Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Extendable Bonds / Trái Phiếu Gia Hạn

Trái phiếu gia hạn (extendable bonds): Trong trường hợp không có đủ nguồn tài chính cần thiết  để thu hồi trái phiếu khi đến hạn công ty có thể lựa chọn hình thức trì hoãn thời hạn thanh toán  mà không cần phải thay đổi chứng khoán hay các điều khoản khác của hợp đồng trái phiếu bằng cách sử dụng trái phiếu gia hạn. Khi đến ngày đáo hạn của trái phiếu, công ty chưa thể trả nợ cho người cầm phiếu, công ty sẽ phát hành một dạng trái phiếu khác, gọi là trái phiếu gia hạn. Loại trái phiếu này coi là "trái phiếu con" phụ thuộc hoàn toàn vào "trái phiếu gốc" mà đã đáo hạn, trên đó không ghi về giá trị của trái phiếu mà chỉ ghi về thời hạn "bổ sung" của trái phiếu để xác nhận quyền kéo dài thời hạn thanh toán trái phiếu của công ty. Lãi suất và các điều khoản khác vẫn không thay đổi và được ghi trên trái phiếu gốc. Việc gia hạn cho trái phiếu xuất phát từ phía công ty nhưng cũng có thể xuất phát từ phía người cầm giữ. Về phía công ty, khi chưa đủ khả năng thu hồi trái phiếu họ sẽ phát hành trái phiếu bổ sung; ngoài ra một lí do quan trọng khác là khi lãi suất vay vốn tăng cao công ty càng muốn và cố kéo dài thời hạn thanh toán hơn. Bởi lẽ khi đã thu hồi trái phiếu, công ty sẽ phải tái phát hành để huy động vốn từ nguồn khác, nếu tại thời điểm trái phiếu đáo hạn lãi suất lên cao thì gây ra bất lợi cho công ty, thay vào đó công ty vẫn duy trì trái phiếu cũ với lãi suất không đổi chắc chắn sẽ có lợi hơn. Chính vì vậy, trái phiếu gia hạn được phát hành phổ biến khi lãi suất trên thị trường đang chiều hướng lên. Về phía người cầm giữ trái phiếu, yêu cầu gia hạn trái phiếu có được thực hiện hay không tùy thuộc vào công ty phát hành. Chủ sở hữu mong muốn được kéo dài thời gian nắm giữ trái phiếu khi thấy hoạt động kinh doanh của công ty ngày càng phát đạt với tâm lí sẽ được hưởng một khoản lãi cố định và an toàn trong một thời gian dài tiếp theo.

Ex-Stock Dividends / Không Có Cố Tức Bằng Chứng Khoán

Thuật ngữ này được dùng trong khoảng giữa thời điểm bố cáo và chi trả cổ tức. Nhà đầu tư mua cổ phần trong thời khoảng này không được hưởng cổ tức chứng khoán đã bố cáo; thay vào đó, người bán cổ phần lại được hưởng, đây là người sở hữu chứng khoán có thời điểm ghi sổ cuối cùng trước khi khoá sổ và lúc đó chứng khoán sẽ là chứng khoán không cổ tức chứng khoán. Chứng khoán sẽ có lại cổ tức chứng khoán sau thời điểm chi trả.

Ex-Post Monitoring / Theo Dõi Về Trước

Thuật ngữ này được dùng sau khi đo lường số ứng trước tín dụng nhằm đáp ứng các luật lệ về nghiệp vụ ngân hàng. Để đủ tiêu chuẩn có được mức tối đa thấu chi (overdraft cap), ngân hàng phải có hệ thống theo dõi bằng vi tính để kiểm soát việc xuất nhập ngân quỹ trong tài khoản khách hàng.

Export-Led Growth / Tăng Trưởng Dựa Vào Xuất Khẩu

Là sự tăng trưởng được thúc đẩy bởi sự gia tăng hàng xuất khẩu.

Export-Import Tax / Thuế Xuất Khẩu, Thuế Nhập Khẩu

Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một loại thuế đánh vào các hàng hoá mậu dịch, phi mậu dịch được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam.   Ðối tượng điều chỉnh của Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu là quan hệ thu nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giữa nhà nước với các tổ chức và cá nhân có hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam, kể cả hàng hoá từ thị trường trong nước đưa vào khu chế xuất và từ khu chế xuất đưa ra thị trường trong nước; trừ một số trường hợp theo luật định như: hàng vận chuyển quá cảnh, chuyển khẩu, mượn đường viện trợ nhân đạo... Theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu thì thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hoá mậu dịch mang tính chất gián thu. Còn đối với các loại hàng hoá khác thì tùy theo từng trường hợp mà thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tính chất gián thu hoặc tính chất trực thu. Đối tượng nộp thuế: tất cả các tổ chức, cá nhân trong nước thuộc mọi thành phần kinh tế và cũng có thể là cá nhân, tổ chức nước ngoàicó hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu. Trường hợp xuất nhập khẩu ủy thác thì tổ chức nhận ủy thác là đối tượng nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được tính theo công thức sau: THuế XK, NK phải nộp = Số lượng hàng XK, NK × Giá tính thuế × Thuế suất Trong đó: Số lượng hoặc trọng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu căn cứ vào số thực xuất, thực nhập ghi trong tờ khai thuế hải quan. Giá tính thuế: Đối với hàng hóa xuất khẩu là giá bán tài của khẩu xuất, theo hợp đồng. Đối với hàng nhập khẩu là giá mua tại của khẩu nhập khẩu, kể cả phí vận tải, phí bảo hiểm theo hợp đồng. Trong trường hợp hàng xuất khẩu, nhập khẩu theo phương thức khác hoặc giá ghi trên hợp đồng quá thấp so với giá mua, bán thực tế tại của khẩu thì giá tính thuế là giá do Chính phủ quy định. Thuế suất thuế nhập khẩu gồm thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi và thuế suất ưu đãi đặc biệt. Thuế suất thông thường áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu tùe những nước chưa có thỏa thuận tối huệ quốc trong quan hệ quốc trong quan hệ với Việt Nam. Thuế suất ưu đãi áp dụng cho hàng nhập khẩu từ các nước có thỏa thuận tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam. Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu từ những nước có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt với Việt Nam.

Export-Import Bank / Ngân Hàng Xuất Nhập Khẩu

Ngân hàng do chính phủ Mỹ thành lập năm 1937, nhằm thúc đẩy ngoại thương của Mỹ bằng cách cung cấp vốn dưới dạng các khoản tiền cho vay trực tiếp có bảo đảm cho các công ty nước ngoài.

Export Promotion / Khuyến Khích Xuất Khẩu

LÀ sự phát triển của những ngành mà thỉtường chính là ở nước ngoài. Đây là một chiến lược thay thế chính đối với CHIẾN LƯỢC THAY THẾ NHẬP KHẨU ở các nước kém phát triển.

Export Proccessing Zone / Khu Chế Xuất

KCX là một khu công nghiệp tập trung sản xuất hàng xuất khẩu và thực hiện các dịch vụ liên quan đến sản xuất và xuất khẩu . KCX là một khu khép kín, có ranh giớI địa lý được xác định, biệt lập vớI các vùng lãnh thổ ngoài KCX bằng hệ thống tường rào. KCX được hưởng chế độ ưu đãi vè nhiều mặt như: nhập khẩu nguyên vật liệu, thuế công ty, được cung cấp cơ sở hạ tầng tốt và các điều kiện khác để ngườI sản xuất kinh doanh tạI đây có lợI nhuận cao nhất. Nhập khẩu tự do nguyên vật liệu và không hạn chế số lượng. Đây là một ưu đãi đặc biệt so với sản xuất trong nước. Mặt khác, các công ty trong KCX cũng không nộp thuế doanh thu,thuế xuất khẩu cho những mặt hàng họ sản xuất và xuất khẩu. Những hãng trong KCX thường được cung cấp thủ tục hải quan nhanh chóng cho việc nhập vật liệu và sản xuất hàng hóa Những hãng trong KCX được sử dụng cơ sở hạ tầng tốt như: giao thông vận tải, bưu điện và bưu chính viễn thông quốc tế. ngoài ra, còn được trợ cấp sử dụng một số yếu tố như: tỷ lệ thuế, điện nước…rất thấp. Sự khác nhau giữa KCN và KCX: Thứ nhất, KCX với mục tiêu thu hút các đơn vị sản xuất sản phẩm xuất khẩu, còn KCN thu hút tất cả các ngành nghề công nghiệp, kể cả các ngành sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu thụ trong nước. Thứ hai, các công ty 100% vốn trong nước có thể được vào KCN, còn KCX chỉ liên kết cới các công ty có vốn nước ngoài. Thứ ba, các công ty sản xuất kinh doanh trong KCN sẽ được hưởng một số ưu đãi nhất định. Trong đó đặc biệt ưu đãi với những hãng sản xuất hàng xuất khẩu.

Export Credit Guarantee Department / Cục Bảo Đảm Tín Dụng Xuất Khẩu

LÀ một tổ chức được chính phủ Anh thành lập năm 1930, đưa ra các hình thức BẢO HIỂM khác nhau nhằm chống lại những rủi ro mà các nhà xuất khẩu Anh phỉa chịu đựng.

Export - Import / Xuất Khẩu- Nhập Khẩu

Nhập khẩu: Đưa hàng hóa sản xuất ngoài nền kinh tế hay ngoài quốc gia, vào trong nền kinh tế hoặc quốc gia đó.Xuất khẩu: Hàng hóa được chuyển từ một quốc gia hay nền kinh tế này, đến quốc gia hay nền kinh tế khác.Ví dụ, hàng hóa được sản xuất tại Mỹ và bán tại Nhật Bản thì ta sẽ nói: hàng hóa được xuất khẩu từ Mỹ sang Nhật Bản hay Nhật Bản nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ.

Futures Trading Cost / Chi Phí Giao Dịch Futures

Những người giao dịch trên sở giao dịch thường tính phí hoa hồng cho khách hàng khi thực hiện lệnh của khách hàng đó. Không giống như phí hoa hồng khi giao dịch cổ phiếu, tính một lần phí khi bán và một lần phí khi mua, người môi giới giao dịch futures thường chỉ tính một lần phí, gọi là phí giao dịch future (thường gọi là round-turn commision) để mở và đóng một trạng thái giao dịch (position). Phí hoa hồng và các loại phí khác trong giao dịch này thường cao hơn trong giao dịch cổ phiếu, thường là bằng hoặc hơn 18% chi phí giao dịch, thay vì bằng hoặc ít hơn 2% như trong giao dịch cổ phiếu.

Export / Xuất Khẩu, Hàng Xuất Khẩu

Một hàng hoá hoặc dịch vụ sản xuất tại một nước được bán và tiêu dùng ở nước khác. Xuất khẩu hữu hình là xuất khẩu hàng hoá, còn xuất khẩu vô hình là xuất khẩu dịch vụ cho người ở nước khác mua.

Futures Trading / Giao Dịch Giao Sau

Các hợp đồng giao sau thường được mua khi nhà đầu tư kỳ vọng giá của tài sản cơ sở sẽ gia tăng. Điều này được biết đến là họ đang ở vị thế mua. Bởi vì họ mua nghĩa vụ phải mua hàng hóa với mức giá hiện tại, nhà nắm giữ hợp đồng giao sau sẽ được lợi khi giá tăng lên, cho phép họ bán hợp đồng giao sau để kiếm lời hoặc nhận hàng hóa trong tương lai với mức giá thấp hơn.Ngược lại với vị thế mua là vị thế bán. Trong trường hợp này, người nắm giữ hợp đồng giao sau mua nghĩa vụ phải bán hàng hóa cở sở tại mức giá hiện tại. Họ sẽ kiếm được lợi nếu giá giảm trước ngày đáo hạn trong tương lai.Các nhà phòng ngừa rủi ro giao dịch hợp đồng giao sau với mục đích giữ mức rủi ro giá cả trong khả năng kiểm soát. Bởi vì giá của một giao dịch trong tương lai có thể được thiết lập ngay thời điểm hiện tại, do đó có thể tránh đượ các biến động trong thời gian chuyển tiếp. Nếu giá tăng lên, người nắm giữ hợp đồng giao sau sẽ mua với một mức giá chiết khấu. Nếu giá giảm xuống, họ sẽ bỏ lỡ việc mua với một mức giá thấp hơn. Phòng ngừa rủi ro với các hợp đồng giao sau thậm chí có thể được sử dụng để bảo vệ chống lại các điều chỉnh lãi suất không mong muốn.Trong khi các nhà phòng ngừa rủi ro cố gắng để tránh rủi ro, các nhà đầu cơ lại tìm kiếm nó với hy vọng để kiếm được lời từ các biến động giá. Các nhà đầu cơ chỉ thuần túy giao dịch cho mục đích kiếm lợi và không hề có ý muốn nhận hàng hóa thực sự. Cũng giống như quyền chọn, các hợp đồng giao sau có thể cũng được sử dụng để tạo ra các khoảng chênh lệch mà từ đó có thể kiếm được lợi nhuận do các biến động giá.Các tài khoản được sử dụng để thực hiện giao dịch giao sau phải được thanh toán với các khoản ký quỹ và việc thanh toán được thực hiện cơ bản mỗi ngày. Các khoản lỗ hoặc lời trong ngày sẽ được trừ ra hoặc cộng vào trong tài khoản ký quỹ. Khi các tài khoản ký quỹ giảm xuống dưới một mức nào đó thì bên tham gia được yêu cầu phải ký quỹ bổ sung.

Serial Correlation / Tương Quan Chuỗi

Còn được gọi là tương quan tự định. Một bài toán kinh tế lượng, trong đó giá trị hiện tại của một sai số trong một phương trình tương quan vớ những giá trị trong quá khứ của nó, chỉ để chỉ ra rằng, một số ảnh hưởng hệ thống nào đó đã bị loại bỏ khỏi phương trình.

Còn được gọi là tương quan tự định. Một bài toán kinh tế lượng, trong đó giá trị hiện tại của một sai số trong một phương trình tương quan vớ những giá trị trong quá khứ của nó, chỉ để chỉ ra rằng, một số ảnh hưởng hệ thống nào đó đã bị loại bỏ khỏi phương trình.

Futures Option / Quyền Chọn Giao Sau

Một quyền chọn giao sau là một quyền chọn trên một hợp đồng giao sau. Quyền chọn giao sau thường có ở cả hai loại giao sau hàng hóa như hợp đồng lúa mì và hợp đồng cà phê, và giao sau tài chính như hợp đồng giao sau đồng Yên và hợp đồng giao sau chỉ số S&P 500. Sự khác nhau cơ bản giữa quyền chọn giao sau và một quyền chọn trên tài sản cơ sở của một hợp đồng giao sau chính là ở sự thuận tiện trong giao hàng. Một hợp đồng giao sau 1000 thùng dầu thì dễ dàng giao nhận hơn là giao nhận bản thân dầu (oil itself). Trong khi thực hiện quyền chọn giao sau, hợp đồng giao sau được giao thường sẽ đóng vị thế ngay lập tức. Bởi vậy, quyền chọn giao sau được thanh toán toàn bộ bằng tiền mặt.Thanh toán tiền mặt của quyền chọn giao sau thường hấp dẫn các nhà đầu tư với số vốn không đủ để mua tài sản cơ sở. Chính sự liên hệ chặt chẽ giữa thị trường giao sau và thị trường quyền chọn giao sau đã tạo điều kiện cho các hoạt động đầu cơ, phòng ngừa rủi rovà kinh doanh chênh lệch, làm cho các thị trường trở nên hiệu quả hơn. Fisher Black đã phát triển một mô hình định giá quyền chọn giao sau vào năm 1976.

Exponential / Thuộc Số Mũ, Thuộc Hàm Mũ

Hàm số mũ là một HÀM LUỸ THỪA, thường chỉ sự liên quan giữa biến số độc lập và số e tăng lên một luỹ thừa chứa BIẾN SỐ ĐỘC LẬP khi e = 2,718, và là cơ số của LOGARIT TỰ NHIÊN.

Futures Market / Thị Trường Hợp Đồng Futures

Thị trường hợp đồng futures là thị trường hàng hoá nơi hợp đồng futures được bán mua. Mỗi thị trường mua bán khác nhau những loại hợp đồng cá biệt. Các thị trường chính là Amex Commodity Exchange, The Commodity Exchange Inc (Comex), the New York Coffee, Sugar and Cocoa Exchange, The New York Cotton Exchange, The New York Mercantile Exchange và New York Futures Exchange tất cả ở New York, The Chicago Board of Trade, The International Monetary Market, the Chicago Mercantile Exchange, The Chicago Rice and Cotton Exchange và Mid America Commodity Exchange of Trade, tại thành phố Kansas, Mo ; và Minneapolis Grain Exchange tại Minneapolis.

Separation Of Ownership From Control / Sự Tách Biệt Giữa Quyền Sở Hữu Và Quyền Kiểm Soát

Điêu này xảy ra trong những công ty cổ phần lớn, trong đó những cổ phần có quyền bỏ phiếu được chia cho một số lượng lớn cổ đông.

Futures Exchange/Commodites Exchange / Thị Trường Giao Dịch Hợp Đồng Tương Lai

1. Futures Exchanges: Là sàn giao dịch cho các giao dịch Tương lai cả về hàng hoá là công cụ Tài chính lẫn hàng hoá thông thường. Là thị trường hàng hoá nơi mà các hợp đồng tương lai về các công cụ tài chính hoặc hàng hoá thông thường (Bột mỳ, đậu tương, cà phê,...) được mua và bán. Các thông tin về chỉ số cổ phiếu, trái phiếu và hợp đồng quyền chọn cũng được giao dịch và niêm yết trên thị trường này. Các thị trường Giao dịch hợp đồng Tương lai trên thế giới bao gồm: Chicago Board of Trade; Chicago Mercantile Exchange/International Monetary Market(Thị trường tiền tệ Quốc tế); Commodity Exchange Inc., New York (Công ty giao dịch Chứng khoán New York); Mid-America Commodity Exchange Inc., Chicago (Công ty giao dịch Chứng khoán Trung Mỹ, Chicago); New York Futures Exchange (Thị trường giao dịch Trương lai New York); Sydney Futures Exchange, Sydney, Australia (Thị trường giao dịch Tương lai Sydney); the International Futures Exchange (Bermuda) Ltd.; Financial Futures Market, Montreal Stock Exchange, Montreal, Quebec (Thị trường giao dịch Chứng khoán Montreal); Toronto Stock Exchange Futures Market (Thị trường giao dịch Chứng khoán tương lai Toronto); Winnipeg Commodity Exchange; London International Futures Exchange (Thị trường giao dịch Tương lai Quốc tế London); London Metal Exchange; Hong Kong Commodity Exchange; the Gold Exchange of Singapore; and the Tokyo International Financial Futures Exchange (Thị trường giao dịch Tương lai Quốc tế Tokyo). 2. Futures market: Chỉ là nơi giao dịch hợp đồng Tương lai về hàng hóa thông thường. Là thị trường giao dịch hàng hoá nơi mà các hợp đồng tương lai với mục đích cung cấp ngũ cốc, thực phẩm, và các kim loại quý hiếm được mua và bán.  Hoạt động Đầu cơ trên thị trường tương lai nhằm bảo vệ nhằm bảo vệ các bên tham gia giao dịch trong điều kiện bất lợi hoặc biến động về giá. Thị trường Tương lai của Mỹ bao gồm Trái phiếu Kho bạc, các khoản thuê mua được bảo đảm của Chính phủ, vì vậy tạo điều kiện cho đầu cơ về tỷ lệ lãi suất trong tương lai. 3. Corporation: Là tên của một loại hình công ty. Futures exchange còn là một tập đoàn hoặc tổ chức chuyên cung cấp thị trường cho các giao dịch Phái sinh như Hợp đồng Tương lai và Hợp đồng Quyền chọn. Còn được biết đến với cái tên Commodities Exchange. Các hợp đồng được giao dịch hàng ngày đối với các sản phẩm như cổ phần, trái phiếu, lãi suất ngắn hạn, ngũ cốc, tiền tệ.

Separability Of Preferences / Tính Phân Chia Của Sự Ưa Thích

Trong lý thuyết tiêu dùng, việc chia hàng hoá cho nhiều nhóm khác nhau sao cho sở thích tiêu dùng của mỗi nhóm được xử lý độc lập với các nhóm còn lại.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55