bố rằng các cáo buộc hình sự chống lại ông ta sẽ được đưa ra vào ngày hoặc trước ngày 31 tháng 12 trong năm nay. Website Intrade cho thấy những người mua bán bắt đầu bán ra hợp đồng ở mức khoảng 50 điểm, tức là khoảng 5 đô-la. Mức giá này đã nhanh chóng nhảy vọt lên gần 90 điểm trước khi đột ngột hạ xuống còn hơn 60 điểm một chút vào ngày 17 tháng 10. 10 ngày sau, hợp đồng này đã vượt qua mức 80 điểm. Ngày 28 tháng 10, một luật sư đặc biệt của chính phủ tuyên bố các cáo buộc hình sự chống lại ông Libby vì ông ta đã lừa dối các quan chức chính phủ. [Vào ngày thứ Năm, ông Libby đã xuất hiện trước một vị thẩm phán và nói rằng ông ta vô tội] Do đó tất cả các hợp đồng đều có giá trị là 100 điểm, tức là 10 đô-la. Những người đã mua các hợp đồng này với mức 80 điểm, tức là 8 đô-la, đã lời 2 đô-la. Những người bán các hợp đồng này trước đây với mức giá là 80 điểm đã cá cược rằng ông Libby sẽ không bị buộc tội. Họ mất 2 đô-la. Mặc dù họ kiếm được 8 đô-la khi bán hợp đồng, nhưng họ vẫn phải trả 10 đô-la cho người đã mua hợp đồng của họ. Nguồn: VOA Special English Economics Report
Cash Cow / Cash Cow
Theo Wikipedia, Cash Cow dùng để chỉ hoạt động kinh doanh mà biên lợi nhuận (profit margins) rất lớn, vượt quá mức cần thiết để duy trì trạng thái kinh doanh ổn định.Cash cow dùng để chỉ một doanh nghiệp tạo được nguồn tiền vào ổn định và có thể dự đoán trước được. Một doanh nghiệp như vậy thường có tên hiệu lâu đời và được người tiêu dùng thừa nhận. Cổ phiếu của những doanh nghiệp này có mức cổ tức đáng tin cậy.Thuật ngữ Cash Cow được sử dụng trong mô hình của nhóm tư vấn BCG (Boston Consulting Group) dùng để chỉ hoạt động kinh doanh diễn ra trên một thị trường có mức tăng trưởng thấp hoặc đã có dấu hiệu chững lại. Nhưng doanh nghiệp lại có lợi thế cạnh tranh thể hiện qua thị phần tương lại tương đối cao, những hoạt động của doanh nghiệp đòi hỏi ít vốn đầu tư và tiếp tục sản sinh ra nhiều lợi nhuận.
Dividend Payout Ratio / Tỷ Lệ Trả Cổ Tức
Trên thực tế, các doanh nghiệp có quyền tự quyết định chính sách cổ tức trong từng thời kỳ, bởi vậy nên có tỷ lệ trả cổ tức cao thấp khác nhau giữa các doanh nghiệp hoặc không trả cổ tức. Lý do là bởi, các doanh nghiệp lớn - nhóm cổ phiếu blue chip khi đã tăng trưởng đủ mạnh và trở thành những đơn vị đầu ngành thì bắt đầu tăng trưởng chậm lại và có xu hướng giữ nguyên quy mô nên thường có tỷ lệ trả cổ tức ổn định; Đối với các đơn vị trả cổ tức thấp thường có quy mô trung bình và nhỏ, có tiềm năng phát triển mở rộng, các nhà đầu tư hy vọng sau thời điểm có dự án đầu tư tốt, doanh nghiệp này sẽ tái đầu tư thu nhập mở rộng các dự án có suất sinh lời cao hơn và họ được lợi từ cổ phiếu tăng giá. Bênh cạnh đó, yếu tố ảnh hưởng tới quyết định tỷ lệ trả cổ tức thấp do mức thuế đánh vào cổ tức. Do đó, để tránh thuế thì các đơn vị này thay vì trả cổ tức bằng cách mua cổ phiếu quỹ.






