Involuntary Unemployment / Thất Nghiệp Không Tự Nguyện
Thất nghiệp sẽ được loại bỏ khi tổng cầu tăng lên, tổng cầu làm cho giá cả tăng lên và tiền công thực tế thấp đi.
Dollarization / Đô La Hóa
Đô la hóa là tình trạng mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm trên 30% trong tổng khối tiền tệ mở rộng bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi ngoại tệ. Đô la hóa được phân ra làm 3 loại như sau: Đô la hóa không chính thức là trường hợp đồng đô la được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó chính thức thừa nhận. Ở những nước có nền kinh tế bị đô la hóa không chính thức, phần lớn người dân đã quen với việc sử dụng đồng đô la nhưng Chính phủ vẫn cấm niêm yết giá hàng hóa bằng đô la, cấm dùng đô la đối với hầu hết giao dịch trong nước. Đô la hóa bán chính thức hay còn gọi là đô la hóa từng phần là tình trạng đồng đô la được sử dụng như một đơn vị kế toán, phương tiện trao đổi, dự trữ giá trị và phương tiện thanh toán trong khi đồng nội tệ vẫn tồn tại và lưu thông. Đồng đô la có chức năng như một đồng tiền hợp pháp thứ hai của nền kinh tế. Các nước ở tình trạng này vẫn duy trì một Ngân hàng Trung ương để thực hiện chính sách tiền tệ của họ. Đô la hóa chính thức hay còn gọi là đô la hóa hoàn toàn xảy ra khi đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành. Nghĩa là đồng ngoại tệ không chỉ được sẻ dụng hợp pháp trong các hợp đồng giữa các bên tư nhân mà còn hợp pháp trong các khoản thanh toán của Chính phủ. Nếu đồng ngoại tệ còn tồn tại thì nó chỉ có vai trò thứ yếu và thường chỉ là đồng tiền xu hay các đồng tiền mệnh giá nhỏ. Thông thường, các nước chỉ áp dụng đô la hóa chính thức khi đã thất bại trong việc thực thi các chương trình ổn định kinh tế.
Buchanan, James M. / (1919-)
Nhà kinh tế học người Mỹ đạt giải Nobel về kinh tế học năm 1986 vì những đóng góp của ông đối với lý thuyết ra quyết định chính trị và SỰ LỰA CHỌN CÔNG CỘNG. Trong khi lý thuyêt kinh tế truyền thống có thể lý giaỉ cách thức NHỮNG NGƯỜI TIÊU DÙNG và các nhà sản xuất ra quyết định về mua hàng hoá và CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT,lý thuyết này lại không đề cập tới việc đưa ra quyết định kinh tế trong KHU VỰC CÔNG CỘNG. Bị ảnh hưởng bởi MÔ HÌNH TRAO ĐỔI TỰ NGUYỆN CỦA WICKSELL, Buchanan coi diễn biến chính trị như một phương tiện hợp tác để đạt được những lợi thế có đi có lại. Động thái và kết quả của quá trình này sẽ phụ thuộc vào "luật chơi", do đó Buchanan đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự lựa chọn những quy tắc tổ chức này: Kết quả cụ thể của các chính sách đều có thể đoán được và được định trước bởi chính các quy tắc trên. Buchanan đã có hơn 20 cuốn sách và 300 bài báo được xuất bản.
Loss Offsetting Provisions / Các Điều Khoản Bù Lỗ
Thường nói đến thoả thuận, theo đó các khoản lỗ của một dự án có thể được bù lại bởi thu nhập từ các nguồn khác.
Most Favoured Nation Clause / Điều Khoản Tối Huệ Quốc
Là điều khoản trong một hợp đồng thương mại quốc tế quy định rằng các bên tham gia hợp đồng có nghĩa vụ phải dành cho nhau sự đối xử mà họ dành cho bất kỳ nước nào khác trong lĩnh vực thuế xuất nhập khẩu và trong các quy định khác về thương mại.
Dollar-Cost Averaging - DCA / Chiến Thuật Trung Bình Hóa Chi Phí Đầu Tư
Chiến thuật trung bình hóa chi phí đầu tư hay chiến thuật bình quân giá chi phí đô la (Dollar-Cost Averaging - DCA) là một chiến thuật đầu tư đơn giản, hữu ích, với chi phí đầu tư thấp và nó làm giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ có vốn đầu tư hạn chế. Trung bình hóa chi phí đầu tư (DCA): Là chiến thuật đầu tư một lượng tiền cố định vào một chứng khoán riêng lẻ dựa trên một kế hoạch thường xuyên trong một thời gian dài, bất chấp giá của chứng khoán như thế nào. Khi thị trường sụt giảm (bear market), với một số tiền đầu tư nhất định đó bạn sẽ mua được nhiều chứng khoán với giá thấp và khi thị trường lên (bull market), cũng với một số tiền đầu tư nhất định bạn sẽ mua được ít chứng khoán với giá cao. Điều này được nhắc đến như là một “kế hoạch đầu tư ổn định”. Cuối cùng, Chi phí trung bình tính trên chứng khoán đầu tư sẽ trở nên ngày càng nhỏ hơn. Trung bình hóa chi phí đầu tư làm giảm rủi ro đầu tư một số tiền lớn vào một chứng khoán riêng lẻ tại thời điểm bất lợi. Hãy phân tích chiến thuật trên bằng một ví dụ. Giả sử rằng gần đây bạn có một khoản tiền thưởng do hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc của mình (chỉ tưởng tượng), và bây giờ bạn có $10,000 để đầu tư. Thay vì đầu tư hết toàn bộ số tiền vào một quỹ tương hỗ hoặc vào một chứng khoán, thì với DCA, bạn sẽ dàn trải vốn đầu tư của mình trong nhiều tháng. Mỗi tháng bạn đầu tư $2,000 và kéo dài trong 05 tháng tiếp theo, “làm bình quân” giá trong 05 tháng. Vậy, một tháng nào đó bạn có thể mua cổ phiếu với giá cao (số cổ phiếu được mua sẽ ít), và tháng kế tiếp bạn có thể mua được nhiều cổ phiếu hơn vì giá thấp, ... Chiến thuật này thì cũng có thể áp dụng đối với nhà đầu tư không có số tiền thật lớn khi mới đầu tư, nhưng họ có thể đầu tư với những khoản tiền nhỏ một cách thường xuyên. Đây là cách mà bạn có thể góp một số tiền nhỏ $25 đến $50 một tháng cho một khoản đầu tư như quỹ chỉ số chứng khoán. Hãy nhớ rằng chiến thuật trung bình hóa chi phí đầu tư không ngăn được sự tổn thất trong một thị trường sụt giảm liên tục, nhưng nó khá hiệu quả trong việc tận dụng lợi thế về tăng trưởng trong thời kỳ dài hạn.
Loss Leader Pricing / Bán Hạ Giá Trước
Khi các doanh nghiệp có hàng hoá đa dạng choà bán một phần trong loạt sản phẩm của họ ở mức giá thấp hơn chi phí, và tin rằng điều này sẽ thúc đảy việc tiêu thụ các sản phẩm có chênh lệch lợi nhuân cao hơn.
Invisible Hand / Bàn Tay Vô Hình
Một cụm thuật ngữ chỉ một quá trình phối hợp không trông thấy được nhằm đảm bảo cho sự nhất quán của các kế hoạch cá nhân trong nền kinh tế thị trường phi tập trung.
Thuyết “Bàn tay vô hình” được Adam Smith – nhà kinh tế học người Scotland đưa ra trong những năm của thế kỉ 18 mà giá trị cuả nó đến nay vẫn còn được công nhận. Theo Adam Smith thì “Bàn tay vô hình” có nghĩa là: "Trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân tham gia muốn tối đa hóa lợi nhuận cho mình. Ai cũng muốn thế cho nên vô tình chung đã thúc đẩy sự phát triển và củng cố lợi ích cho cả cộng đồng." Ông dùng thuật ngữ này mô tả khả năng của cơ chế thị trường trong việc điều chỉnh cung cầu trên thị trường. Và ví sức mạnh của cơ chế thị trường như bàn tay vô hình định hướng người bán và người mua, phân bố nguồn lực kinh tế đạt được hiệu quả xã hội lớn nhất mà không cần sự can thiệp của chính phủ. Theo quan điểm của A.Smith chính phủ chỉ nên giữ chức năng quản lý. Bởi, "Chính bàn tay vô hình với tư cách là cơ chế tự cân bằng của thị trường cạnh tranh làm cho phúc lợi cá nhân và hiệu quả kinh tế đạt tối đa. Trong khi chạy theo lợi ích riêng của mình, con người phụng sự xã hội nhiều hơn anh ta chủ trương làm điều đó” Tư tưởng của Adam Smith thích hợp với chủ nghĩa tư bản trong một thời kì dài - thời kì tự do cạnh tranh. Nhưng về sau này, khi vấp phải những cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc thì những nhà kinh tế học khác lại kêu gọi đến bàn tay hữu hình của Nhà nước để điều chỉnh kinh tế. Để khắc phục những khuyết tật của cơ chế bàn tay vô hình, nền kinh tế hiện đại cần được điều hành bởi sự kết hợp giữa bàn tay vô hình của thị trường với bàn tay hữu hình của Nhà nước thông qua các kênh luật pháp, thuế và nhiều biện pháp kinh tế, tài chính khác.
Brussels Tariff Nomenclature / Biểu Thuế Quan Theo Hiệp Định Brussels
Sự phân loại tiêu chuẩn hàng hoá, được chấp nhận bởi đa số các nước trên thế giới, vì những mục đích về thuế quan.
Central Business District / Khu Kinh Doanh Trung Tâm
Một khu vực ở trung tâm các thành phố và đa số thị trấn lớn được sử dụng cho các hoạt động thương mại. Xem ACCESS/SPACE TRADE - OFF MODEL.
Investors In Industry / Các Nhà Đầu Tư Trong Công Nghiệp
Một công ty tài chính phát triển được ngân hàng Anh và Ngân hàng thanh toán London và Scotland thành lập năm 1946 gọi là Hiệp Hội Tài Chính Công Nghiệp Và Thương Mại (ICFC) với sự trợ giúp của chính phủ Anh nhằm lấp một trong những "lỗ hổng" của thị trường vốn Anh do uỷ ban Macmillan xác định.
Loss Given Default - LGD / Thiệt Hại LGD
Đây là số thiệt hại về vốn mà một ngân hàng hay các tổ chức tài chính phải gánh chịu khi những người vay từ họ mất khả năng thanh toán nợ. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số cách thức để tính toán được các khoản thiệt hại này, nhưng một trong những phương pháp tính toán được sử dụng nhiều nhất đó là phương pháp có so sánh giữa khoản thiệt hại thực tế và các khoản thiệt hại có thể phải gánh chịu vào thời điểm khách hàng mất khả năng thanh toán_phương pháp Gross LGD. Một phương pháp khác là tính toán dựa trên tỉ lệ thiệt hại chia phần vốn cho vay không có tài sản đảm bảo. Phương pháp này có tên gọi Blankco' LGD. Phương pháp Gross LGD được sử dung phổ biến bởi nó tương đối đơn giản, dễ sử dụng và các nhà nghiên cứu chỉ cần thu thập các số liệu trên thị trường trái phiếu, nơi mà giá trị của các tài sản đảm bảo là không rõ ràng, không thể tính toán được hoặc thậm chí là không hợp lý. Blankco' LGD trái lại, được một số ngân hàng (những người ưa thích thực tế hơn và cần những phân tích thực tế ) ưa thích hơn bởi họ có trong tay rất nhiều tài sản đảm bảo do đó họ muốn có sự tách bạch giữa các khoản thiệt hại trên lượng tín dụng có đảm bảo và thiệt hại trên lượng tín dụng không được đảm bảo. Blaknco' LGD được tính toán dựa trên mô hình Basel II nhưng cách tính toán tương đối phức tạp vì thế hiện nay nhiều ngân hàng vẫn chưa thể sử dụng cách tính này. Điều tất nhiên là các ngân hàng hay các định chế tài chính sẽ không chỉ đơn thuần là tính toán LGD đối với một khoản tín dụng duy nhất, thay vào đó, họ sẽ xem xét toàn bộ danh mục đầu tư của mình và tính toán LGD dựa trên các khoản thiệt hại tích lũy hay các khoản nợ khó đòi. Thông thường, các ngân hàng hay định chế tài chính sẽ tính toán thiệt hại từ hoạt động cấp tín dụng thông qua số vốn thực tế khách hàng đã vay mà không thanh toán được (actual loan defaults) tức là dựa trên các khoản lỗ thực tế. Mặc dù việc tính toán, lượng hóa các khoản thua lỗ nhìn chung là đơn giản, song trong một số trường hợp, việc tính toán này có thể gặp nhiều khó khăn chịu tác động của nhiều biến số. Ví dụ Nếu ngân hàng X cho công ty ABC vay 1 triệu đôla, sau đó công ty này bị phá sản và mất khả năng thanh toán. Thiệt hại của ngân hàng đối với khoản cho vay 1 triệu đôla không nhất thiết phải là 1 triệu đôla bới khi cho vay ngân hàng có thể yêu cầu công ty ABC có các tài sản thế chấp, do đó nếu cần thiết họ có thể yêu cầu tòa án tiến hành thanh lý tài sản này để thu hồi nợ. Có nhiều yếu tố tác động có thể khiến cho thiệt hại của ngân hàng thấp hơn nhiều so với con số 1 triệu đôla nói trên, và quá trình phân tích các biến số tác động tới các khoản cho vay trong danh mục đầu tư của ngân hàng cũng chính là quá trình tính toán xác định LGD của ngân hàng.
Mortgage Stock / Cầm Cố Chứng Khoán
Cầm cố chứng khoán (CK) là một nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán có ít nhất có hai chủ thể tham gia. Bên cầm cố là thành viên lưu ký nhân danh chính mình hoặc được người đi vay uỷ quyền giao chứng khoán cho bên nhận cầm cố; Bên cầm cố là thành viên lưu ký nhân danh chính mình hoặc được người cho vay uỷ quyền nhận cầm cố chứng khoán bên cầm cố. Việc thực hiện cầm cố chứng khoán trên cơ sở hợp đồng pháp lý chứng của hai chủ thể tham gia, trong đó quy định rõ giá trị CK cầm cố, số tiền vay, lãi suất và thời hạn trả nợ, phương thức xử lý CK cầm cố. Trung tâm giao dịch chứng khoán sau khi kiểm tra thủ tục, nhất là tính hợp pháp, hợp lý của nó thì trung tâm phải mở tài khoản cầm cố và chuyển CK vào tài khoản cầm cố theo yêu cầu của bên cầm cố. Trường hợp bên cho vay (hoặc bên vay) không phải là thành viên lưu ký, bên cho vay (hoặc bên vay) phải uỷ quyền việc nhận cầm cố CK (hoặc việc giao CK cầm cố) cho một thành viên lưu ký khác. Tài khoản cầm cố phải tách biệt với tài khoản lưu ký các CK khác của bên cầm cố. Sau khi ghi vào tài khoản cầm cố CK, thì phải đình chỉ việc rút, chuyển khoản hoặc chuyển nhượng các CK trên tài khoản cầm cố trong thời gian cầm cố. TTGDCK gửi thông báo bằng công văn cho bên nhận cầm cố về việc đã thực hiện cầm cố CK. Việc giải toả cầm cố CK được thực hiện theo các nguyên tắc: Người giải toả cầm cố CK phải là bên nhận cầm cố CK; Có thể giải toả toàn bộ hoặc một phần CK cầm cố bằng hình thức rút chứng chỉ hay chuyển khoản; Có văn bản đề nghị giải toả cầm cố CK của bên nhận cầm cố. Trên cơ sở đó, TTGDCK thực hiện huỷ bỏ việc cầm cố CK trong đăng ký người sở hữu CK và thông báo bằng văn bản cho người nhận cầm cố việc huỷ bỏ cầm cố CK và giải toả tài khoản cầm cố sang tài khoản khác. Nếu bên cầm cố CK thực hiện không đúng theo thoả thuận thì CK cầm cố đó được xử lý do các bên thoả thuận hoặc đưa ra bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
Loss Function / Hàm Thua Lỗ
Một hàm phi thoả dụng mà một nhà lập chính sách muốn tối thiểu hoá.
Dollar Certificate Of Deposite / Giấy Chứng Nhận Tiền Gửi Đôla
Giấy chứng nhận tiền gửi (CD) ghi bằng đola và được phát hành để được phát hành để đổi lấy tiền gửi bằng đôla.
Investor Relations / Quan Hệ Nhà Đầu Tư
Quan hệ nhà đầu tư là một mảng thuộc truyền thông doanh nghiệp chuyên về quản lí và công bố thông tin cho công chúng, ở cả công ty đại chúng và các công ty tư nhân do họ phải truyền thông với cộng đồng đầu tư nói chung. Mảng này có chức năng giải quyết các thắc mắc từ cổ đông và nhà đầu tư, cũng như những người có quan tâm đến cổ phiếu và tình hình ổn định tài chính của công ty. Thông thường, Phòng quan hệ nhà đầu tư sẽ báo cáo cho Giám đốc tài chính. Ở một số công ty, mảng quan hệ công chúng được quản lý bởi phòng Quan hệ công chúng hoặc phòng truyền thông doanh nghiệp. Hiện nay có rất nhiều công ty đại chúng có các cán bộ chuyên phụ trách quan hệ nhà đâu tư (IRO) có nhiệm vụ giám sát tất cả các vấn đề về họp đại hội cổ đông, họp báo, họp riêng với nhà đầu tư, mảng quan hệ nhà đầu tư trên website của công ty, và báo cáo thường niên của công ty.
Central Bank / Ngân Hàng Trung Ương
Cơ quan chính phủ thực hiện một số chức năng chính: (1) phát hành tiền tệ quốc gia; (2) điều tiết nguồn tín dụng trong nền kinh tế; (3) quản lý giá trị tiền tệ trong thị trường hối đoái; (4) duy trì tỉ lệ tiền gửi dự trữ của các ngân hàng trung ương khác; (5) hành động như cơ quan tài khóa cho chính quyền trung ương, khi chính phủ bán các đợt phát hành chứng khoán mới nhằm tài trợ cho các hoạt động chính phủ và (6) cố gắng duy trì trật tự cho nhũng chứng khoán này, bằng cách tham gia tích cực vào thị trường chứng khoán chính phủ. Hệ thống Dự trữ Liên bang, ngân hàng trung ương ở Hoa Kỳ điều tiết tín dụng ngân hàng bằng cách tăng hay giảm lãi suất chiết khấu và bằng cách mua và bán chứng khoán chính phủ trong thị trường mở. Quá trình này, được xem như là các hoạt động thị trường mở, nhằm mục đích kích thích tăng trưởng kinh tế ổn định, đồng thời kiểm soát tỷ lệ lạm phát. Các Ngân hàng trung ương khác là ngân hàng Anh quốc, Ngân hàng Trung ương Châu Âu và Ngân hàng Nhật Bản. Xem BANK FOR INTERNATIONAL SETTLEMENTS; BASEL COMMITTEE; INTERVENTION; MONETARY POLICY; SWAP NETWORK.
Central Bank là định chế tài chính quan trọng chịu trách nhiệm phát hành tiền, quản lý dự trữ ngoại hối, thực hiện chính sách tiền tệ, và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho chính phủ và các ngân hàng thương mại. Central Bank là cơ quan chính phủ thực hiện một số chức năng chính: (1) phát hành tiền tệ quốc gia; (2) điều tiết nguồn tín dụng trong nền kinh tế; (3) quản lý giá trị tiền tệ trong thị trường hối đoái; (4) duy trì tỉ lệ tiền gửi dự trữ của các ngân hàng trung ương khác; (5) hành động như cơ quan tài khóa cho chính quyền trung ương, khi chính phủ bán các đợt phát hành chứng khoán mới nhằm tài trợ cho các hoạt động chính phủ và (6) cố gắng duy trì trật tự cho nhũng chứng khoán này, bằng cách tham gia tích cực vào thị trường chứng khoán chính phủ. Hệ thống Dự trữ Liên bang, ngân hàng trung ương ở Hoa Kỳ điều tiết tín dụng ngân hàng bằng cách tăng hay giảm lãi suất chiết khấu và bằng cách mua và bán chứng khoán chính phủ trong thị trường mở. Quá trình này, được xem như là các hoạt động thị trường mở, nhằm mục đích kích thích tăng trưởng kinh tế ổn định, đồng thời kiểm soát tỷ lệ lạm phát. Các Ngân hàng trung ương khác là ngân hàng Anh quốc, Ngân hàng Trung ương Châu Âu và Ngân hàng Nhật Bản. Xem BANK FOR INTERNATIONAL SETTLEMENTS; BASEL COMMITTEE; INTERVENTION; MONETARY POLICY; SWAP NETWORK.
Brookings Model / Mô Hình Brookings
Mô hình này đã được sử dụng để phân tích cấu trúc của CHU KỲ KINH DOANH và cho đánh giá CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, TÀI CHÍNH và TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ. Mô hình đánh dấu một bước quan trọng trong việc thống nhất nhiều thành phần khác nhau của nền kinh tế thành một quy mô lớn nhưng quản lý được, đây là một cột mốc trong việc phát triển các mô hình kinh tế lượng.
Mortgage Loan / Cho Vay Có Tài Sản Thế Chấp
Đây là thuật ngữ để chỉ các khoản cho vay được bảo đảm bởi các tài sản thế chấp. Thông thường các khoản cho vay có thế chấp chịu mức lãi thấp hơn so với các hình thức cho vay khác bởi vì giá trị của chính tài sản thế chấp đã phần nào giảm bớt rủi ro đối với người cho vay. Thường thì các khoản cho vay có thế chấp là các khoản nợ dài hạn, việc thanh toán định kì của khoản nợ này cũng tương tự như việc bạn mua trả góp một món đồ, được tính toán dựa trên công thức giá trị tiền tệ theo thời gian. Các chủ nợ thường cho vay trên cơ sở là người vay sẽ phải trả một khoản tiền cố định hàng tháng trong khoảng thời gian từ 10 đến 20 năm, tuỳ từng điều kiện cụ thể. Trong khoảng thời gian này, tiền gốc của khoản vay sẽ được trả dần. Trên thực tế, việc cho vay có thế chấp ở các quốc gia và ngay giữa các vùng của một quốc gia có nhiều nét khác biệt. Những người cho vay thường ưa thích cho vay bằng tiền hơn là cho vay bằng tài sản vì họ sẽ nhận được tiền lãi. Lượng tiền mà họ cho vay có thể do tự huy động được thông qua việc phát hành trái phiếu hoặc nhận tiền gửi tiết kiệm. Chính vì vậy chi phí huy động tiền của người cho vay sẽ quyết định tới giá mà anh ta cho vay. Ở nhiều quốc gia, người cho vay có thể bán lại khoản nợ có thế chấp này cho một bên thứ ba muốn nhận được thanh toán của người đi vay. Khi cho vay có thế chấp, người cho vay cũng đồng thời phải xác định mức độ rủi ro của khoản vay bao gồm rủi ro về mặt lãi suất, rủi ro về tài chính và thanh toán chậm của khách hàng. Nếu người vay không thanh toán được nợ, người cho vay sẽ thanh lý tài sản thế chấp, thu lại một phần hoặc toàn bộ tiền gốc. Có rất nhiều loại hình thế chấp được sử dụng trên thế giới, tuy nhiên các loại hình này đều có chung một số đặc tính nhất định và chịu sự điều chỉnh của luật pháp mỗi nước. Lãi suất đối với khoản cho vay này có thể là cổ định hoặc được điều chỉnh lại tại các mốc thời gian đã định trước giữa các bên. Người đi vay có thể trả nợ dần qua các kì và do đó kéo dài được thời gian vay nợ. Số tiền thanh toán của mỗi kì có thể là như nhau hoặc tăng giảm dần tuỳ theo thoả thuận của các bên. Tuy nhiên một số ngân hàng và công ty tài chính có thể sẽ yêu cầu người vay thanh toán toàn bộ số nợ vào một ngày xác định.
Loss Aversion / Sự Không Thích Mất Mát
Một giả thiết cho rằng ĐỘ PHI THOẢ DỤNG do bị mất một hàng hoá nhiều hơn so với độ thoả dụng của hàng hoá ấy.






