Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Doolittle Method / Giá Của Hãng Khống Chế

Nếu việc mua bán được tiến hành theo phương pháp hàng đổi hàng thì cần thiết phải có sự trùng hợp hai lần nhu cầu giữa hai bên tham gia trao đổi.

Central Statical Office / Cục Thống Kê Trung Ương

Một cục của chính phủ Anh có trách nhiệm thu thập, tổng hợp xuất bản các số liệu thống kê do văn phòng chính phủ và các cơ quan không chính thức và bán chính thức ở Anh cung cấp.

Budget Deficit / Thâm Hụt Ngân Sách

Chi tiêu hiện tại vượt thu nhập hiện tại. Thường được sử dụng nhiều nhất để được miêu tả tình trạng trong đó thu nhập của chính phủ, thu từ thuế không đủ trang trải để chi tiêu của chính phủ.

Một tình hình tài chính xảy ra khi một thực thể có dòng tiền ra lớn hơn dòng tiền vào. Thuật ngữ "thâm hụt ngân sách" thường được dùng để chỉ chi tiêu chính phủ chứ không phải là kinh doanh, chi tiêu cá nhân. Khi nó đề cập đến chi tiêu của chính phủ liên bang, thâm hụt ngân sách cũng được gọi là "nợ quốc gia." Trái ngược với thâm hụt ngân sách là thặng dư ngân sách, và khi dòng tiền vào bằng dòng tiền ra, người ta gọi là cân bằng ngân sách. Thâm hụt ngân sách của chính phủ có thể được giải quyết bằng cách cắt giảm chi tiêu, tăng thuế hoặc kết hợp cả hai. Thâm hụt ngân sách phải được tài trợ bằng vay tiền. Vay vốn thì phải trả lãi, điều này càng làm thâm hụt thêm.

Central Policy Review Staff / Bản Xét Duyệt Chính Sách Trung Ương (CPRS)

Một văn phòng được thành lập ở Anh năm 1970 chịu trách nhiệm tiến hành các vấn đề chính sách kinh tế chính cho văn phòng nội các.

Domestic Credit Expansion / Tín Dụng Trong Nước (Dce)

Một chỉ số về thay đối tiền tệ trong một nền kinh tế, do QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ đưa ra và ủng hộ trong những năm 1960, như một thước đo hiện hành đúng hơn về các tác nhân mở rộng trong hệ thống tiền tệ so với những thay đổi tính được trong dung lượng tiền.

Irrational Exuberance / Lạc Quan Tếu

Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên bởi nguyên chủ tịch quĩ dự trữ liên bang Mỹ Alan Greenspan. Ông dùng từ ngữ này để mô tả một trạng thái của thị trường khi mà nhà đầu tư hi vọng quá mức vào tương lai tươi sáng của nền kinh tế mà không cân nhắc đến những nguy cơ có thể gây ra sự suy trầm của nền kinh tế. Điều này đã dẫn đến việc nhà đầu tư ném tiền thổi lên trái bóng đầu tư trong các lĩnh vực nhạy cảm như: chứng khóan, bất động sản, ngoại hối, thương phẩm... khiến cho nguy cơ bể bóng là khó tránh khỏi khi họ tháo chạy khỏi thị trường theo tâm lý bầy đàn bởi một lý do tiêu cực nào đó.

Luxury Taxes / Thuế Hàng Xa Xỉ

Tăng thuế cho ngân sách chính phủ có thể rất rắc rối ở các nước kém phát triển, nhiều người tự hành nghề hoặc được trả bằng hiện vật và không thể đánh thuế thu nhập được.

Luxury Tax / Thuế Hàng Xa Xỉ

Tăng thuế cho ngân sách chính phủ có thể rất rắc rối ở các nước kém phát triển. Việc đánh thuế hàng xa xỉ có khi cũng bị từ bỏ vì sợ tham nhũng tràn lan. Một phương pháp hiệu quả là thông qua thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt. Phần lớn các nước đang phát triển đều cố gắng đánh thuế vào hàng xa xỉ. Một số mặt hàng hóa và dịch vụ được coi là xa xỉ là: thuốc lá điếu, xì gà, ô tô, rượu, tàu bay, du thuyền, kinh doanh vũ trường, kinh doanh casino... Ví dụ, thuế nhập khẩu đối với ô tô ở Việt Nam hiện tại là trên 80%, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng này là từ 10% đến 60%, tùy vào chủng loại.

Iron Law Of Wages / Quy Luật Sắt Về Tiền Công

Giả thiết rằng, với bất kể khả năng tăng tiền công trong ngắn hạn, tiền công chắc chắn sẽ trở lại mức vừa đủ sống trong dài hạn.

Central Limit Theorem / Định Lý Giới Hạn Trung Tâm

Định lý nói rằng tổng (và trung bình) của một nhóm các biến ngẫu nhiên sẽ tuân theo phân phối chuẩn nếu mẫu chọn đủ lớn, không phụ thuộc vào dạng phân phối mà các biến riêng biệt có.

Domar, Evsey D. / (1914-)

Nhà kinh tế người Mỹ gốc Ba Lan, nổi tiếng vì công trình của ông về thuyết tăng trưởng kinh tế. Ông nhấn mạnh rằng chi tiêu đầu tư có hai hiệu ứng, cụ thể là hiệu ứng tạo thu nhập và hiệu ứng tăng năng lực. Kinh tế học KEYNES chỉ công nhận hiệu ứng thứ nhất và Domar đưa ra khẳng định về những điều kiện cần tăng cầu và tăng năng lực để phát triển một cách cân đối. Kết quả mà ông thu được giống với những gì HARROD thu được một cách độc lập để đến ngày nay chúng được biết đến như những điều kiện của Harrod/Domar. Tác phẩm chính của ông là Các tiểu luận về thuyết tăng trưởng kinh tế (1957).

IPO / IPO - Initial Public Offering

IPO (chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh Initial Public Offering) có nghĩa là phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu. Theo thông lệ tài chính trong kinh doanh, việc phát hành này có nghĩa là một doanh nghiệp lần đầu tiên huy động vốn từ công chúng rộng rãi bằng cách phát hành các cổ phiếu phổ thông, nghĩa là cổ phiếu ghi nhận quyền sở hữu đúng nghĩa và người nắm giữ có quyền biểu quyết tương ứng trong các kỳ họp Đại hội đồng Cổ đông thường niên hay bất thường. Một phần của IPO có thể là chuyển nhượng cổ phần của cổ đông hiện hữu. Như vậy, IPO với mỗi doanh nghiệp chỉ có một lần duy nhất, và sau khi đã IPO thì các lần tiếp theo sẽ được gọi là phát hành cổ phiếu trên thị trường thứ cấp. IPO có ý nghĩa rất quan trọng với doanh nghiệp, vì với bất kỳ doanh nghiệp nào, đây cũng là thử thách đầu tiên và quan trọng nhất đối với hàng loạt khía cạnh vận hành. Nguyên nhân của thử thách này là do doanh nghiệp trước khi được phép huy động vốn rộng rãi phải đảm bảo hàng loạt các điều kiện phát hành ngặt nghèo và qui chế báo cáo thông tin rất nghiêm khắc. IPO hoàn toàn khác với việc một cổ đông hiện hữu bán lượng cổ phần đang nắm giữ; hành vi sau này gọi là Chào bán Cổ phần (Offer for Sale). Về mặt thủ tục, tiến trình IPO thường liên quan tới một hay một số công ty tài chính đặc biệt gọi là Ngân hàng đầu tư, ở Việt Nam vẫn gọi là các Công ty chứng khoán. Những trung gian tài chính này làm nhiệm vụ cung cấp dịch vụ và bảo lãnh phát hành. Công ty tiến hành bán cổ phần bằng IPO được gọi là "Nhà phát hành." Những vụ bảo lãnh phát hành lớn thường do một nhóm các ngân hàng đầu tư hợp thành một xanh-đi-ca (syndicate) để phân chia công việc và rủi ro. Trong số này có một tổ chức đứng ra làm Nhà bảo lãnh chính, và chiếm hết phần lớn phí bảo lãnh phát hành. Trên thế giới, mức phí này có thể lên tới 8% của tổng số tiền cổ phần bán được và kèm theo nhiều điều khoản khác. Cách thức bán của IPO Việc chào bán cổ phần ra công chúng rộng rãi lần đầu tiên có nhiều cách thức tiến hành. Các dạng có thể là: (1) Đấu giá kiểu Hà-Lan; (2) Bảo lãnh cam kết; (3) Dịch vụ với trách nhiệm cao nhất; (4) Mua buôn để chào bán lại; và (5) Tự phát hành. Do lượng thủ tục pháp lý và chế tài khá chặt chẽ và rắc rối, mỗi vụ IPO thường cần một vài công ty luật hỗ trợ. IPO có thể bao gồm một phần trong đó việc cổ đông hiện tại chuyển nhượng quyền sở hữu với số cổ phiếu hiện tại theo cách ta goi là giao dịch thứ cấp, mặc dù vai trò được nhấn mạnh chủ yếu của IPO là phát hành mới và lần đầu ra công chúng để huy động một lượng vốn góp đáng kể. Tuy nhiên, theo thông lệ thế giới cả luật pháp chứng khoán lẫn qui ước của các công ty bảo lãnh phát hành đều hạn chế chức năng chuyển nhượng lượng cổ phần hiện hành theo phương thức giao dịch thứ cấp. IPO thường được bán cho các nhà đầu tư tổ chức, với qui mô lớn và cũng dành ra một tỷ lệ nhỏ cổ phần bán cho các khách hàng cá nhân quan trọng do công ty bảo lãnh đứng ra dàn xếp. Ở các thị trường đã phát triển, nhà phát hành thường thả lỏng một điều khoản cho phép nhà bão lãnh có thể tự ý tăng qui mô phát hành IPO lên tới 15% so với dự kiến theo kế hoạch đã thống nhất để linh hoạt phản ứng trước nhu cầu thị trường, gọi là phương án greenshoe. Greenshoe là điều khoản được nhất trí thực thi khi nhu cầu thị trường tăng quá cao, đẩy giá lên, thì việc phát hành thêm tối đa 15% giúp bình ổn giá. Đôi lúc nhà phát hành không đồng ý vì họ không có kế hoạch sử dụng số tiền do tăng thêm lượng cổ phần bán ra. Giá cổ phần qua IPO Nhiều nghiên cứu nghiêm túc bằng lý thuyết thực chứng trên thế giới cho thấy rằng ở phạm vi rất rộng, thường giá cổ phần bán qua IPO được định giá dưới mức thị trường. Hiệu ứng dưới giá này nhằm tạo ra sức hấp dẫn cho các cổ phiếu giao dịch thứ cấp sau IPO, tạo ra thanh khoản tốt về lâu dài cho công ty. Dấu lặng thị trường Sau giai đoạn IPO ồn ào, giao dịch cổ phiếu thứ cấp đi vào giai đoạn "dấu lặng." Theo qui định nhiều thị trường các công ty bảo lãnh và những người có liên quan mật thiết tới vận hành kinh doanh của doanh nghiệp bị cấm đưa ra các dự báo về doanh thu và lợi nhuận tương lai trong "giai đoạn dấu lặng." Trước kia, Ủy ban Giao dịch chứng khoán Mỹ áp dụng giai đoạn dấu lặng 25 ngày kể từ ngày IPO, nhưng tới năm 2002 đã tăng lên 40 ngày, nhằm tránh việc các đối tác có thông tin lũng đoạn và gây ảnh hưởng thiên lệch tới thị trường bằng thông tin. Sau giai đoạn này, công ty bảo lãnh chính sẽ tiến hành công bố các nghiên cứu liên quan tới cổ phiếu của công ty IPO.

Moving Average / Trung Bình Động

Là một phương pháp nhằm loại bớt những biến động số liệu. Một trung bình động trong một giai đoạn n được tính từ một chuỗi thời gian bằng cách trước tiên tính trung bình đơn giản của n quan sát đầu tiên, tiếp đó là tính trung bình của phép đo thứ hai cho đến thứ (n+1) sau đó là của phép thứ ba cho đến (n+2), và cứ tiếp tục như vậy. Phương pháp này thường được sử dụng để loại trừ những yếu tố thời vụ (hoặc những biến đổi khác xảy ra trong năm) khỏi các số liệu, thường là trong các trường hợp cần có số trung bình động trong một giai đoạn 12 tháng (hoặc 4 quý).

Là một phương pháp nhằm loại bớt những biến động số liệu.

Luxury / Hàng Xa Xỉ (Cúng Coi Là Hàng Thượng Lưu)

Một thuật ngữ không được sử dụng rộng rãi trong kinh tế học hiện đại, nhưng nếu có dùng thì để chỉ một hàng hoá có Độ co giãn cầu theo thu nhập lớn hơn 1, do đó khi thu nhập tăng thì hàng đó chiếm một tỷ lệ cao hơn trong thu nhập của người tiêu dùng.

Lus / Số Dư Tuyến Tính Vô Hướng Không Chệch

Tính từ dùng để mô tả các số dư tuyến tính (L), không chệch (U) và có ma trận hiệp phương sai chéo vô hướng (S).

Lucas Critique / Luận Điểm Phê Phán Của Lucas

Bài phê bình về việc sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá kết quả của các quyết định chính sách vì các tham số ước lượng ngầm bao hàm ảnh hưởng của chính sách.

Most Favoured Nation; MFN / Đãi Ngộ Tối Huệ Quốc

Đãi ngộ tối huệ quốc (Most favoured nation; MFN) là chính sách không phân biết đối xử trong thương mại, nó đề ra cho tất cả các đối tác thương mại quy chế hải quan và thuế quan như nhau được gọi là “tối huệ quốc”. Đãi ngộ Tối huệ quốc là một trong những quy chế pháp lý quan trọng trong thương mại mại quốc tế hiện đại. Quy chế này được coi là một trong những nguyên tắc nền tảng của hệ thống thương mại đa phương của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đây là nghĩa vụ bắt buộc trong GATS, theo đó các nước cam kết dành cho nhau những "ưu đãi" đối với mọi lĩnh vực dịch vụ, ngoại trừ các lĩnh vực đã được đưa vào danh mục loại trừ đãi ngộ Tối huệ quốc tạm thời. Mục tiêu của các loại trừ này nhằm đảm bảo rằng lợi ích của một nước trong thỏa thuận đặc biệt với một nước nào đó sẽ không tự động dành cho các nước khác không thuộc đối tượng của thỏa thuận đó hưởng. Thuật ngữ "đãi ngộ Tối huệ quốc" được ra đời vào cuối thế kỷ 19 trong thực tiễn thương mại của Hoa Kỳ. Vào thời điểm đó, Hoa Kỳ đã đưa ra chế độ Tối huệ quốc trong các hiệp định song phương như cơ sở để xúc tiến thương mại với một số đối tác châu Âu có quan hệ thương mại mật thiết với mình (ví dụ: Pháp, Hà Lan). Đãi ngộ Tối huệ quốc vào thời điểm ra đời chỉ mang ý nghĩa của chế độ thương mại thuận lợi nhất mà quốc gia sở tại có thể dành cho hàng hoá nhập khẩu đối tác thương mại của mình. Quy chế này mang tính chất có đi có lại. Nói cách khác đó là "chế độ đối xử bình đẳng giữa những thực thể được ưu đãi". Tuy nhiên, trong bối cảnh thương mại hiện đại, quy chế Tối huệ quốc mang ý nghĩa chuẩn mực của sự đối xử ưu đãi mà một quốc gia phải dành cho các đối tác thương mại của mình. Nói cách khác, quốc gia phải bảo đảm dành cho tất cả các quốc gia đối tác một chế độ ưu đãi thương mại thuận lợi như nhau. Trong các điều ước quốc tế về thương mại cũng như luật thương mại quốc gia, đãi ngộ tối huệ quốc thường được thể hiện dưới dạng quy định yêu cầu các sản phẩm hàng hoá dịch vụ có xuất xứ từ một quốc gia đối tác được hưởng chế độ thương mại "không kém ưu đãi hơn chế độ ưu đãi nhất" mà quốc gia sở tại dành cho các những sản phẩm hàng hoá dịch vụ tương tự của bất kỳ quốc gia nào khác. Với sự tồn tại của chế độ đãi ngộ tối huệ quốc, các quốc gia sẽ được bảo đảm rằng quốc gia đối tác thương mại của mình sẽ không dành cho quốc gia khác chế độ thương mại ưu đãi hơn, qua đó triệt tiêu lợi thế cạnh tranh tự nhiên của họ đối với sản phẩm hàng hoá dịch vụ cụ thể trong cạnh tranh với các quốc gia liên quan đó.

Luận Điểm Về Tính Có Thể So Sánh / Luận Điểm Về Tính Có Thể So Sánh

Một sự tin tưởng rằng các cá nhân làm cùng công việc và sản xuất cùng lượng sản phẩm nên được trả cùng một mức lương.

L-Shaped Recovery / Mô Hình Phục Hồi Hình Chữ L

L-Shaped Recovery - một thuật ngữ dùng để chỉ mô hình suy thoái và khôi phục kinh tế có biểu đồ giống hình chữ L. Đặc biệt mô hình khôi phục hình chữ L có hình dáng biểu đồ có được từ những thước đo kinh tế như lao động, GDP và sản lượng công nghiệp. Trong mô hình khôi phục hình chữ L có sự giảm mạnh sau đó không tăng trưởng hoặc tăng trưởng rất trì trệ. Một ví dụ điển hình của mô hình này là suy thoái kinh tế Nhật Bản thời kỳ những năm 1990. Khi đó nền kinh tế Nhật không tăng trưởng trong một thập kỷ.

Budget / Ngân Sách

1.Đầu tư: Ước lượng tổng thu nhập và chi phí trong một khoảng thời gian trong tương lai. Ngân sách có thể được lập cho một cá nhân, một gia định hoặc một nhóm người, một tổ chức kinh doanh, chính phủ, quốc gia hoặc các tổ chức đa quốc gia hay cho bất cứ cái gì làm ra tiền và tiêu tiền. Ngân sách là một định nghĩa kinh tế vi mô cho biết thỏa hiệp được thực hiện khi một hàng hóa được trao đổi.Ngân sách dư thừa nghĩa là lợi nhuận thu về nhiều hơn, ngân sách cân bằng nghĩa là lợi nhuận tương đương với chi phí, và ngân sách thâm hụt nghĩa là chi phí vượt quá lợi nhuận. Ngân sách thường được biên soạn và đánh giá lại theo từng thời kỳ. Sự điều chỉnh ngân sách dựa trên mục đích của tổ chức dự thảo ngân sách. Trong một vài trường hợp, người lập ngân sách sẽ vui mừng khi ngân sách bị thâm hụt, trong một vài trường hợp khác, điều hành một ngân sách thâm hụt thể hiện sự không có trách nhiệm tài chính.2. Kế toán: Kế hoạch định lượng về các hoạt động và các chương trình được phát biểu vớitài sản, tiêu sản, tổng thu nhập và chi phí. Thành viên của ngân sách sẽ phải tham gia vào việc thực hiện kế hoạch, hay trong những đơn vị sản phẩm hoặc dịch vụ. Ngân sách thể hiện mục đích của tổ chức dưới dạng các mục tiêu tài chính và vận hành. Thuận lợi của việc chuẩn bị ngân sách chính là việc lập kế hoạch, truyền đạt mục tiêu của toàn công ty đến từng cá nhân, thúc đẩy sự hợp tác giữa các phòng ban, duy trì kiểm soát bằng cách tính toán những con số thực trên những con số ngân sách, và phát hiện những mối tương quan giữa chức năng này với chức năng khác.

Ước tính doanh thu và chi phí cho một khoảng thời điểm nhất định trong tương lai. Ngân sách có thể được thực hiện cho một người, một gia đình, một nhóm người, 1 doanh nghiệp, 1 chính phủ, 1 quốc gia, 1 tổ chức đa quốc gia hay chỉ là bất cứ thứ gì khác mà làm ra và dùng đến tiền. Ngân sách là một khái niệm kinh tế vi mô cho thấy sự đánh đổi 1 vật này lấy 1 vật khác Một ngân sách thặng dư có nghĩa là doanh thu lớn hơn chi phí, trong khi một ngân sách cân bằng có nghĩa rằng doanh thu được dự kiến ​​sẽ bằng chi phí. Thâm hụt ngân sách có nghĩa là chi phí sẽ vượt quá doanh thu. Ngân sách thường được tuân theo và đánh giá lại theo một chu kỳ. Điều chỉnh ngân sách được làm dựa trên các mục tiêu của tổ chức lập ngân sách. Trong một số trường hợp, các nhà hoạch định ngân sách vẫn sẵn lòng hoạt động ở một mức thâm hụt, trong khi trong các trường hợp khác, hoạt động ở mức thâm hụt bị xem là tắc trách về tài chính

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55