Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Lombard Credit / Cho Vay Tín Dụng Lombard

Cho vay tín dụng Lombard là một nghiệp vụ mà ngày nay vẫn được các ngân hàng Trung ương sử dụng khi có đảm bảo là các chứng khoán có thể giao dịch trên thị trường, như trái phiếu Chính phủ. Cho vay tín dụng Lombard còn có hình thức mua lại hiện đại - modern repo, tức là khi một ngân hàng bán các mã chứng khoán cho một ngân hàng khác với giá chiết khấu, và đồng ý mua lại những mã chứng khoán ấy (thông thường bằng giá bề mặt) tại một thời điểm ấn định. Dẫu vậy, bản chất của hình thức mua lại hiện đại là một khoản cho vay có đảm bảo.

Logolling / Sự Trao Đổi Phiếu Bầu; Bỏ Phiếu Gian Lận

Là đặt tên cho quá trình "trao đổi lá phiếu" trong đó một người đồng ý ủng hộ một người khác đối với một vấn đề nhất định đổi lại người kia sẽ ủng hộ anh ta đối với một vấn đề khác.

Log-Linear / Tuyến Tính Lôgarit

Một mối quan hệ toán học mà nếu biểu diễn bằng lôgarit thì là một hàm tuyến tính.

Investment Fund (Investment Club / Balanced Fund / Diversified Fund) / Quỹ Đầu Tư

Thị trường chứng khoán là nơi tập hợp không biết cơ man nào các hàng hoá (chứng khoán), thế nên cho dù chỉ tập trung vào một lĩnh vực thì nhà đầu tư cũng không làm sao nắm bắt hết các chiều hướng chuyển biến của nó. Trên thị truờng còn thời kỳ trứng nước như Việt Nam hiện nay, đa số các nhà đầu tư lại là những người không chuyên nghiệp, nhiều nhà đầu tư lớn đã phải thuê các cố vấn riêng. Những nhà đầu tư khác vì lý do nào đó không thể tự quản lý việc mua bán trong các danh mục đầu tưcủa mình có thể mở các chương mục uỷ thác phân quyền (advisory account) hoặc những chương mục uỷ thác toàn quyền (discretionary account) tại các trung tâm môi giới. Và cùng với thời gian, thị trường đã hình thành một định chế giúp các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nhỏ, thực hiện đầu tư tốt nhất vào thị trường chứng khoán được gọi là các quỹ đầu tư. Trước tiên có thể nói ngay rằng đây là một định chế tài chính phi ngân hàng, là nơi tập trung mọi nguồn vốn từ các nhà đầu tư nhỏ lẻ để tạo thành quỹ vốn qui mô lớn và thực hiện đầu tư như một chủ thể duy nhất. Nhà đầu tư không hưởng lợi trực tiếp từ các cổ phiếu được mua bán trên thị trường chứng khoán, mà họ sẽ được chia sẻ hiệu quả do một quá trình mua bán chứng khoán tập trung của quỹ này theo tỷ lệ vốn họ đã góp. Khi tham gia Quỹ các nhà đầu tư sẽ được nhận một chứng chỉ quỹ xác nhận số vốn đã góp. Quỹ đầu tư xuất phát từ cách nhận dạng theo cơ cấu bản chất và mục đích. Về hình thức hoạt động, người ta có khuynh hướng gọi đó là các “công ty đầu tư”. Một công ty đầu tư có thể được tổ chức theo hình thức cổ phần hoặc một tổ hợp vốn uỷ nhiệm. Loại tổ hợp vốn này được chế định bằng luật pháp, theo đó tài sản được uỷ nhiệm quản lý cho các cá nhân hay định chế quản lý chuyên nghiệp. Đảm nhận nhiệm vụ này có các công ty quản lý uỷ thác hoặc các cơ sở quản lý uỷ thác trong các ngân hàng thương mại. Họ hưởng phí theo một tỷ lệ cố định hàng năm trên tổng tài sản, thường là 1%. Còn các quỹ đầu tư là phương tiện để nhà đầu tư đưa các khoản tiền của họ vào nhằm có được yếu tố đầu tư đa dạng và điều kiện quản lý chuyên nghiệp. Nếu nó được tổ chức theo dạng công ty cổ phần, việc quản lý sẽ do một hội đồng quản trị đảm nhận, khác với loại tổ hợp vốn uỷ nhiệm như đã phân tích ở trên. Mới chỉ cách đây không lâu, các quỹ đầu tư vẫn được xem là sân chơi dành riêng cho một số ít người giàu có và là một khái niệm khá xa lạ với nhiều nhà đầu tư. Nhưng giờ đây, hầu như tất cả mọi người, từ các tổ chức cho đến công chúng có năng lực tài chính với số tiền ít nhất vào khoảng 10 ngàn USD đều muốn đầu tư vào các quỹ này. Có thể nói, chưa bao giờ các Quỹ đầu tư lại trở nên thịnh hành như ngày nay. Trong nửa cuối năm 2005, số tiền đầu tư vào các quỹ này trên toàn thế giới đã gấp đôi con số của cả năm 2004. Tính đến thời điểm này, toàn thế giới đã có trên 60 ngàn quỹ đầu tư quản lý một lượng tài sản trị giá trên 5 ngàn tỷ USD. Tại châu Âu, các quỹ đầu tư được quảng cáo rộng rãi trên truyền hình. Ở Mỹ, mặc dù việc quảng cáo các quỹ này bị cấm nhưng chúng vẫn được quảng bá truyền khẩu tại các buổi hội thảo do các nhà môi giới chứng khoán hoặc các ngân hàng tư nhân tổ chức. Làm nghề quản lý quỹ đầu tư đã trở thành một nét đặc biệt trong thị trường lao động nước Mỹ trong thời gian gần đây. Nhiều người cho rằng, hoạt động của Quỹ đầu tư giờ đây đã phát triển mạnh mẽ, thể hiện ở việc mỗi khi các loại tài sản khác như cổ phiếu, trái phiếu mất giá thì chứng chỉ quỹ đầu tư vẫn tỏ ra hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Mặc dù loại hình quỹ này đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây, nhưng cơ hội cho sự ra đời và phát triển của các quỹ mới vẫn được đánh giá là rất lớn. Theo con số thống kê, chỉ có khoảng 20% số người có vốn nhàn rỗi lớn đầu tư vào các quỹ đầu tư, bao gồm quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ đầu tư phòng hộ. Thêm vào đó, cả chất lượng đầu tư lẫn việc quản lý rủi ro đang tiến bộ một cách nhanh chóng. Những lợi ích từ Quỹ đầu tư Trước hết và quan trọng hơn cả là khả năng đầu tư đa dạng, đồng nghĩa với việc phân tán rủi ro. Một cá nhân bình thường với số vốn hạn chế khó có thể đa dạng hoá một cách tối ưu danh mục đầu tư của mình. Nhưng bằng phương thức kết hợp vốn cùng với nhiều người khác trong các quỹ đầu tư, cá nhân đó có điều kiện chia phần lợi và rủi ro trong một tập hợp các chứng khoán được đa dạng tối đa. Lợi ích khác do các quỹ đầu tư mang lại là trình độ quản lý chuyên nghiệp. Nhiều nhà đầu tư nhỏ khó đạt hiệu năng quản lý các hoạt động đầu tư của mình một cách khôn ngoan nhất, họ cũng không có khả năng hoặc thấy không còn có lợi nếu phải trả các khoản phí cần thiết để “mua” sự quản lý chuyên nghiệp riêng cho mình. Bằng cách chung vốn tập thể vào các quỹ đầu tư, những cá nhân này có thể yên tâm sẽ được các nhà điều hành chuyên nghiệp quản lý số tiền đầu tư của mình với một chi phí thấp hơn so với việc họ phải tự lo liệu. Một lợi ích nổi bật nữa của quỹ đầu tư là các cổ phần góp vốn vào quỹ này có tính thanh khoản. Điều này có nghĩa là nếu nhà đầu tư muốn rút lui khỏi tổ chức đầu tư này, họ có thể bán lại phần tài sản của họ với một giá phải chăng để chuyển thành tiền mặt trong một thời gian ngắn. Do các chứng khoán mà các quỹ đầu tư mua bán thường thuộc những loại đầu tư có điều kiện bán nhanh nhất, nên những người mua cổ phần quỹ đầu tư không phải lo bị chôn vốn. Họ có thể thực hiện thanh lý việc nắm giữ cổ phần của họ vào bất cứ ngày nào có giao dịch, ở mức giá được công bố hiện hành và nhận tiền sau một khoảng thời gian qui định, thường là một tuần. Việc tính toán giá cổ phần của quỹ đầu tư rất đơn giản, vì tổng tài sản của quỹ đầu tư hầu hết là các chứng khoán có độ linh hoạt cao, giá của nó được cập nhật vào sau mỗi phiên giao dịch và dựa vào thị trường chứng khoán. Qua đó chúng ta có thể thấy khả năng hấp dẫn và thuyết phục mà công cụ này có thể đem lại, đặc biệt cho những nhà đầu tư trung bình và nhỏ hoặc những người chọn đầu tư theo thế thủ. Trong chừng mực nào đó, ta có thể hiểu những nhà đầu tư vào các quỹ đầu tư khác với những nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán, đồng thời cũng không giống hoạt động tiết kiệm hoặc mua trái phiếu. Xét về mặt thuận tiện, độ tin cậy và sự hấp dẫn của chúng, nhất là để thu hút những nguồn tiết kiệm nhỏ, ta thấy khó có một hình thức đầu tư thay thế nào tốt hơn. Ngoài ra các quỹ đầu tư còn là định chế có thể giúp kích hoạt giao dịch trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên không phải không có những mối lo Song song với tín hiệu lạc quan, có một số người lại tỏ thái độ nghi ngờ. Họ cho rằng, rất khó có thể giám sát được hoạt động của các quỹ đầu tư và rất dễ xảy ra gian lận tại các quỹ này. Với một mức phí quản lý dành cho các nhà quản lý lên tới 20% mức tăng giá trị hàng năm của quỹ, rất có thể đây là động cơ thúc đẩy các nhà quản lý quỹ chấp nhận mạo hiểm một cách thái quá. Hơn nữa, hầu như không bao giờ nhà quản lý quỹ phải chịu bất cứ một hình thức phạt nào vì việc đã làm cho giá trị của quỹ bị giảm và nhà quản lý hoàn toàn có thể thu hẹp quy mô của quỹ để làm lại từ đầu. Khi tiền đổ vào các quỹ đầu tư càng nhiều thì việc kiếm được các nhà quản lý quỹ có tài năng thực sự càng khó khăn và khả năng để kiếm được một cơ hội đầu tư tốt lại càng ít hơn.

Logistic Function / Hàm Lôgistic

Đồ thị của hàm này có hình chữ S, và nó được sử dụng để biểu diễn mối quan hệ giữa giá trị của một biến số kinh tế và thời gian.

Cash Settement / Chi Trả Bằng Tiền Mặt

Thuật ngữ này có nghĩa: 1. Điều khoản chi trả trong vài hợp đồng option và futures không yêu cầu giao chứng khoán hàng hoá cơ sở. - Đối với hợp đồng options, chênh lệch giữa giá chi trả cho chứng khoán cơ sở và giá thực thi của hợp đồng sẽ được chi trả bằng tiền mặt cho người mua option vào thời điểm thực thi hợp đồng. - Đối với hợp đồng futures, thị trường thiết lập giá khi trả vào ngày cuối cùng mua bán và tất cả số chưa giải quyết còn lại được điều chỉnh theo thị trường căn cứ vào giá đó. 2. Trong chứng khoán mua bán theo hợp đồng option việc giao chứng khoán được mua theo thời điểm mua bán chứ không theo thời điểm chi trả.

Logarithm / Lôgarít

Lôgarít của một số là một số mà khi cơ số của nó nâng lên số mũ là giá trị của lôgarit thì bằng số đó.

Cash Reserve / Dự Trữ Tiền Mặt

Thuật ngữ này có nghĩa: 1. Tiền mặt trong kho an toàn của ngân hàng có thể được dùng để thoả mãn các quy định dự trữ của ngân hàng hội viên. Tiền mặt có trong tay bao gồm tiền giấy và tiền đồng, có thể được dùng để đáp ứng các quy định dự trữ theo luật pháp. 2. Xoay tua mức tín dụng tối đa (line of credit) kèm theo tài khoản chi phiếu cho phép người tiêu thụ viết chi phiếu có số lượng cao hơn số cân đối tài khoản mà không phải chi trả phí thấu chi. Nó còn được gọi là Cash Reserve Checking hay Overdraft Protection.

Bretton Woods / Chế Độ Tiền Tệ Bretton Woods

Khu du lịch New Hampshire ở Mỹ, tại đây Hôi nghị tài chính của Liên hợp quốc đã được tổ chức vào năm 1944 để thảo luận vấn đề thanh toán quốc tế sau chiến tranh.Hội nghị Bretton Woods diễn ra ở Bretton Woods-New Hamshire-Mỹ năm 1944, thống nhất mức tỷ giá cố định cho các đồng tiền chính và cho phép ngân hàng trung ương được can thiệp vào thị trường tiền tệ. Chế độ Bretton Woods quy định một ounce vàng có giá 35 đôla. Chế độ này tồn tại trong vòng gần 30 năm sau đó sụp đổ (1945-1971).

Investment Criteria / Các Tiêu Chuẩn Đầu Tư

(Đối với các nước đang phát triển). Các tiêu chuẩn được đề ra nhằm làm cơ sở cho việc phân bố các nguồn lực đầu tư.

Investment Company / Công Ty Đầu Tư

Công ty đầu tư là một công ty tập trung quỹ vốn chung của các nhà đầu tư nhỏ vào chứng khoán trái phiếu và cùng thực hiện các mục tiêu đầu tư mà các nhà đầu tư đề ra. Nó cung cấp cho các người góp vốn- nhà đầu tư- các dịch vụ quản lý chuyên nghiệp, đa dạng hóa và linh hoạt mà nếu là một cá nhân thì khó có thể thực hiện được. Thực chất công ty đầu tư là một tổ chức liên kết của nhiều nhà đầu tư, dựa trên qui mô vốn lớn họ có thể đạt được các mục tiêu đầu tư một cách dễ dàng hơn khi tham gia mua bán chứng khoán. Có hai loại công ty đầu tư cơ bản: Một là, công ty đầu tư mở rộng, hay gọi là quỹ tương hỗ đầu tư, có một số lượng cổ phần thả nổi trong công chúng và sẵn sàng bán hay thu hồi theo giá trị tài sản thuần hiện hành của cổ phần đó. Các công ty mở rộng lại được chia làm hai loại: Quỹ có phí (công ty phát hành trái phiếu) được bán trên thị trường ngoài danh mục (thị trường không chính thức) bởi những người môi giới tự mua bán, người này không nhận hoa hồng thương vụ, thay vào đó họ cộng "phí tải" (loading fee) vào trị giá chứng khoán trái phiếu lúc mua vào. Phí này tiếu biểu là 8,5%. Quỹ không phí, chứng khoán trái phiếu được bán một cách trực tiếp, tất nhiên sẽ không tính phí tải, nhưng dù sao cũng có thu các phí nhỏ về quản lí và điều hành. Hai là, công ty đầu tư có giới hạn người tham gia, hay còn gọi là ủy thác đầu tư, giống như công ty kinh doanh, nó có một số cổ phần nhất định trong công chúng và được mua bán như chứng khoán trên các thị trường chính.

Công Ty Đầu Tư (Investment Company) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Công Ty Đầu Tư (Investment Company) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Cash Ratio / Tỷ Số Tiền Mặt

Tỷ lệ tổng tiền mặt cộng với chứng khoán đầu tư ngắn hạn chiếm trong tổng tài sản ngân hàng; tỷ số thanh khoản.

Investment Banking / Nghiệp Vụ Ngân Hàng Đầu Tư

Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư là hoạt động xử lý với công việc tạo vốn cho doanh nghiệp. Ngoài ra, nghiệp vụ này còn bao gồm việc đóng vai trò như đại lý hoặc đơn vị bảo lãnh cho các doanh nghiệp trong quá trình phát hành chứng khoán: qua các đợt IPO hoặc SPO. Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư còn có chức năng cố vấn cho các doanh nghiệp với các vấn đề trong phạm vi phát hành và mua/thâu tóm cổ phần và M&A.

Nghiệp Vụ Ngân Hàng Đầu Tư (Investment Banking) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Nghiệp Vụ Ngân Hàng Đầu Tư (Investment Banking) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Dividend Yield / Tỷ Suất Cổ Tức

Cổ tức là khoản tiền mà các công ty trích ra từ lợi nhuận để trả cho cổ đông. Người ta thường tính cổ tức trên một cổ phiếu. Tuy nhiên khi so sánh cổ tức giữa các công ty lại phải quan tâm tới tỷ suất cổ tức, đây là một tỷ lệ phần trăm giữa cổ tức và trị giá cổ phiếu. Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ cổ tức bạn sẽ nhận được so với số tiền bạn phải trả để mua cổ phiếu. Ví dụ, nếu bạn nhận được 2 đôla Mỹ hàng năm từ mỗi cổ phiếu và thị giá cổ phiếu là 50 đôla thì tỷ suất cổ tức sẽ là 4%. Không phải bất cứ cổ phần nào cũng đem lại cho bạn cổ tức. Nếu một công ty đang tăng trưởng nhanh có thể làm lợi cho các cổ đông bằng cách tái đầu tư, trong trường hợp đó, nó sẽ không trả cổ tức. Ví dụ công ty Microsoft không trả cổ tức nhưng các cổ đông của công ty không hề phàn nàn gì về điều này. Như vậy một cổ phiếu không được trả cổ tức, tương đương với tỷ suất cổ tức giảm, không hẳn là cổ phiếu của công ty đang làm ăn thua lỗ. Tuy nhiên, rất nhiều nhà đầu tư muốn được trả cổ tức, đặc biệt là các nhà đầu tư ở tuổi sắp nghỉ hưu, vì cả lý do thu nhập và an toàn. Tuy nhiên cũng không nên chỉ tìm mua những cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao bởi vì bạn có thể sẽ nhanh chóng gặp rắc rối. Giả sử cổ phiếu nói trên có cổ tức 2 đôla và tỷ suất cổ tức 4%, tức là cao hơn hẳn tỷ suất trung bình của thị trường là 2%. Điều này không có nghĩa là mua cổ phiếu đó là tốt nhất. Hãy xem xét điều gì sẽ xảy ra nếu công ty đó không thực hiện được kế hoạch thu nhập và giá cổ phiếu sụt trong vòng 1 đêm từ 50 xuống còn 40 đôla một cổ phiếu. Điều đó có nghĩa là giá cổ phiếu giảm 20% và đẩy tỷ suất cổ tức lên tới 5% (2đôla/40 đôla). Liệu bạn có muốn đầu tư vào một cổ phiếu như vậy chỉ vì tỷ suất cổ tức cao hơn? Có lẽ là không. Ngay cả khi tìm mua những cổ phiếu cho nhiều cổ tức, bạn cũng phải chắc chắn là công ty đó không có vấn đề gì về tài chính. Khi bạn tìm mua những cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao, bạn cần xem xét tỷ lệ trả cổ tức của công ty. Chỉ số này thể hiện tỷ lệ phần trăm lợi nhuận được trích ra để trả cho cổ đông dưới hình thức cổ tức. Nếu tỷ lệ này vượt quá 75% có nghĩa là công ty không tái đầu tư lợi nhuận một cách hợp lý. Một tỷ lệ trả cổ tức cao thường hàm ý là thu nhập của công ty được sử dụng phần lớn để trả cho cổ đông và có nghĩa là công ty đang cố gắng thu hút các nhà đầu tư mua cổ phiếu của mình.

Investment Bank / Tổ Chức Ngân Hàng Đầu Tư

Ngân hàng đầu tư là tổ chức trung gian tài chính cung cấp dịch vụ tài chính trên phạm vi rộng, đa dạng. Các dịch vụ tài chính mà tổ chức này cung cấp bao gồm bảo lãnh phát hành, đóng vai trò đơn vị trung gian giữa tổ chức phát hành chứng khoán với công chúng đầu tư; hỗ trợ và thúc đẩy các thương vụ M&A, hoạt động tái tổ chức doanh nghiệp và đóng vai trò môi giới cho các giao dịch của khách hàng tổ chức lớn.Vai trò của ngân hàng đầu tư bắt đầu từ vị trí của người giám sát trước bảo lãnh phát hành và tiếp tục cho đến vai trò đơn vị tư vấn phân phối chứng khoán.Ngân hàng đầu tư là tổ chức đóng vai trò bảo lãnh hoặc đại lý cho các doanh nghiệp hoặc cơ quan chính phủ trong phát hành chứng khoán. Hầu hết các NHĐT còn đóng vai trò môi giới/kết nối giao dịch, tạo thị trường cho chứng khoán phát hành và cung cấp các dịch vụ tư vấn cho nhà đầu tư. Ngân hàng đầu tư cũng có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy các thương vụ M&A, các thương vụ mua lại cổ phần riêng và tái cấu trúc doanh nghiệp. Khác với dạng thức ngân hàng truyền thống, ngân hàng đầu tư không nhận tiền gửi tiết kiệm và cũng không cho vay cá nhân.

Cash Price / Giá Tiền Mặt (Giá Thanh Toán Ngay)

Giá cả hàng hoá thường được xác định dựa trên cung và cầu. Nếu một hàng hoá có nguồn cung dồi dào, giá hàng hoá đó sẽ thấp. Nếu hàng hoá đó là mặt hàng khó kiếm, giá của nó sẽ cao. Cung và cầu của rất nhiều hàng hoá biến động trong một chu kỳ mùa vụ có thể dự đoán trước được. Cà chua sẽ rẻ nhất vào mùa hè khi nguồn cung cà chua phong phú (đồng thời là mùa cà chua thơm ngon nhất), và sẽ đắt nhất vào mùa đông khi đã hết vụ cà chua. Các nhà sản xuất súp sẽ phải lập kế hoạch thời vụ sản xuất sao cho tận dụng được cà chua chất lượng cao nhất mà chỉ phải mua với giá thấp nhất. Tuy nhiên, không phải lúc nào mọi việc cũng diễn biến như vậy. Nếu một trận hạn hán làm thiệt hại một vụ lúa mỳ ở miền Trung Đông, giá thanh toán bằng tiền mặt của lúa mỳ sẽ tăng lên do các cửa hiệu bánh đã mua hết toàn bộ thị trường để tránh thiếu hụt hàng trong một khoảng thời gian ngắn nào đó. Hoặc nếu các rối loạn chính trị ở miền Trung Đông đe doạ nguồn cung dầu, giá dầu tại các trạm xăng sẽ tăng lên do dự đoán là có trở ngại về nguồn vật tư cung ứng.

Investment Appraisal / Thẩm Định Đầu Tư

Thẩm định đầu tư là một quá trình đánh giá khả năng mong muốn của các đề nghị đầu tư, bao gồm: việc thay thế các thiết bị và máy móc hư hỏng, thiết lập một cơ xưởng mới, tiếp quản một công ty khác, mở mang sản phẩm mới, một chiến dịch kích thích việc buôn bán… Thông thường, khả năng mong muốn của việc đầu tư khu vực tư sẽ được xem xét dưới dạng lợi nhuận phát sinh và các chủ  nhân sẽ chọn những dạng đầu tư nào hứa hẹn lợi nhuận lớn nhất. Tương tự, các nhà quản lý sẽ ước tính các dòng lưu kim, phối hợp với ưu tiên dự án và phần thưởng của dự án hứa hẹn sự đóng góp tốt nhất đối với dòng lưu kim tương lai.

Dividend Warrant / Chứng Chỉ Cổ Tức

Đây là chi phiếu về cổ tức, ghi trên mặt chi phiếu là số cổ tức và số thuế được trừ ra. Ở một vài quốc gia chứng chỉ cổ tức được nộp cho cơ quan thuế để đòi trả lại tiền khi bản thân người có chứng chỉ không có nợ thuế.

Cash Position / Tình Hình Tiền Mặt

1. Các tài sản tiền mặt trong ngân hàng, đồng nghĩa với khả năng thanh khoản. Đặc biệt, tình hình tiền mặt là số đo lường tiền mặt có trong tay, bao gồm tiền mặt trong két an toàn và tiền mặt của giao dịch viên, tiền mặt có thể có được từ việc bán các tài sản ngắn hạn, như thẻ tiết kiệm, chứng khoán, chính phủ, thỏa thuận mua lại... Cũng bao gồm cả tài khoản dự trữ vượt mức tại ngân hàng dự trữ liên bang hay ngân hàng chi nhánh, tiền gửi tại các ngân hàng khác, và các chi phiếu trong quá trình thu. 2. Ngân quỹ trong tài khoản dự trữ của ngân hàng tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang hay ngân hàng trung gian.

Dividend Signaling / Tác Động Tín Hiệu Của Cổ Tức

Lý thuyết này phát biểu rằng, tất cả các thông báo của công ty về việc chi trả cổ tức nhiều hơn được xem như là một tín hiệu cho thấy công ty đang sở hữu nhiều dự án triển vọng trong tương lai, nói cách khác là công ty đang rất ăn nên làm ra. Sự hợp lý đằng sau các mô hình tác động tín hiệu của cổ tức chính là lý thuyết trò chơi. Một nhà quản lý có các cơ hội đầu tư tốt dường như có vẻ muốn phát tín hiệu cho nhiều nhà đầu tư khác cũng thấy điều đó, và như vậy anh ta mới có thể kiếm lợi được. Qua nhiều năm, khái niệm tác động tín hiệu của cổ tức có thể chỉ ra các vị thế khả quan trong tương lai của một doanh nghiệp hay không vẫn đang là một chủ đề được tranh luận nóng bỏng. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng thị trường phản ứng tích cực đối với các thông tin chi trả cổ tức nhiều hơn. Phần lớn các cuộc thử nghiệm cũng cho thấy tác động tín hiệu của cổ tức luôn xảy ra trong cả trường hợp công ty thông báo chi trả cổ tức nhiều hơn hay ít hơn. Lý thuyết về tác động tín hiệu của cổ tức cũng được xem là một nội dung chủ chốt được những người đề xướng về thị trường không hiệu quả sử dụng. Mặc dù vậy, vẫn có những luồng ý kiến khác về tác động tín hiệu của cổ tức đáng được quan tâm. Một luồng ý kiến khác cho rằng, khi công ty quyết định chi trả cổ tức với mức cao hơn, đồng nghĩa là các cơ hội đầu tư trong tương lai không còn nhiều nữa, công ty không cần thiết phải giữ lại lợi nhuận quá nhiều để tái đầu tư. Vì theo lý thuyết thứ tự tăng vốn thì khi cần huy động vốn cho các dự án, lợi nhuận giữ lại là sự ưu tiên số 1. Do vậy nhà quản trị khi đưa ra bất cứ một quyết định nào về cổ tức cũng luôn luôn phải quan tâm đến tác động tín hiệu của nó. Bởi lẽ không có điều gì ảnh hưởng đến giá cổ phiếu nhanh hơn là các thông báo về chi trả cổ tức.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55