ISO-Product Curve / Đường Đẳng Sản Phẩm
(Còn được gọi là đường bàng quan của người sản xuất hay đường đẳng lượng). Một đường đẳng sản phẩm là tập hợp các tổ hợp của hai hay nhiều ĐẦU VÀO tạo ra cùng một mức SẢN LƯỢNG.
Ceteris Paribus / Các Yếu Tố Khác Không Thay Đổi
Ceteris Paribus là một thuật ngữ Latinh được sử dụng thường xuyên trong kinh tế học . Nó có nghĩa là : các yếu tố khác không thay đổi.Đối với các môn khoa học trong phòng thí nghiệm, việc thực hiện các thí nghiệm mà chỉ có những biến số quan tâm được thay đổi còn các yếu tố khác được giữ nguyên là hoàn toàn có thể làm được. Tuy nhiên đối với kinh tế học, phòng thí nghiệm là thế giới thực, các yếu tố luôn luôn vận động không ngừng, nên nhìn chung các nhà kinh tế học khó có thể thực hiện được những thí nghiệm hoàn hảo như ý muốn. Vì thế, muốn kiểm tra các giả thuyết về mối quan hệ giữa các biến số kinh tế, các nhà kinh tế thường phải giả định các yếu tố không xét đến trong mối quan hệ cần kiểm tra là không thay đổi.
Buffer Stocks / Kho Đệm, Dự Trữ Bình Ổn
Các lượng hàng hoá được dự trữ để khắc phục biến động giá cả đối với các mặt hàng cơ bản.
Double Taxation And Double Taxation Relief / Đánh Thuế Hai Lần Và Tránh Đánh Thuế Hai Lần
Một cá nhân hay tổ chức có thu nhập ở nước ngoài có thể phải chịu THUẾ thu nhập đó ở cả nước ngoài và nước bản địa.
Moving Average Convergence Divergence - MACD / MACD
Đây là một chỉ số được sử dụng nhiều trong phân tích kĩ thuật, thể hiện xu thế thị trường, cho thấy mối quan hệ giữa hai mức bình quân trượt của giá cả. MACD được tính toán bằng cách lấy chỉ số EMA (mức bình quân trượt EMA) của 12 ngày trừ đi chỉ số EMA của 26 ngày liên tiếp. Mức EMA 9 ngày của MACD, còn được gọi là đường dấu hiệu, sẽ được vẽ trên đỉnh của MACD, thể hiện dấu hiệu mua vào hay bán ra. Thông thường, có ba cách diễn giải MACD:Xét các giao điểm: như trên đồ thị đã chỉ rõ, khi MACD xuống dưới đường dấu hiệu, khi đó thị trường có xu hướng đi xuống, và đây có thể là thời điểm để bán ra. Ngược lại, khi MACD lên trên đường giới hạn, thị trường có xu hướng đi lên (bullish), giá các tài sản có thể sẽ tăng, và đây là thời điểm tốt để mua vào. Rất nhiều nhà đầu tư chờ đợi đến khi có thể chắc chắn được các giao điểm nằm bên trên đường giới hạn rồi mới tiến hành mua vào nhằm tránh rủi ro. (thể hiện bằng mũi tên đầu tiên trên đồ thị).Phân kì: khi giá chứng khoán vượt ra khỏi MACD, đó là dấu hiệu cho thấy xu thế hiện tại đã kết thúc, xu thế mới đang xuất hiện. Tăng đột biến: Khi MACD tăng đột biến, tức là khi đường bình quân trượt ngắn hạn bị tách ra khỏi đường bình quân trượt dài hạn hơn, đây là dấu hiệu cho thấy hoạt động mua bán chứng khoán đang nóng quá mức, và do đó nó sẽ sớm trở về mức thông thường. Các nhà đầu tư cũng thường xem xét các chuyển động lên xuống quanh đường Zero vì nó sẽ cho thấy mối tương quan giữa đường bình quân trượt ngắn hạn và dài hạn. Khi MACD trên mức zero, đường bình quân ngắn hạn sẽ nằm trên đường bình quân dài hạn, thể hiện rằng thị trường có xu hướng đi lên. Ngược lại, khi MACD thấp hơn mức zero, thị trường có xu hướng đi xuống. Như trên đồ thị thể hiện thì đường zero nằm trong phần diện tích giữa đường kháng cự và hỗ trợ.
Budgetary Control / Kiểm Soát Ngân Sách
Một hệ thống qua đó kiểm tra được tiến hành đối với các nguồn thu và chi cho các mục tiêu được định ra trong ngân sách. Mục đích là khám phá xem kết quả đã chệch hướng mục tiêu ở mức độ nào để có những hành động vào thời gian thích hợp nhằm đưa các luồng phù hợp với mục tiêu mong muốn.
ISO-Cost Curve / Đường Đẳng Phí
Đương cong hay đường thẳng mô tả tổ hợp của hai đầu vào bất kỳ có thể mua được với một số tiền cố định.
Double Taxation / Đánh Thuế Đúp
Việc đánh thuế đúp (còn gọi là đánh thuế hai lần) có thể là sức cản lớn cho các giao dịch vốn và lao động quốc tế. Do vậy, nhiều nước đã thương lượng để có được một hiệp định tránh đánh thuế hai lần. Đánh thuế đúp được định nghĩa như sau: đánh thuế thu nhập và lợi nhuận trước hết ở trong nước phát sinh ra khoản thu nhập và lợi nhuận này, về sau đó, khi các khoản thu nhập và lợi nhuận này được chuyển về nước của người đó lại bị đánh thuế một lần nữa.
Certified Check / Chi Phiếu Bảo Chi, Séc Bảo Chi
Chi phiếu công ty hay cá nhân được đóng dấu chi trả với sự chứng thực của ngân hàng rằng: (1) chữ ký của người lập chi phiếu là xác thực; và (2) có đủ tiền trong tài khoản nhằm chi trả chi phiếu. Sau khi được chứng thực, một chi phiếu trở thành khoản nợ của ngân hàng, và được chi trả bởi quỹ của ngân hàng. Ngân hàng tính phí cho việc chứng thực các chi phiếu. Ngược với chi phiếu tiền mặt (séc tiền mặt).
Budget Surplus / Thặng Dư Ngân Sách
Thu nhập hiện tại vượt chi tiêu hiện tại. Thường được sử dụng nhiều nhất để được miêu tả tình trạng trong đó thu nhập của chính phủ, thu từ thuế vượt để chi tiêu của chính phủ.
Một tình huống trong đó thu nhập vượt quá chi phí. Thuật ngữ "thặng dư ngân sách" thường được sử dụng để chỉ tình hình tài chính của các chính phủ, còn đối với các cá nhân thì dùng từ "lợi nhuận" hơn là một "thặng dư ngân sách". Thặng dư là một dấu hiệu cho thấy chính phủ đang hoạt động hiệu quả. Thặng dư ngân sách có thể được sử dụng để trả nợ, tiết kiệm cho tương lai, hoặc để mua một mặt hàng mong muốn mà trước đây trì hoãn. Chẳng hạn, một chính quyền thành phố có thặng dư ngân sách thì có thể sử dụng để thực hiện các cải tiến cho một bãi đậu xe đang xuống cấp. Khi chi tiêu vượt quá thu nhập, kết quả là thâm hụt ngân sách, cần phải được tài trợ bằng cách vay tiền và trả lãi suất vốn vay, giống như một người chi tiêu nhiều hơn khả năng của bản thân anh ta và cân bằng lại bằng cách sử dụng thẻ tín dụng. Một ngân sách cân bằng xảy ra khi chi tiêu bằng thu nhập. Chính phủ Mỹ chỉ có thặng dư ngân sách trong một vài năm kể từ năm 1950. Chính quyền Clinton (1993-2001) nổi tiếng là giải quyết được thâm hụt ngân sách lớn và tạo ra một thặng dư trong những năm cuối thập niên 90.
Islamic Development Bank / Ngân Hàng Phát Triển Hồi Giáo
Một ngân hàng phát triển khu vực được Tổ chức Hội nghị đạo hồi thành lập năm 1974 nhằm khuyến khích tăng trưởng kinh tế ở các nước và cộng đồng hồi giáo.
Budget Line / Đường Ngân Sách
Một đường trong Không gian hàng hoá chỉ ra những tổ hợp mà người tiêu dùng có thể mua đựơc ở mức thu nhập nhất định.
Certificate Of Origin - C/O / Giấy Chứng Nhận Xuất Xứ
Là chứng từ do nhà sản xuất hoặc do cơ quan có thẩm quyền thường là Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt nam (VCCI) cấp để xác nhận nơi sản xuất hoặc khai thác ra hàng hóa. Nội dung của giấy này bao gồm tên và địa chỉ người mua, tên và địa chỉ người bán, tên hàng, số lượng, ký mã hiệu, lời khai của chủ hàng về nơi sản xuất hoặc khai thác hàng, xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Trên nguyên tắc công nhận lẫn nhau và đôi bên cùng có lợi, Việt Nam hiện đang thực hiện các loại mẫu C/O sau: Mẫu A: Áp dụng GSP (General System of Preferences). Mẫu D: Áp dụng CEPT (Common Effective Preferences Tariff). Mẫu T: Áp dụng cho mặt hàng dệt xuất khẩu qua thị trường EU. Ngoài ra, trên thực tế còn một số loại mẫu C/O sau: Mẫu B: Dùng cho tất cả các loại hàng hoá xuất khẩu đi các nước. Mẫu O: Dùng cho mặt hàng cà phê XK qua các nước thuộc Hiệp hội cà phê thế giới. Mẫu X: Dùng cho mặt hàng cà phê xuất khẩu qua các nước không thuộc Hiệp hội cà phê thế giới. Mẫu C/O tái xuất (Certificate of Re-Export): Do nước lai xứ cấp. Tính pháp lý của C/O Do cơ quan hay tổ chức có thẩm quyền của nước xuất xứ hàng hoá cấp. Do nhà sản xuất cấp: Phải có xác nhận của cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền của nước cấp có liên quan. Do nước lai xứ cấp: Trường hợp hàng hoá có đi qua nước thứ 3 (nước lai xứ) để tập kết, chuyển tải, chuyển khẩu (kể cả trường hợp hàng hoá làm thủ tục nhập khẩu vào nước thứ ba sau đó tái xuất khẩu) nhưng không làm thay đổi xuất xứ hàng hoá, vẫn đảm bảo tính nguyên trạng, hoặc (nếu có) chỉ thực hiện một số hoạt động đơn giản để bảo quản hay đóng gói lại hàng hoá nhằm đảm bảo chất lượng hàng hoá, không làm thay đổi giá trị thương mại của hàng hoá. Trong trường hợp hàng hoá đi qua nhiều nước, thì “nước thứ 3” được xác định là nước cuối cùng mà từ đó hàng hoá được xuất khẩu đến Việt Nam-nước nhập khẩu. C/O do nước lai xứ cấp được chấp nhận tính pháp lý trong hai trường hợp sau: Nếu nước lai xứ cũng là nước được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan thì chấp nhận C/O do nước lai xứ cấp. Nếu nước lai xứ không là nước được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan thì chấp nhận C/O do nước lai xứ cấp kèm bản sao C/O của nước xuất xứ (là nước được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan của Việt Nam). Tại Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền cấp C/O bao gồm: Bộ Thương mại và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (được Bộ Thương mại uỷ quyền). Đối với hàng hoá sản xuất, chế biến, gia công tại KCN, KCX có đủ yêu cầu quy định về xuất xứ do ban quản lý các KCN, KCX cấp. Về hiệu lực của C/O: Về nguyên tắc, 01 C/O chỉ có hiệu lực đối với một lô hàng nhập khẩu cụ thể. Tuy nhiên, trên thực tế có một số khả năng sau: 01 C/O có thể được cấp và xác nhận xuất xứ cho nhiều mặt hàng thuộc một lô hàng nhập khẩu và chỉ có giá trị đối với lô hàng này. Trường hợp nhập khẩu hàng hoá có hợp đồng dài hạn từ 6 tháng trở lên từ các nước Việt Nam dành chế độ tối huệ quốc MNF (không bao gồm thiết bị, máy móc phương tiện vận chuyển) thì chỉ phải xuất trình C/O cho lần nhập khẩu đầu tiên, với điều kiện những lần nhập khẩu sau hàng hoá phải cùng chủng loại thuộc hợp đồng đó. Trường hợp có C/O cho cả một lô hàng nhưng chỉ thực nhập một phần của lô hàng đó thì chấp nhận C/O cấp cho cả lô hàng đó. Đối với C/O mẫu D có hiệu lực: 04 tháng (điều kiện bình thường). 06 tháng (điều kiện phải đi qua nhiều nước). Không quá 01 năm kể từ ngày giao hàng (trường hợp cấp sau). Về nguyên tắc, 01 C/O chỉ có hiệu lực đối với một lô hàng nhập khẩu cụ thể. Tuy nhiên, trên thực tế có một số khả năng sau: 01 C/O có thể được cấp và xác nhận xuất xứ cho nhiều mặt hàng thuộc một lô hàng nhập khẩu và chỉ có giá trị đối với lô hàng này. Trường hợp nhập khẩu hàng hoá có hợp đồng dài hạn từ 6 tháng trở lên từ các nước Việt Nam dành chế độ tối huệ quốc MNF (không bao gồm thiết bị, máy móc phương tiện vận chuyển) thì chỉ phải xuất trình C/O cho lần nhập khẩu đầu tiên, với điều kiện những lần nhập khẩu sau hàng hoá phải cùng chủng loại thuộc hợp đồng đó. Trường hợp có C/O cho cả một lô hàng nhưng chỉ thực nhập một phần của lô hàng đó thì chấp nhận C/O cấp cho cả lô hàng đó. Đối với C/O mẫu D có hiệu lực: 04 tháng (điều kiện bình thường). 06 tháng (điều kiện phải đi qua nhiều nước). Không quá 01 năm kể từ ngày giao hàng (trường hợp cấp sau).
Double Standard System / Chế Độ Hai Bản Vị
Chế độ hai bản vị - Double Standard SystemChế độ hai bản vị là chế độ tiền tệ mà pháp luật của nhà nước quy định hai loại kim loại vàng và bạc đồng thời làm kim loại tiền tệ, hai loại tiền vàng và tiền bạc được tự do đúc và có hiệu lực pháp lý thanh toán vô hạn.Căn cứ vào cách quy định về mối quan hệ trao đổi giữa tiền đúc bằng vàng và tiền đúc bằng bạc mà chia chế độ hai bản vị làm hai loại cụ thể:1. Chế độ bản vị song song: Là chế độ hai bản vị mà trong đó quy định tỷ lệ trao đổi giữa tiền vàng và tiền bạc trong lưu thông phụ thuộc vào giá trị thực tế của lượng vàng và lượng bạc chứa trong hai đồng tiền đó quyết định. Do đó, giá cả hàng hóa và dịch vụ trên thị trường tất nhiên được thể hiện bằng chỉ hai loại giá cả: Giá cả tính bằng tiền vàng và giá cả tính bằng tiền bạc. Hai loại giá cả này sẽ thay đổi theo sự thay đổi tỷ giá giữa kim lại vàng và kim loại bạc hình thành tự phát trên thị trường, vì vậy giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ bị hỗn loạn và dẫn đến sự hỗn loạn của thị trường2. Chế độ bản vị kép: Là chế độ hai bản vị mà trong đó quy định cụ thể tỷ giá trao đổi giữa tiền đúc bằng vàng và tiền đúc bằng bạc. Thông thường người ta gọi chế độ hai bản vị chủ yếu là chỉ chế độ bản vị kép này.Trong chế độ bản vị kép, Nhà nước quy định tỷ giá cố định giữa tiền vàng và tiền bạc để khắc phục tình trạng không ổn định của lưu thông hàng hóa do chế độ bản vị song song gây ra, nhưng lại xuất hiện hiện tượng "tiền kém trục xuất tiền tốt" ra khỏi lưu thông làm cho chế độ tiền tệ bị hỗn loạn nghiêm trọng.Khi hai loại tiền có giá trị thực tế không bằng nhau mà giá trị danh nghĩa của chúng được Nhà nước quy định tách rời khỏi giá trị thực của nó và cùng lưu thông theo giá trị danh nghĩa đó thì tiền có giá trị thực tế cao hơn (gọi là tiền tốt) sẽ bị đem nấu chảy thành kim loại để bán, do đó loại tiền này dần dần rút khỏi lưu thông, còn loại tiền kém là loại tiền có giá trị thực tế thấp hơn thì được đúc ra để đua vào lưu thông, do đó tràn ngập thị trường. Dưới tác động của quy luật này, thực tế trong chế độ hai bản vị kép chỉ còn một đồng tiền có giá trị thấp trong lưu thông. Đây là tiền đề cho sự ra đời của chế độ một bản vị sau này.
IS - LM Diagram / Lược Đồ IS - LM
Lược đồ mô tả việc xác định đông thời các giá trị cân bằng của lãi suất và mức thu nhập quốc dân do kết quả thực hiện các điều kiện trong thị trường hàng hoá và tiền tệ.
Certificate Of Deposit - CD / Chứng Chỉ Tiền Gửi
Chứng chỉ tiền gửi là văn bản do ngân hàng phát hành để chứng nhận rằng người sở hữu văn bản đã gửi tiền vào ngân hàng. Chứng chỉ tiên gửi thực chất là lời hứa trả một lượng tiền nhất định cho người sở hữu nó vào một thời điểm nhất định trong tương lai. Ở Mỹ và Anh, nó là loại trái phiếu "có thể trao đổi", nghĩa là có thể chuyển nhượng đơn giản bằng cách trao cho người mua. Vì vậy, chúng có khả năng thanh toán cao đối với người sở hữu, đồng thời đảm bảo nguồn vốn cho ngân hàng trong một thời gian. Lãi suất của chúng chỉ tiền gửi được trả sáu tháng một lần nếu chứng chỉ tiền gửi có thời hạn trên 1 năm và được trả khi đúng hạn nếu có thời hạn dưới một năm. Chứng chỉ tiền gửi áp dụng lần đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 60, sau đó được lưu hành ở Anh.
Một sản phẩm tài chính được ngân hàng cấp cho người chủ tài khoản, người mà đồng ý ký gửi nguồn tiền của họ trong một khoảng thời gian xác định trước. Điều này cho phép nhà đầu tư tích lũy được lãi suất hàng năm cao hơn, trong khi vẫn đảm bảo tiền của họ trong một trạng thái/thương vụ đầu tư ít rủi ro.
Certainty Equivalence / Mức Qui Đổi Về Tất Định
Trong những bối cảnh RỦI RO hay không chắc chắn, các biến số sẽ mang các giá trị với ít nhất 2 đặc tính.
Door To Door Selling / Bán Hàng Tận Cửa
Bán hàng tận cửa là một cách bán hàng mà người bán đi tới từng nhà một để bán sản phẩm hoặc dịch vụ của mình. Bán hàng tận cửa thường diễn ra vào buổi chiều hoặc tối khi mọi người ở nhà.Ở Anh, bán hàng tận cửa phổ biến nhất với sản phẩm Gas.Ở Mỹ, bán hàng tận cửa bị coi là phạm pháp.Đối với kiểu bán hàng này, sản phẩm khá đa dạng. Nhưng chủ yếu là những vật dụng và yếu phẩm như dụng cụ lau giặt, thực phẩm, sách báo, và các vật dụng thiết bị gia đình...v.v
Irreversibility / Tính Bất Khả Đảo; Tính Không Thể Đảo Ngược Được
Xét về phương diện TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN và môi trường, thuật ngữ này chỉ một hành động nào đó có những tác động không thể đảo ngược được một cách tuyệt đối hoặc do chi phí để làm như vậy là quá lớn.
Moving Average - MA / Trung Bình Trượt
Ở đây, tôi muốn đưa khái niệm Trung bình trượt được sử dụng cho phân tích kỹ thuật trong kinh doanh chứng khoán (không bàn tới khái niệm Trung bình trượt và hiệu ứng MA(q) của thống kê, kinh tế lượng). Trung bình trượt là số thống kê được sử dụng trong phân tích kĩ thuật, dùng để chỉ mức biến động bình quân của giá cả, thu nhập hay khối lượng giao dịch của các chứng khoántrong một khoảng thời gian nhất định. Trung bình trượt thường được sử dụng để đo lường các xung lực và xác định phạm vi kháng cự hay chống đỡ trên đồ thị phân tích, làm rõ các xu thế của thị trường hoặc để giảm nhẹ mức độ biến động của giá cả hay các nhân tố "gây nhiễu" ảnh hưởng đến việc diễn giải các đồ thị và dự đoán tình hình thị trường trong tương lai. Thông thường, ta có thể khẳng định một xung lực đẩy thị trường đi lên là chắc chắn nếu mức mức bình quân ngắn hạn cao hơn mức bình quân dài hạn (vd: mức bình quân trong vòng 50 ngày). Ngược lại xung lực đẩy thị trường đi xuống là chắc chắn khi mức bình quân ngắn hạn thấp hơn mức bình quân dài hạn. Khoảng biến thiên giữa giá trị ngắn hạn và giá trị dài hạn phụ thuộc vào các công thức tính được sử dụng, phương pháp tính, qua đó các thông số về mức bình quân trượt được phản ánh tương ứng. Có hai cách tính MA, có thể tính theo công thức đơn giản hoặc tính theo công thức số bình quân gia quyền. MA có lẽ là một trong các biến được sử dụng nhiều nhất trong phân tích kĩ thuật bởi số liệu này được sử dụng để hình thành các bảng biểu cho thấy xu hướng tăng giảm của thị trường trong thời gian tới. MA có thể được sử dụng để theo dõi các biến động theo ngày, theo giờ hoặc tháng. Mỗi số liệu của ngày, tuần, tháng mới nhất sẽ được thế vào công thức tính để tìm ra các số liệu mới, vì thế trung bình trượt là số liệu thay đổi liên tục qua thời gian. Nhìn chung, thời gian tính càng ngắn thì mức giá càng cho thấy xu hướng biến động mạnh, ví dụ: mức đường thể hiện mức trung bình trượt trong 20 ngày sẽ cho thấy mức biến động rõ rệt hơn đường thể hiện các mức MA tính cho 200 ngày. MA được thể hiện bằng đường SMA(x) trên biểu đồ.






