Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

In-The-Money Option / Option Sinh Lợi

Option sinh lợi là loại chứng khoán cho quyền mua/bán một loại tài sản tài chính cơ bản nào đó mà nếu thực hiện quyền đó ngay lập tức, người nắm giữ sẽ thu lợi nhờ chênh lệch thị giá (market price) và giá được cam kết sẽ thực hiện (strike price).

Intervention / Sự Can Thiệp Tiền Tệ

Intervention là sự can thiệp. Trong tài chính, thuật ngữ Intervention được hiểu là sự can thiệp tiền tệ, được dùng để mô tả những nỗ lực của các cơ quan tiền tệ chẳng hạn như ngân hàng trung ương (NHTW) trong việc kiểm soát và can thiệp tỷ giá. Dưới chế độ tỷ giá hối đoái cố định, NHTW có thể can thiệp đến tỷ giá bằng nhiều biện pháp tuỳ thuộc vào mục tiêu của chính sách tỷ giá theo hai hướng ngược chiều. NHTW có thể mua ngoại tệ vào hoặc bán ngoại tệ ra trên thị trường ngoại hối (foreign exchange market - FOREX) nhằm duy trì tỷ giá mục tiêu. Dưới chế độ tỷ giá thả nổi, NHTW khó can thiệp đến tỷ giá hơn mà thay vào đó tỷ giá sẽ được tự do xác lập trên cơ sở quan hệ cung cầu về ngoại tệ trên thị trường. Đã và đang có nhiều tranh cãi mang tính học thuật lẫn thực tiễn xung quanh vấn đề hiệu quả và hiệu lực của các chế độ tỷ giá. Vấn đề này cho đến nay vẫn chưa ngã ngũ bởi còn tảng đá hành vi thị trường (marketing behaviour).

Dividend Exclusion / Miễn Thuế Cổ Tức Ở Hoa Kỳ

Thuật ngữ này dùng để chỉ điều khoản trước khi có đạo luật Tax Reform Act of 1986 cho phép trừ vào cổ tức có tiêu chuẩn như lợi tức có thuế theo quy định của lnternal Revenue Service - $100 cho cá nhân và $200 cho 1 cặp vợ chồng cùng khai thuế. Năm 1986 Tax Act đã loại bỏ việc này và có hiệu lực từ năm thuế l987. Các công ty nội địa có thể được miễn thuế lợi tức 80% của số cổ tức nhận từ các công ty nội địa khác. trước khi có đạo luật 1986, họ được trừ 85%.

Cash Conversion Cycle - CCC / Chu Kỳ Tiền Mặt

Cash Conversion Cycle ( CCC), hoặc Cash Cycle - Chu kỳ tiền mặt Chu kỳ tiền mặt là một thước đo được sử dụng trong phân tích tài chính của doanh nghiệp, để đánh giá khả năng quản lý dòng tiền của doanh nghiệp. Chu kỳ tiền mặt được tính như sau: Cash Conversion Cycle = days inventory outstanding + days sales outstanding - days payable outstanding( = thời gian hàng tồn trong kho + thời gian thu được tiền hàng về - thời gian tiền hàng có thể thu hồi về được.) Con số này càng cao, thì lượng tiền mặt của doanh nghiệp càng khan hiếm cho hoạt động sản xuất kinh doanh và cho các hoạt động khác như đầu tư. Chu kỳ tiền mặt được tính từ khi chi trả cho các nguyên liệu thô tới khi nhận được tiền mặt trong bán hàng.Nếu con số này nhỏ sẽ được coi là khả năng quản lý vốn lưu động tốt. Ngược lại, con số này lớn có thể được giải thích là: doanh nghiệp phải thuê thêm vốn trong khi vẫn phải chờ khách hàng trả nợ tiền hàng cho mình.Quá trình sản xuất càng dài, lượng tiền mặt mà doanh nghiệp phải thuê thêm để đầu tư càng lớn. Tương tự, thời gian khách hàng thanh toán các hóa đơn càng lâu, thì giá trị của các hóa đơn càng giảm. Hay nói cách khác, tài khoản có thể thu hồi về được làm giảm vốn lưu động của doanh nghiệp

Dividend Discount Model_Ddm / Mô Hình Chiết Khấu Cổ Tức

Mô hình chiết khấu cổ tức là một mô hình tương đối tốt để định giá cổ phần. Lý thuyết này phát biểu rằng giá trị cổ phần của một công ty là giá trị của toàn bộ dòng tiền tương lai mà bạn kì vọng một doanh nghiệp tạo ra sau khi đã được điều chỉnh bằng một tỉ lệ chiết khấu hợp lý. công thức tính như sau: Trong đó Value of stock : giá trị cổ phầnDividend per share : cổ tức trên một cổ phầnDiscount rate: tỉ lệ chiết khấuDivident growth rate: tốc độ tăng cổ tức. Vấn đề cốt lõi trong lý thuyết này đó là cổ phần của bất cứ công ty nào cũng có trị  giá không vượt quá những khoản cổ tức mà nó sẽ đem lại cho nhà đầu tư trong hiện tại và tương lai. Theo lý thuyết DDM, cổ tức là dòng tiền mà các cổ đông sẽ thu về trong tương lai, tất nhiên là có tính tới giá trị của tiền tệ theo thời gian. Để đánh giá một công ty thông qua việc sử dụng mô hình DDM, bạn cần phải tính giá trị khoản cổ tức mà công ty sẽ trả trong năm tới. Có nhiều mô hình chiết khấu cổ tức trong đó có hai loại chính là mô hình cổ tức không tăng trưởng và mô hình cổ tức tăng theo thời gian. Xét một ví dụ đơn giản: giả sử rằng một công ty trả cổ tức 1$/năm, bạn sẽ tự hỏi rằng liệu bạn có sẵn sàng mua cổ phiếu của công ty này không? Giả sử rằng tỉ lệ thu nhập kì vọng là 5%, khi đó theo mô hình DDM có tốc độ tăng cổ tức bằng 0, giá trị của doanh nghiệp này là 1/5% = 20$Khiếm khuyết trong mô hình 1là ở chỗ khi tiến hành đầu tư vào một doanh nghiệp, bao giờ nhà đầu tư cũng hi vọng rằng doanh nghiệp này sẽ tăng trưởng qua thời gian. Nếu nhà đầu tư cũng suy nghĩ như vậy trong trường hợp trên thì mẫu số sẽ tương đương với hiệu số của tỉ lệ thu nhập kì vọng và tốc độ tăng trưởng của cổ tức. Giả sử rằng tốc độ tăng cổ tức là 3% một năm, khi đó giá trị của công ty sẽ là 1/ (5%-3%) = 50$. Mô hình DDM cổ điển này thường phát huy tác dụng tốt nhất khi được sử dụng để đánh giá các công ty mạnh, có mức trả cổ tức cao. Những người ủng hộ lý thuyết này thì cho rằng chỉ có lượng cổ tức trong tương lai mới có thể cho bạn những đánh giá đúng đắn về giá trị nội tại của doanh nghiệp. Mua cổ phần với bất kì lý do gì, ví dụ mua với mức giá cao hơn 20 lần so với thu nhập có thể kiếm được từ công ty vì tin rằng hôm sau sẽ có người mua lại với giá gấp 30 lần thì chỉ đơn thuần là một sự đầu cơ. Trên thực tế, mô hình DDM đòi hỏi một sự nghiên cứu tỉ mỉ để có thể dự đoán được mức cổ tức trong tương lai. Thậm chí khi bạn áp dụng mô hình này với công ty trả cổ tức đều đặn, thường xuyên, bạn vẫn cần đưa ra rất nhiều giả thuyết về hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Trong đó giả định lớn nhất trong mô hình DDM là giả định rằng cổ tức của doanh nghiệp là tương đối ổn định, không tăng hoặc tăng đều. Thêm vào đó các yếu tố đầu vào để tính toán giá trị thì thường xuyên thay đổi và tiềm ẩn những sai số. Tuy nhiên, ngay cả đối với các cổ phần đáng tin cậy, ổn định, thì việc dự đoán chính xác việc trả cổ tức trong các năm tới cũng là công việc vô cùng khó khăn.

Cash Card / Thẻ Tiền Mặt

Thẻ nhựa được gán sẵn một giá trị từ trước. Thẻ tiền mặt cũng giống tiền mặt, chúng không được tích hợp các biện pháp bảo đảm vì thế nếu bị mất hoặc đánh cắp, chúng có thể được sử dụng bởi bất cứ ai. Các nhà bán lẻ chấp nhận thẻ sẽ trừ dần giá trị của thẻ sau mỗi lần mua hàng cho đến khi giá trị của nó về 0. Thẻ này hoàn toàn trái ngược với thẻ séc.

Thẻ tiền mặt có thể là bất kỳ thẻ nào mà bạn có thể đưa vào máy ATM hoặc các phân phối khác bằng tiền mặt, hoặc thẻ tín dụng trả trước, hoặc một thẻ với giá trị tiền đặt trước từ một cửa hàng đặc biệt (Costco hoặc tàu điện ngầm), được đọc bởi đầu đọc thẻ và được sử dụng để trả tiền cho các sản phẩm, dịch vụ tại cửa hàng bán lẻ đó. Nhiều giao dịch tài chính hiện nay được giao dịch thông qua thẻ, nó có nhiều ưu điểm hơn so với việc sử dụng "tiền mặt".  Vì vậy, không hề ngạc nhiên khi các tổ chức tài chính và các nhà bán lẻ muốn sử dụng "thẻ tiền mặt" trong tiếp thị của họ, và việc này sẽ có các lợi ích khác nhau cho họ.

Interval Estimation / Ước Lượng Khoảng

Ước lượng một khoảng trong đó giá trị của THAM SỐ thực tế có khả năng rơi vào.

Interstate Commerce Act / Đạo Luật Thương Mại Liên Tiểu Bang

Đạo luật này thiết lập Ủy ban Thương mại giữa các bang (ICC) ở Mỹ vào năm 1887. ICC là tổ chức điều tiết liên bang đầu tiên. Điều khoản chính của đạo luật là về các phương tiện chuyên chở phổ biến. Đạo luật được đề ra để khắc phục những lạm dụng, chẳng hạn như việc định giá quá mức hay phân biệt bằng giá. Đạo luật này mở rộng cho tất cả các phương tiện giao thông đi lại giữa các tiểu bang hay với nước ngoài. Mặc dù phạm vi quyền hạn của Ủy ban này sau đó bao gồm các đường vận tải hàng hóa, đường thủy trong nước và một số ngành dân dụng nhưng ý nghĩa quan trọng chủ yếu của nó có thể là đối với đường sắt và xe tải.

Cash Balance Plan / Kế Hoạch Số Dư Tiền Mặt

Kế hoạch số dư tiền mặt có nghĩa là kế hoạch sinh lãi xác định, trong đó nó duy trì các tài khoản cá nhân giả định của người lao động. Và số tiền trong tài khoản cá nhân giả định này được chủ doanh nghiệp đóng cho các nhân viên hàng năm. Khi đã được đóng như vậy thì đồng nghĩa với việc tài khoản sẽ sinh lãi.

Dividend Covered Ratio / Hệ Số Bảo Chứng Tiền Lãi Cổ Phiếu

Hệ số bảo chứng tiền lãi cổ phiếu (còn gọi là Hệ số đảm bảo cơ hội - Times covered ratio) là phép đo lợi nhuận của một doanh nghiệp bảo chứng khoản thanh toán cổ tức theo cổ phiếu, được biểu hiện bằng lợi nhuận sau thuế so với các khoản lãi cổ tức phải trả. Ví dụ, nếu một khoản lợi nhuận sau thuế là 100,000$ và các khoản tiền thanh toán cổ tức là 50,000$ thì hệ số bảo chứng tiền lãi cổ phiếu sẽ là ½.

Loan / Vay

VAY là một thỏa thuận mà theo đó một chủ sở hữu tài sản (người cho vay) cho phép một thực thể (người vay) để sử dụng tài sản cho một khoảng thời gian quy định. Đổi lại, khách hàng vay đồng ý trả cho người cho vay một khoản thanh toán (lãi) và trả lại tài sản (tiền mặt) vào cuối của khoảng thời gian đã thỏa thuận.

Interquartile Range / Khoảng Cách Giữa Các Tứ Vị Phân Vị

Một thước đo sự phân tán của số liệu mẫu hoặc phân phối, thuật ngữ này được định nghĩa như sự chênh lệch giữa giá trị cao nhất và thấp nhất của các tứ phân vị, và vì vậy nó chứa 50% giá trị trung tâm các quan sát của các biến số liên quan.

Dividend Cover / Mức Bảo Chứng Cổ Tức

Tỷ số lợi nhuận trên cổ phiếu thông thường so với tổng lợi tức trên cổ phiếu.

Loan / Khoản Cho Vay

Một khoản tiền do người cho vay ứng cho người vay.

Số tiền tạm ứng cho bên vay phải được trả lại vào một ngày sau đó, thường có tiền lãi. Về mặt pháp lý thì một khoản cho vay là một hợp đồng giữa bên mua (bên vay) và bên bán (bên cho vay), được thực hiện theo bộ luật thương mại thống nhất trong hầu hết tiểu bang. Những kỳ hạn và điều khoản thanh toán lại khoản vay, bao gồm phái lãi chính hoặc lãi suất, được quy định cụ thể trong hợp đồng vay. Một khoản vay có thể phải trả khi có yêu cầu (khoản vay không kỳ hạn), hoặc những khoản trả định kỳ hàng tháng (vay trả góp), hoặc chúng được trả khi có thông báo tiếp theo, hoặc trả hết vào ngày đáo hạn (khoản vay kỳ hạn) Có nhiều phương pháp mà bên cho vay sử dụng để phân loại các khoản vay, phục vụ cả cho kiểm soát nội bộ và báo cáo hoạt động cho vay cho các cơ quan chính phủ, ví dụ, phân loại theo ngày đáo hạn, theo ngành, bảo lãnh, hoặc loại người vay. Các khoản vay ngân hàng thường được phân loại: (1) khoản vay công nghiệp và thương mại cho các tổ chức kinh doanh; (2) khoản vay liên ngân hàng, hầu hết là các giao dịch của các quỹ liên bang, từ một ngân hàng này cho một ngân hàng khác; (3) khoản vay chia phần, hoặc các khoản vay cho một bên vay được chia sẻ bởi một số ngân hàng; (4) khoản vay bất động sản có thể được chia thành các khoản vay xây dựng và các khoản vay thế chấp dài hạn; và (5) các khoản vay cho người tiêu dùng, như các khoản vay mua xe và những hình thức khác của tín dụng tiêu dùng trả góp. Xem CONSUMER CREDIT; CREDIT; LOAN PARTICIPATION; PARALLEL LOAN; SECURED LOAN; SYNDICATED LOAN; TERM LOAN; TIME LOAN; UNSECURED LOAN; WORKING CAPITAL LOAN.

Dividend / Cổ Tức

Cổ tức là phần lãi chia cho cổ đông của doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh đạt kết quả tốt sau một chu kỳ kinh doanh, thường là một năm. Khi doanh nghiệp hoạt động có lãi, nó phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp và phần lãi còn lại (sau thuế) được gọi là "lợi nhuận có thể chia cho cổ đông." Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp không bao giờ chia hết phần lợi nhuận có thể chia này, mà họ phải giữ lại một tỉ lệ tương đối lớn để tiếp tục đầu tư cho sản xuất, kinh doanh và các dự án mới, phục vụ các chu kỳ kinh doanh tiếp theo. Vì lý do này, khi đại hội cổ đông diễn ra cuối kỳ kinh doanh, sau khi tổng kết tình hình Ban giám đốc có thể đệ trình lên Hội đồng quản trị phương án sử dụng một tỉ lệ nhất định của phần lãi sau thuế để chia lãi cho các cổ đông. Nếu phương án chia này được biểu quyết thông qua, thì chính sách chia cổ tức của năm đó chính thức được xác nhận và có hiệu lực. Một số doanh nghiệp cũng có chính sách cổ tức cho một giai đoạn nhiều năm, nhưng bản thân chính sách này cũng được thực thi chỉ trong một số điều kiện nhất định. Do có thể tồn tại một số loại cổ phiếu khác nhau trong cùng một cấu trúc vốn doanh nghiệp, nên có thể có một số loại cổ tức với các mức khác nhau và điều kiện ưu tiên thanh toán về thời gian và khối lượng khác nhau. Thông thường, khi nói tới cổ tức nói chung, người ta ám chỉ cổ tức của cổ phiếu phổ thông.

1. Thanh toán hàng quý cho cổ đông như lợi nhuận trên đầu tư. Cổ tức có thể là tiền mặt, cổ phiếu hoặc tài sản, và được công bố từ thặng dư hoạt động. Nếu không có thặng dư thì khoản thanh toán đó được xem như lợi nhuận từ vốn. Thanh toán cổ tức, trong thực tế bị đánh thuế hai lần - một lần khi lợi nhuận của doanh nghiệp bị đánh thuế và một lần nữa khi cổ đông đóng thuế cổ tức. 2. Tiền lãi trả cho người nắm giữ tài khoản cổ phần trong một nghiệp đoàn tín dụng; khoản thanh toán tương đương với tiền lãi.

Cổ Tức (Dividend) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Cash / Tiền Mặt

Tiền hiểu theo nghĩa tiêu dùng được, có thể là phương tiện thanh toán chung nhất như tiền giấy, ngoại hối hay vàng. Trong nền kinh tế hiện đại, tiền giấy, tiền xu hay tiền "điện tử" (nghĩa là các thẻ từ, thẻ chip ghi nhận số tiền người sở hữu đang có tại ngân hàng hoặc công ty tài chính) đều được xem là tiền mặt hợp lệ cho chi tiêu. Đối với thế giới kinh doanh, tiền mặt hầu như luôn luôn là dòng đầu tiên phản ánh tình trạng và cấu trúc tài sản trong một Bảng cân đối kế toán (Balance Sheet) với ý nghĩa là loại tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nhất. Lượng tiền mặt có sẵn trong kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và có sự khác biệt lớn giữa lợi nhuận của hoạt động kinh doanh và lượng tiền mặt sẵn sàng cho chi trả, thanh toán nợ nần. Lợi nhuận của doanh nghiệp được tính bằng đơn vị tiền tệ, tuy nhiên nó chỉ xuất hiện sau khi hoạt động kinh doanh đã trải qua một giai đoạn. Còn lượng tiền mặt thì tính tại một thời điểm. Thế giới kinh doanh đã chứng kiến rất nhiều doanh nghiệp khi tính toán trên sổ sách thì có lãi, nhưng vì không đủ tiền mặt để thanh toán các khoản công nợ tới hạn nên bị phá sản. Việc thiếu tiền mặt cho thanh toán công nợ tại một thời điểm cũng được gọi là Phá sản kỹ thuật (Technical insolvency). Vì tầm quan trọng của nó người ta hay nói "Cash is King".

1. Tiền tệ (bao gồm tiền giấy và tiền xu) luân chuyển, bao gồm số dư trong tài khoản vãng lai. Tiền mặt được giữ bởi một ngân hàng, ví dụ tiền mặt dự trữ, không đòi hỏi vốn bảo đảm theo quy tắc vốn rủi ro được các cơ quan điều phối ngân hàng chấp nhận. 2. Chuyển một chi phiếu thành tiền mặt bằng cách ký hậu và rút tiền ở ngân hàng. Cũng được gọi là viết chi phiếu. Xem CURRENCY IN CIRCULATION.

Là khoản tiền hợp pháp hoặc tiền xu có thể được sử dụng trong trao đổi hàng hoá, nợ, hoặc dịch vụ. Đôi khi cũng bao gồm cả giá trị tài sản có thể được chuyển đổi thành tiền mặt ngay lập tức, theo báo cáo của một công ty. Tiền mặt thường bao gồm các giấy tờ có giá của ngân hàng và thị trường chứng khoán, chẳng hạn như trái phiếu chính phủ và chấp phiếu của ngân hàng.

Tiền Mặt (Cash) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Tiền Mặt (Cash) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Brand Name / Nhãn Hiệu Hàng Hóa

Hiện nay, nhãn hiệu chiếm lĩnh một vị trí quan trọng trong thương mại. Nhãn hiệu có thể được mua bán hoặc có thể cho thuê quyền sử dụng. Nhãn hiệu có thể được bảo hộ trong nước hoặc trên quốc tế. Theo Điều 785 Bộ Luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì: “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”. Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ: “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu của doanh nghiệp (hoặc tập thể các doanh nghiệp) dùng để phân biệt với hàng hóa cùng loại của doanh nghiệp khác”. Theo Philip Kotler một chuyên gia marketing hàng đầu của thế giới thì: “Nhãn hiệu sản phẩm là tên, thuật ngữ, dấu hiệu, biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúng, có công dụng dùng để xác nhận hàng hóa hay dịch vụ của một người bán hay một nhóm người bán và phân biệt chúng với các hàng hóa, dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh”. Nhãn hiệu đã được sử dụng từ thời xa xưa khi các nhà sản xuất muốn phân biệt hàng hóa của mình. Thuật ngữ nhãn hiệu “brand” xuất phát từ người Aixơlen cổ đại với nghĩa là đốt cháy “to burn”. Sự tự hào về hàng hóa do chính mình sản xuất không phải là lý do chính để sử dụng nhãn hiệu. Thật ra, các nhà sản xuất muốn khách hàng nhận  biết được nhà sản xuất với hi vọng rằng khách hàng sẽ mua lại trong những lần sau hay giới thiệu với người khác. Ban đầu thì người ta đóng dấu nhãn hiệu cho các loại gia súc, về sau thì các nhà sản xuất gốm, gia thú và tơ lụa cũng sử dụng phương pháp này để phân biệt các sản phẩm của họ với nhà sản xuất khác. Một dấu hiệu có khả năng đăng ký nhãn hiệu phải đáp ứng được các tiêu chuẩn do các Cơ quan nhãn hiệu quốc gia đặt ra và các tiêu chuẩn quốc tế. Có hai tiêu chí chính để xem xét (i.) Nhãn hiệu phải độc đáo và/hoặc có khẳ năng phân biệt các sản phẩm/dịch của doanh nghiệp này với các sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp khác (ii.) Nhãn hiệu không mô tả sản phẩm/dịch có thể gây hiểu lầm hoặc vi phạm các trật tự xã hội và các đạo đức xã hội.

LO / Lệnh Giới Hạn

Là lệnh mua/bán tại một mức giá xác định hoặc tốt hơn. Lệnh giới hạn được áp dụng trong cả khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa, đóng cửa và khớp lệnh liên tục.Lệnh có ghi giá: Vd: Mua REE 1.000cp @254       Bán SAM 500cp @206Hiệu lực của lệnh: đến lúc kết thúc ngày giao dịch hoặc cho đến khi lệnh bị hủy bỏ (trừ lệnh mua của nhà đầu tư nước ngoài).Lệnh mua của nhà đầu tư nước ngoài nhập vào hệ thống trong thời gian khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa hoặc giá đóng cửa nếu không được khớp hoặc chỉ được khớp một phần vào thời điểm khớp lệnh xác định giá mở cửa hoặc giá đóng cửa thì lệnh mua hoặc phần còn lại của lệnh mua đó sẽ tự động bị huỷ bỏ.Lệnh mua của nhà đầu tư nước ngoài nhập vào hệ thống trong thời gian khớp lệnh liên tục nếu không được khớp hoặc chỉ được khớp một phần thì lệnh mua hoặc phần còn lại của lệnh mua đó sẽ tự động bị huỷ bỏ.Ví dụ về lệnh LO (định kỳ):Cổ phiếu AAA: Giá tham chiếu: 99; Kết quả khớp lệnh: Giá khớp 100- Khối lượng khớp:2000 Sổ lệnh như sau: KL Mua Giá Mua Giá bán KL Bán 5000 100 98 1000     100 1000 Sổ lệnh sau khi khớp: KL Mua Giá Mua Giá bán KL Bán 3000 100   Ví dụ về lệnh LO (liên tục)  Cổ phiếu AAA: Giá tham chiếu: 99; Kết quả khớp lệnh: Giá 98 - KL khớp 1000: Giá 100 - KL khớp 1000 Sổ lệnh như sau: KL Mua Giá Mua Giá bán KL Bán (C) 5000 100 98 1000 (A)     100 1000 (B) Sổ lệnh sau khi khớp: KL Mua Giá Mua Giá bán KL Bán (C) 3000 100

Brand Loyalty / Sự Trung Thành Với Nhãn Hiệu

Sự trung thành về tâm lý đối với sự kết hợp biểu tượng của một sản phẩm có nhãn hiệu.

Cartel Sanctions / Sự Trừng Phạt Của Cartel

Các hình phạt áp đặt bởi các thành viên của Cartel nhằm đạt được sự kết dính với mục tiêu chung của cả nhóm.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55