Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Doing Business / Kinh Doanh

Theo định nghĩa của Luật Doanh nghiệp của Quốc Hội nước ta ban hành vào ngày 29/11/2005 có hiệu lực thi hành vào ngày 1/7/2006, khoản 2 điều 4 phát biểu như sau: Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.

Investor Relation Officer (IRO) / Phụ Trách Quan Hệ Nhà Đầu Tư

Quan hệ với cổ đông là một trong những nhiệm vụ quan trọng tạo nên uy tín cho doanh nghiệp. Việc các doanh nghiệp lớn trên thế giới xây dựng bộ phận chuyên trách hoặc thuê một công ty chuyên về quan hệ cổ đông để phục vụ cho hoạt động của mình là rất phổ biến và những nhân viên quan hệ nhà đầu tư (Investor Relation Officier - IRO) đóng vai trò then chốt trong nhiệm vụ này. IRO là người được công ty chỉ định để phát ngôn bằng danh nghĩa công ty với tất cả những tác nhân trong cộng đồng tài chính, nhất là những nhà phân tích, những nhà quản lý quỹ, những NĐT, những cổ đông nhỏ lẻ, những công ty lưu ký, những cơ quan pháp luật và cả các báo tài chính, kinh tế. IRO cung cấp thông tin về triển vọng của công ty, những biến động của thị trường, những đặc tính tài chính, môi trường kinh doanh của công ty... cho phép những ai quan tâm có những dữ liệu cần thiết đánh giá được tình hình thực tế và tiềm năng của công ty. IRO cũng đóng vai trò phổ biến kiến thức, diễn giải, phân tích những tác nhân chính có thể có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty. Do đó, IRO gián tiếp góp phần vào hiệu quả kinh doanh của công ty thông qua sự tăng giá ổn định của CP và gia tăng số lượng cổ đông, xây dựng niềm tin cho những cổ đông của mình. Nhờ vậy, công ty có khả năng huy động một số vốn cao nhất với chi phí hợp lý nhất cho hoạt động kinh doanh, đóng góp vào sự tăng trưởng chung của toàn xã hội. IRO cũng phản ánh cho lãnh đạo công ty sự tiếp nhận và phản ứng của thị trường đối với thông tin liên quan tới công ty. Với vị trí đặc biệt như vậy, rất gắn bó với người lãnh đạo công ty đồng thời luôn gắn kết với thị trường, IRO đóng góp một cách thường xuyên và liên tục cho việc nghiên cứu và hoạch định chiến lược của công ty.

Loss / Lỗ

Trong tài chính, lỗ là khi chi phí vượt quá bán hàng hoặc doanh thu, ví dụ hàng hóa hoặc dịch vụ được bán với giá thấp hơn chi phí của họ.

Investor / Nhà Đầu Tư

Nhà đầu tư là một bên bất kỳ tham gia vào một vụ đầu tư. Tuy nhiên, thuật ngữ được hiểu theo một nghĩa xác định trong ngành tài chính, nó được dùng để chỉ những người hoặc những công ty thường xuyên mua vốn sở hữu hoặc các chứng khoán nợ nhằm mục đích tài chính tài trợ cho một công ty đang phát triển. Thuật ngữ này đôi khi cũng được dùng cho các bên tham gia mua bất động sản, tiền tệ, hàng hóa, chứng khoán phái sinh, tài sản cá nhân và các tài sản khác.

Documentary Commercial Billa / Hối Phiếu Thương Mại Có Kèm Chứng Từ

Thuật ngữ này dùng để chỉ hối phiếu được ngân hàng chấp nhận, có vận đơn và các chứng từ khác đính kèm. Ngược lại với Clean Draft (hối phiếu không kèm chứng từ). Chứng từ đính kèm được giao cho người chi trả khi người này chấp nhận hay chi trả hối phiếu.

Celler - Kefauver Act / Đạo Luật Celler - Kefauver

Ban hành ở Mỹ năm 1950 với tư cách là một sửa đổi ĐẠO LUẬT CLAYTON. Mục đích của đạo luật này là tăng cưòng pháp luật chống lại sự sát nhập phản cạnh tranh.

Mortgage Backed Security / Chứng Khoán Bảo Đảm Bằng Thế Chấp

Chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp là loại chứng khoán được phát hành dựa trên cơ sở một hoặc một nhóm các khoản thế chấp. Về bản chất, chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp là một loại trái phiếu. Thay vì, trả cho nhà đầu tư một khoản trái tức cố định và tiền gốc, thì người phát hành chứng khoán thanh toán bằng dòng tiền phát sinh từ những khoản thế chấp được dùng để đảm bảo cho số chứng khoán đó. Dạng đơn giản nhất của chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp là kiểu "sang tay thế chấp", trong đó tất cả số tiền gốc và lãi thanh toán hàng tháng (sau khi đã trừ đi phí dịch vụ) trong một hợp đồng thế chấp sẽ được "sang tay" cho nhà đầu tư. Vd: công ty X kinh doanh địa ốc có 1 toà văn phòng cho thuê trị giá 90 triệu USD. Để thực hiện một dự án xây chung cư khác, công ty này đang cần vay thêm 60 triệu USD. Sau khi đánh giá các phương án, họ quyết định tìm đến ngân hàng X, thế chấp toà văn phòng trên để vay 60 triệu USD trong 5 năm, thanh toán tiền gốc và tiền lãi hàng tháng  với lãi suất 1%. Tuy nhiên, tình hình tài chính ngân hàng hiện đang "mấp mé" hạn mức tín dụng cho phép nên không thể cho vay thêm, nhưng ngân hàng cũng không muốn mất khách hàng này. Ngân hàng quyết định phát hành 60.000 trái phiếu được đảm bảo bằng khoản thế chấp của công ty X, với kì hạn 5 năm, ra thị trường. Thay vì được thanh toán tiền gốc và lãi như thông thường, người nắm giữ những trái phiếu này sẽ được hưởng số tiền mà công ty X thanh toán cho ngân hàng tuỳ theo số trái phiếu mà anh ta có. Giả dụ, một quĩ đầu tư mua 6000(10%) trái phiếu, thì mỗi tháng họ sẽ được hưởng: 10% x [(60.000.000/5/12) + 1%x (số tiền còn nợ)]. Theo thời gian, khi số tiền gốc được hoàn trả dần thì cả tiền lãi và giá trị của trái phiếu này cũng giảm tương ứng. Ngược lại với các trái phiếu thông thường, khi đáo hạn mới được thanh toán tiền gốc, thì trái phiếu loại này khi đáo hạn có giá trị bằng 0. Người nắm giữ chứng khoán loại này gần như không gặp phải rủi ro gì vì đã có khoản thế chấp làm vật đảm bảo, tuy nhiên nói như vậy cũng không có nghĩa là nó hoàn toàn không có rủi ro nào. Theo luật một số nước (ví dụ như Mỹ), người thế chấp tài sản để vay tiền hoàn toàn có quyền "thanh toán nhanh", nghĩa là họ sẽ thanh toán số tiền lớn hơn định mức. Trong ví dụ trên, thay vì trả $100.000 tiền gốc mỗi tháng, công ty X có thể trả $200.000 để giảm nhanh số tiền nợ, đồng thời giảm số tiền lãi phải trả trong thời gian tiếp theo. Đương nhiên là người nắm giữ chứng khoán này cũng sẽ nhận được số tiền thanh toán cao lên tương ứng và có thể tái đầu tư vào nơi khác. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ, người đi vay (ở ví dụ trên là công ty X) thường chỉ áp dụng việc thanh toán nhanh khi lãi suất cho vay trên thị trường xuống thấp còn khi lãi suất thị trường cao thì không. Tiếp tục xem xét ví dụ trên, giả sử sang năm thứ 2, lãi suất ngắn hạn trên thị trường chỉ còn có 0.5%/tháng, công ty X sẽ lập tức vay tiền với lãi suất thấp để trả cho người nắm giữ trái phiếu để tránh lãi suất cao. Người nắm giữ trái phiếu nhận được số tiền thanh toán tăng thêm trong giai đoạn lãi suất thấp thì đương nhiên khó có thể tái đầu tư để thu đượclãi suất cao. Như vậy khi mà người đi vay có quyền chọn cách thức thanh toán thì chính người cho vay là người chịu rủi ro. Rủi ro này được gọi là "rủi ro thanh toán trước",  chính vì rủi ro này mà lãi suất đối với các loại chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp bao giờ cũng cao hơn lãi suất thị trường một chút. Đối với loại chứng khoán này, vai trò của Ngân hàng chỉ là người trung gian, thu phí để cung cấp dịch vụ chứ hoàn toàn không phải gánh chịu rủi ro nào. Ngân hàng đóng vai trò làm người đại diện cho công ty đi vay để phát hành chứng khoán, thanh toán định kì cho người nắm giữ chứng khoán và tiến hành các thủ tục khác cho công ty đó. Phí mà ngân hàng được hưởng được khấu trừ từ chính tiền lãi mà nhà đầu tư được hưởng, ví dụ: lãi suất cho vay thế chấp đúng ra là 12.5%/năm, và mức phí ngân hàng thu là 0.5%/năm, thì lãi suất mà nhà đầu tư được hưởng sẽ còn 12%/năm. Chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp được phân ra một số loại như: loại "sang tay" (pass through), loại collaterized  và loại stripped. Sự khác nhau giữa các nhóm này chủ yếu ở các ràng buộc về lộ trình thanh toán hoặc dòng tiền đảm bảo cho chúng.

Long-Term Investments / Các Khoản Đầu Tư Dài Hạn

Các khoản đầu tư dài hạn là một tài khoản nằm bên phần tài sản trên bảng cân đối kế toáncủa một công ty, nó thể các khoản đầu tư mà một công ty có ý định thực hiện trong khoảng thời gian từ hơn 1 năm trở lên. Chúng có thể bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản và tiền mặt. Điểm khác nhau cơ bản giữa tài khoản các khoản đầu tư dài hạn với tài khoản các khoản đầu tư ngắn hạn là các khoản đầu tư ngắn hạn có thể dễ dàng được bán đi trong khi các khoản đầu tư dài hạn thì không thể. Dạng thường thấy nhất của việc đầu tư dài hạn đó là khi công ty A đầu tư một phần khá lớn vào công ty B và nắm giữ vị một vị thế ảnh hưởng quan trọng trong công ty B nhưng không sở hữu nhiều cổ phần có quyền biểu quyết. Trong trường hợp này, giá mua có thể được thể hiện như một khoản đầu tư dài hạn.

Brokerage / Hoa Hồng Môi Giới

Một khoản tiền được yêu cầu bởi một người môi giới vì đã thực hiện việc mua bán thay mặt một khách hàng.

Investment Trust / Tờ-Rớt Đầu Tư

Một công ty với chức năng đầu tư vào các tổ chức khác.

Long-Term Equity Anticipation Securities / LEAPS

Là các hợp đồng quyền chọn được giao dịch rộng rãi, có ngày hết hạn dài trên 1 năm. Xét về mặt cấu trúc, LEAPS không khác gì so với hợp đồng quyền chọn ngắn hạn, nhưng ngày đáo hạn dài hơn tạo ra cơ hội cho các nhà đầu tư có hội tiếp xúc nhiều hơn với những thay đổi về giá trong thời gian dài mà không cần phải kết hợp với việc sử dụng các hợp đồng quyền chọn có thời hạn ngắn hơn. Tiền lãi của LEAPS cao hơn so với các hợp đồng quyền chọn mua bán cùng một loại cổ phần bởi gì ngày đáo hạn dài hơn tạo ra cho tài sản cơ sở nhiều thời gian hơn để đạt được những thay đổi về giá có ý nghĩa và tạo cho các nhà đầu tư nhiều lợi nhuận hơn. LEAPS là một cách rất hay đối với các nhà kinh doanh dài hạn để đạt được lợi thế với xu hướng thay đổi của một chứng khoán xác định mà không phải kết hợp thêm một số các hợp đồng ngắn hạn khác. Khả năng mua được một hợp đồng quyền chọn bán/ mua mà hết hạn sau 1 đến 2 năm là rất hấp dẫn bởi vì nó tạo cho người giữ hợp đồng lợi thế nhiều hơn đối với những thay đổi về giá trong dài hạn mà không cần phải đầu tư một lượng tiền lớn, mà nếu mua tài sản cơ sở thì phải đầu tư khoản tiền đó ngay lập tức. Những hợp đồng quyền chọn dài hạn này có thể là các cổ phần riêng biệt, và cũng có thể là các chỉ số cổ phiếu (ví dụ S&P 500).

DJIA/ Dow 30/ Dow Jones/ The Dow / Chỉ Số Trung Bình Công Nghiệp Dow Jones

Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones còn được gọi là DJIA hoặc Dow 30 hoặc Dow Jones hoặc The Dow, là một trong những chỉ số của thị trường chứng khoán được tạo ra bởi người biên tập tờ Wall Street Journal và đồng sáng lập công ty Dow Jones & Company vào thế kỉ thứ 19. Chỉ số trung bình Dow Jones được tính toán từ 30 công ty đại chúng lớn nhất ở Mỹ. Cái tên "industrial" chỉ mang ý nghĩa lịch sử bởi vì rất nhiều công ty thời nay trong số 30 công ty này không liên quan gì mấy tới ngành công nghiệp nặng. Để không bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng tách cổ phần và các điều chỉnh khác, hiện tại chỉ số Dow Jones là giá trị trung bình trọng số chứ không phải là giá trị trung bình thực của tất cả các cổ phiếu hợp thành. Tổng của các giá cổ phiếu bộ phận được chia cho cùng 1 ước số, ước số này thay đổi theo thời gian để tạo ra giá trị của chỉ số. Lần đầu tiên ra mắt vào ngày 26 tháng 5 năm 1896, chỉ số trung bình Dow Jones giới thiệu giá trị trung bình của 12 loại cổ phiếu từ các ngành công nghiệp quan trọng của Mỹ. Trong số 12 công ty đó, chỉ còn General Electric đến ngày nay là vẫn nằm trong nhóm 30 công ty được tính. So với thời kì đầu, chỉ số trung bình Down Jones rất nổi tiếng, nhưng cho đến ngày nay S&P 500 được nhiều người ưa thích hơn do S&P 500 bao gồm nhiều công ty có mức đại biểu chính xác hơn cho thị trường.

Long-Term Debt To Equity Ratio / Tỷ Lệ Nợ Dài Hạn Trên Vốn Chủ Sở Hữu

Tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu so sánh tương quan giữa nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ này được được tính bằng cách chia nợ dài hạn cho vốn chủ sở hữu: Tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu = Nợ dài hạn / Vốn chủ sở hữu Trong đó nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu được lấy từ báo cáo tài chính kỳ gần nhất (quý gần nhất hoặc năm gần nhất). Tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu cũng tương tự như tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu, tuy nhiên ở đây chúng ta chỉ quan tâm đến nợ dài hạn, là những khoản nợ chưa phải trả trong năm tới. Mục đích của việc sử dụng tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu là để thấy được mức độ tài trợ bằng vốn vay một cách thường xuyên (qua đó thấy được rủi ro về mặt tài chính mà công ty phải chịu) qua việc loại bỏ các khoản nợ ngắn hạn (tín dụng thương mại phi lãi suất và những khoản phải trả ngắn hạn).

Investment Grants / Trợ Cấp Đầu Tư

Các khoản tiền do chính phủ hay các tổ chức khác cung cấp nhằm mục đích khuyến khích các doanh nghiệp chi tiêu mua vốn vật chất.

Broker / Người Môi Giới

Là một trung gian trên thị trường tài chính, có vai trò là chiếc cầu nối cho một bên hoặc cho cả hai bên trong vụ giao dịch. Người môi giới khác với người mua hoặc bán chính thức vì anh ta không bỏ vốn ra để thực hiện giao dịch. Người môi giới nhận nhiệm vụ cung cấp dịch vụ môi giới của mình và nhận hoa hồng, còn người mua/bán thì tìm kiếm bên kia để giao dịch và hy vọng kiếm được lợi nhuận chênh lệch khi tiếp tục mua/bán với bên thứ ba. Ở một nghĩa hẹp là người trung gian chắp nối người bán và người mua với nhau, hoặc người đó hoạt động như một đại điện cho người này hay cho người kia, tiến hành một giao dịch mua bán và nhận tiền thù lao hoa hồng hay môi giới. Tuy nhiên, ở mộy số trường phái khái niệm này chỉ người mua hoặc người bán gốc, dù cách dùng này xuất phát từ giai đoạn ban đầu của người môi giới thực sự.

Chứng khoán. Người hành động như là đại diện, hay trung gian giữa người mua và người bán, thường tính phí, hay hoa hồng khi thực hiện dịch vụ. Các ngân hàng hoạt động như người môi giới nhân danh khách hàng của họ, phải đăng ký với Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái (SEC), và theo hối đoái thực tế khi giao dịch diễn ra. Đạo luật Gramm-Leach-Bliley năm 1999 miễn cho một số các hoạt động ngân hàng nhất định khỏi đăng ký với SEC, khi hoạt động như người thụ hưởng, hay người thụ ủy, hoặc mua bán chứng khoán đô thị. Xem DEALER. Thế chấp. Người do tiểu bang cấp phép, hưởng phsi hay hoa hồng, đại diện cho chủ sở hữu tài sản trong các giao dịch bất động sản. Một vài người môi giới thay mặt người vay trong việc dàn xếp tài trợ thế chấp và thương lượng các điều khoản kinh doanh.

Long-Haul Economies / Tính Kinh Tế Theo Quãng Đường

Xu hướng chi phí vận tải tăng ít hơn về tỷ lệ so với quãng đường chuyên chở.

Tính Kinh Tế Theo Quãng Đường (Long-Haul Economies) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Tính Kinh Tế Theo Quãng Đường (Long-Haul Economies) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.

Causality / Phương Pháp Nhân Quả

Một khái niệm nảy sinh từ việc xem xét các giả định nổi bật của mô hình kinh tế lượng ước lượng từ số hiệu chuỗi thời gian mà bản chất là không thí nghiệm.

Bridge Loan / Interim Financing / Gap Financing / Swing Loan / Nợ Tạm Thời

Một dạng nợ ngắn hạn được sử dụng cho tới khi một người hoặc một công ty đạt được đủ điều kiện vay dài hạn hoặc khi đã trả hết được những khoản nợ đang mắc. Hình thức cung cấp tài chính này cho phép người vay dùng tiền mặt vay được để trả các khoản nợ trước mắt. Nợ tạm thời cũng giống nợ ngắn hạn (dưới 1 năm) với mức lãi suất tương đối cao và được bảo đảm bằng một số dạng thế chấp như bất động sản hoặc hàng hóa. Thuật ngữ này còn được gọi là interim financing, gap financing, hoặc swing loan. Giống như thuật ngữ mô tả, những khoản vay dạng này là chiếc cầu nối, lấp đầy khoảng trống trong lúc doanh nghiệp đang cần nguồn tài chính mà chưa đạt đủ tiêu chuẩn để được vay. Dạng nợ này được sử dụng bởi cả doanh nghiệp và cá nhân và có thể được linh hoạt sao cho phù hợp với nhiều tình huống khác nhau. Ví dụ, một doanh nghiệp đang có kế hoạch vay vốn và hy vọng sẽ hoàn thành kế hoạch trong 6 tháng. Nợ tạm thời có thể được sử dụng để bảo toàn vốn lưu động cho đến khi doanh nghiệp bắt đầu được cho vay vốn. Trong trường hợp của một cá nhân, nợ tạm thời rất thường thấy trên thị trường bất động sản. Do thường có độ trễ giữa việc bán một ngôi nhà và việc mua, nợ tạm thời sẽ giúp người chủ sở hữu có thể linh hoạt hơn trong việc mua bán.

Long-Dated Securities / Các Chứng Khoán Dài Hạn

Các chứng khoán ở dạng nợ chứ không phải dạng cổ phần - ví dụ như chứng khoán viền vàng hay trái khán công ty - có ngày đáo hạn dài, thường là hơn 10 năm.

Long / Short Equity - Equity Hedge / Chiến Lược Mua/Bán Khống Tài Sản Hay Chiến Lược Phòng Vệ Tài Sản

Chiến lược mua/bán khống tài sản là một chiến lược đầu tư thường được áp dụng bởi các quỹ thanh khoản linh hoạt. Cách thức cơ bản của chiến lược này là mua vào các các tài sản có khả năng tăng trưởng giá trị và bán khống các tài sản được kỳ vọng là sẽ giảm giá trị.Ví dụ:Một hedge fund có thể đồng thời bán khống cổ phiếu của một công ty hoạt động trong ngành sản xuất xe hơi và mua vào cổ phiếu của một công ty khác cũng hoạt động trong ngành này. Chẳng hạn bán khống 1 tỷ VNĐ Vinaxuki và mua vào 1 tỷ VNĐ cổ phiếu Trường Hải. Với vị thế sau khi thực hiện giao dịch, bất kỳ sự kiện nào gây giảm giá với các cổ phiếu ngành sản xuất xe hơi sẽ đều đem lại lợi nhuận với lượng đầu tư vào Vinaxuki và lượng lỗ tương ứng với cổ phiếu Trường Hải. Tình trạng tương tự cũng xảy ra khi có sự kiện làm tăng giá đồng loạt các cổ phiếu trong ngành xe hơi, vị thế của quỹ sẽ không bị thay đổi nhiều.Giả sử quỹ đó đã bán cổ phiếu của Vinaxuki và mua vào cổ phiếu Trường Hải với dự báo của ban quản lý quỹ là Trường Hải sẽ có hiệu quả vận hành tốt. Nếu dự báo này là đúng, quỹ sẽ thu được lợi nhuận mà không chịu nhiều ảnh hưởng từ thị trường và biến động ngành.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55