Seigniorage / Thu Nhập Từ Phát Hành Tiền;
Thu nhập từ phát hành tiền là khoản thu từ việc phát hành tiền tệ. Thu nhập từ phát hành tiền xu sinh ra do chênh lệch giữa mệnh giá của đồng xu và chi phí sản xuất, phân phối và cuối cùng là rút ra khỏi lưu hành. Thu nhập từ phát hành giấy bạc là sự chênh lệch giữa lãi thu được từ việc dùng giấy bạc đổi lấy những tài sản khác và chi phí sản xuất và phân phối số giấy bạc đó. Thu nhập từ phát hành tiền là nguồn thu quan trọng của một số các ngân hàng quốc gia. Trong kinh tế vĩ mô, tiền thu từ phát hành còn gọi là Thuế lạm phát (inflation tax), bởi vì chính phủ có thể trang trải cho các dịch vụ bằng cách phát hành tiền mới mà không phải đi thu thuế, thuế lạm phát được trả bởi những người đang nắm giữ đồng tiền hiện tại. Ví dụ: đầu năm bạn có 1 ounce vàng. Bạn đổi vàng lấy một chứng chỉ gửi vàng, chứng chỉ này đảm bảo rằng bạn sẽ đổi lại được 1 ounce vàng. Bạn giữ chứng chỉ trong một năm, sau đó bán chứng chỉ. Vào cuối năm bạn có chính xác 1 ounce vàng mà bạn có vào đầu năm. Ở đây Seigniorage không xảy ra. Nhưng bây giờ hãy tưởng tượng, bạn có 1 ounce vàng, nhưng chính phủ không phát hành chứng chỉ gửi vàng. Thay vào đó, chính phủ đổi số vàng của bạn thành tiền với giá cả như trên thị trường. Vàng của bạn trị giá 500 đôla/ounce, vì vậy đầu năm bạn bán 1 ounce vàng lấy 500 USD. Bạn giữ số tiền đó trong 1 năm, đến cuối năm bạn dùng tiền mua lại vàng. Tuy nhiên lúc này giá của vàng đã tăng lên, 525 USD/ounce (có thể cho rằng tiền đã bị giảm giá). Bạn sẽ nhận được ít hơn 1 ounce. Thiệt hại này gây ra do Seigniorage.
Expected Inflation / Mức Lạm Phát Kỳ Vọng; Lạm Phát Dự Tính
TỶ LỆ LẠM PHÁT nào đó được dự tính trong tương lai.
Mức Lạm Phát Kỳ Vọng; Lạm Phát Dự Tính (Expected Inflation) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Mức Lạm Phát Kỳ Vọng; Lạm Phát Dự Tính (Expected Inflation) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.
Stock-For-Stock / Cổ Phiếu Đổi Cổ Phiếu
Trong hoạt động thâu tóm và sáp nhập, thì thuật ngữ này dùng để chỉ việc trao đổi một cổ phiếu của công ty tiến hành sáp nhập với cổ phiếu của công ty bị sáp nhập tại một mức giá được định sẵn từ trước. Thông thường, chỉ một lượng cổ phiếu của công ty sáp nhập được sử dụng trong hoạt động trao đổi này, khoản chi phí sáp nhập còn lại thì được chi trả bằngtiền mặt hoặc các phương thức thanh toán khác. Ví dụ, để có thể chi trả được các chi phí cho một vụ sáp nhập, công ty thôn tính có thể thoả thuận với các cổ đông của công ty mục tiêu để đổi hai cổ phiếu của công ty mình lấy 3 cổ phiếu của công ty đó, ngoài ra có thể trả thêm một khoản tiền mặt. Thuật ngữ này còn được sử dụng để chỉ cách thức một công ty thường sử dụng để đạt được mức giá lựa chọn (option price): đó là thông qua hoạt động trả lương hoặc thưởng cho nhân viên bằng quyền chọn mua cổ phiếu (ESO). ESO là một quyền chọn mua mà một công ty dành cho thành viên công ty đối với cổ phiếu của chính công ty đó như là một hình thức trả thù lao phi tiền mặt. Quyền chọn này nhằm mục đích gắn chặt quyền lợi của những người sở hữu ESO với các cổ đông khác của công ty, kích thích họ làm việc tốt hơn, cống hiến nhiều hơn cho công ty. Xem thêm ESO Với ESO, các nhân viên của công ty sẽ được sở hữu các quyền chọn mua cổ phiếu, nhưng đổi lại họ phải thanh toán cho công ty ở mức giá lựa chọn trước khi được sở hữu quyền lợi này. Tuy nhiên, bằng cách dùng chính những cổ phiếu đã tới ngày đáo hạn của mình để đổi, các nhân viên sẽ không phải thanh toán tiền cho công ty. Sau một khoảng thời gian, họ sẽ được trả lại chính các cổ phiếu mà họ đã dùng để "mua" quyền chọn. Các nhân viên thường tận dụng tối đa cơ hội đổi cổ phiếu để củng cố vị trí của mình trong công ty bởi họ sẽ không tốn thêm chi phí. Các cổ đông bên ngoài (không phải là nhân viên của công ty) thì cho rằng việc lựa chọn đổi cổ phiếu sẽ khiến cho chi phí của hoạt động này vốn đã cao lại càng cao hơn, và nếu như tất cả các nhân viên có ESO đều lấy cổ phiếu đến hạn để đổi cổ phiếu mới thì công ty sẽ không có cơ hội nhận được thanh toán bằng tiền mặt.
Expectations, Augmented / Biến Bổ Sung Về Dự Tính
Là các biến đổi đối với một mô hình kinh tế để tính đến hiệu ứng của các dự tính.
Security Market Line - SML / Đường SML
Đây là đường biểu diễn rủi ro hệ thống hay còn gọi là rủi ro thị trường đối với thu nhập của toàn bộ thị trường tại một thời điểm nhất định, thể hiện tất cả các chứng khoán rủi ro cao có khả năng giao dịch. Đặc biệt đường SML biểu diễn lại các kết quả thu được từ mô hình định giá tài sản vốn (CAPM). Trục OX thể hiện mức độ rủi ro (beta), trục OY thể hiện lợi nhuận hay thu nhập kì vọng. Giao SML với trục OY (beta=0) tương đương mức lãi suất phi rủi ro. Độ dốc của đường SML tương đương với mức bù đắp rủi ro thị trường, phản ánh mức độ rủi ro không mong muốn của nhà đầu tư tại một thời điểm nhất định. Đây là một công cụ hết sức hữu dụng dùng để tính toán xem liệu rằng tài sản đang được cân nhắc để đầu tư có hứa hẹn mang lại nguồn thu nhập hợp lý tương xứng với mức độ rủi ro hay không. Từng chứng khoán đơn lẻ được thể hiện trên đồ thị SML. Nếu xét độ rủi ro của chứng khoán này so với thu nhập kì vọng của nó, chứng khoán này nằm phía trên đường SML, có nghĩa là nó đã bị định giá thấp khi đó nhà đầu tư có thể kì vọng một khoản lợi nhuận lớn hơn với tỉ lệ rủi ro cố hữu. Ngược lại, nếu một chứng khoán được biểu diễn nằm dưới đường SML thì có nghĩa là chứng khoán này bị định giá quá cao khi đó nhà đầu tư có thể phải chấp nhận mức lợi nhuận thấp hơn với mức rủi ro không đổi.
Expectations Theory / Lý Thuyết Kì Vọng
Đây là môt lý thuyết cho rằng lãi suất ngắn hạn có thể đóng vai trò như một nhân tố dự đoán lãi suất dài hạn. Lý thuyết này đã giải thích sự hình thành của đường sinh lợi (yield curve), hay chính là cấu trúc của lãi suất. Các động lực quyết định hình dạng của đường sinh lợi từng là vấn đề gây ra nhiều tranh cãi giữa các nhà kinh tế học và các học giả trong nhiều năm. Nhà kinh tế học người Mỹ Irving Fisher là người đã hoàn thiện lý thuyết kì vọng, đưa ra lời giải thích rõ ràng hơn về hình dạng của đường sinh lợi. Theo lý thuyết này, lãi suất dài hạn sẽ được quyết định bởi chính kì vọng của các nhà đầu tư về lãi suất ngắn hạn. Về mặt toán học, lý thuyết này được thể hiện như sau: (1 + R2)2 = (1 + R1) x (1 + E(R1)) Trong đó: R2 = lãi suất chứng khoán kì hạn 2 năm R1 = lãi suất chứng khoán kì hạn 1 năm E(R1) = lãi suất kì vọng đối với chứng khoán thời hạn 1 năm, tính từ thời điểm hiện tại Vế bên trái của phương trình là lượng tiền mà các nhà đầu tư sẽ thu về trên mỗi đồng vốn bỏ ra sau thời hạn đầu tư là 2 năm, nếu đầu tư vào chứng khoán kì hạn 2 năm. Vế phải của phương trình chính là lượng tiền mà anh ta kì vọng sẽ thu được sau 2 năm nếu tiến hành đầu tư vào các các tài sản tài chính có thời gian đáo hạn là 1 năm. Chính sự cạnh tranh là nhân tố khiến cho hai vế cân bằng nhau. Lý thuyết này có thể dễ dàng khái quát hóa cho bất kì một thời hạn đầu tư nào. Và mặc dù các chứng khoán có kì hạn rất khác nhau nhưng lý thuyết này bao giờ cũng giải thích sự tồn tại của lãi suất dài hạn dựa trên các kì vọng về lãi suất ngắn hạn của các nhà đầu tư. Lý thuyết kì vọng về lãi suất đã trở thành cơ sở lý thuyết để giải thích cho việc sử dụng đường sinh lợi như một công cụ phân tích của các chuyên gia phân tích kinh tế và tài chính. Ví dụ, nếu đường cong sinh lợi là đường dốc lên, đó là dấu hiệu cho thấy thị trường đang kì vọng rằng lãi suất ngắn hạn sẽ tăng. Vì việc tăng lãi suất chỉ xảy ra trong thời kì kinh tế phát triển (Expansion) nên một đường sinh lợi đi lên cho thấy thị trường đang kì vọng rằng các hoạt động kinh tế sẽ tiếp tục mở rộng hơn nữa. Các chuyên gia phân tích tài chính đôi khi sử dụng phương trình này để đưa ra những dự đoán về biến động của lãi suất trên thị trường trong tương lai, do đó phương trình còn được viết lại dưới dạng: E(R1) = [(1 + R2)2 / (1 + R1)] - 1 Như vậy lãi suất ngắn hạn mà thị trường kì vọng cho giai đoạn tới có thể tính toán, dự đoán được dựa trên lãi suất của ngày hôm nay. Trên thực tế, người ta thấy rằng lý thuyết này thường thổi phồng mức lãi suất ngắn hạn trong tương lai. Nguyên nhân có thể do việc nắm giữ các chứng khoán có thời hạn dài là rủi ro hơn bởi những biến động về lãi suất trên thị trường có thể sẽ ảnh hưởng đến mức sinh lợi của chứng khoán đó.
Security Interest / Tài Sản Bảo Đảm; Quyền Lợi Bảo Đảm
Là một loại tài sản được hai bên thỏa thuận hoặc luật pháp quy định phải có nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của một bên (thường là nghĩa vụ trả nợ). Những tài sản này cho phép người thụ hưởng những quyền nhất định liên quan đến nó. Các quyền nó thể khác nhau tùy từng loại tài sản bảo đảm, nhưng trong hầu hết các trường hợp (và ở hầu hết các nước) quyền và mục đích mà tài sản bảo đảm đem lại đó là cho phép người cầm tài sản được quyền giữ lại tài sản và bán để chuộc lại phần nợ mà bên nợ không trả được. Xem PERECT LIEN
Expectations Lag / Độ Trễ Kỳ Vọng; Độ Trễ Dự Tính
Độ trễ trong việc xem xét lại giá trị kỳ vọng của một biến số do các thay đổi trong giá trị hiện tại của nó. Độ trễ dự tính thường được giải thích bằng GIẢ THIẾT KỲ VỌNG PHỎNG THEO.
Stock-For-Stock / Lấy Cổ Phiếu Mua Cổ Phiếu
"Lấy cổ phiếu mua cổ phiếu" thường xảy ra trong trường hợp một công ty muốn mua lại hoặc muốn sáp nhập (thường gọi là công ty khởi động) với một công ty khác (thường gọi là công ty bị động), khi đó họ sẽ dùng chính cổ phiếu của công ty mình để mua lại cổ phần từ các cổ đông của công ty bị động. Mục đích cuối cùng của công ty khởi động là muốn thâu tóm công ty khác nhân lúc giá chứng khoán đang giảm sút. Vấn đề là làm thế nào họ thuyết phục được các cổ đông này bán cổ phần cho họ??? Giả dụ A là công ty khởi động và B là công ty bị động. Đợi lúc chứng khoán của B đi xuống, A bắt đầu toan tính chuyện thâu tóm B. A muốn né tránh đại hội cổ đông và hội đồng quản trị của B nên đề nghị mua cổ phiếu của từng cổ đông của B và trả bằng cổ phiếu của mình theo một giá cao gấp đôi giá thị trường. Ví dụ trong điều kiện bình thường 1 cổ phiếu của A có giá ngang bằng 1 cổ phiếu của B là 50, nhưng khi bị giảm giá cổ phiếu của B chỉ còn được thị trường chấp nhận với giá 45. Lúc này A sẽ đưa ra mức giá chào mua cho cổ đông B là 90, đồng nghĩa với việc trước kia 1 cổ phiếu A mua được 1 cổ phiếu B thì nay phải gần 2 cổ phiếu A mới mua được 1 phiếu B. Rõ ràng cổ đông B chắc chắn sẽ hào hứng bán cổ phiếu của mình với mức giá cao như vậy mà trong khi đó vẫn nắm trong tay cổ phiếu của A. A sẽ ra hẹn ngày cổ đông B phải trả lời. Đến hạn nếu số người bán cao, A sẽ nắm đa số vốn của B và coi như lúc này A đã mua lại B. Tình huống "lấy cổ phiếu mua cổ phiếu" để mua lại hay sáp nhập với một công ty diễn ra không phổ biến vì thực hiện phương pháp này không hề dễ khi Hội đồng quản trị của công ty bị động có những biện pháp tự vệ riêng (như mua lại cổ phần để giữ quyền quản lý- MBO). Phương thức 'Stock For Stock" nêu bật lên một số sự thật là: Các công ty đã niêm yết mà chứng khoán bị xuống giá, thì có nguy cơ hội đồng quản trị bị loại bỏ, chủ mới bỏ tiền mua chứng khoán của công ty, nắm quyền quyết định trong đại hội cổ đông và loại họ ra; Những người nắm chứng khoán mà muốn cho giá không xuống thì đừng bán đi, cần có một sự "đoàn kết" trong nội bộ công ty để đối phó lại với những hình thức thâu tóm này, nếu nhất loạt không ai bán cổ phiếu đi thì sẽ chẳng có chuyện gì xảy đến với công ty.
Full-Service Broker / Môi Giới Chứng Khoán Toàn Phần - Môi Giới Trọn Gói
Môi giới toàn phần hay môi giới trọn gói cũng là một loại môi giới, song, ngoài việc xử lý các lệnh mua, bán chứng khoán cho khách hàng, họ còn cung cấp hàng loạt các dịch vụ khác như: nghiên cứu đầu tư, xây dựng mục tiêu đầu tư trong ngắn hạn và dài hạn, quản lýdanh mục đầu tư v.v...., với mục đích "bảo vệ" và tạo giá trị tăng thêm cho khoản tiền của khách. Khách hàng sử dụng loại hình môi giới này thường là những cá nhân, tổ chức có tiềm lực tài chính tương đối lớn, họ muốn tham gia thị trường để đầu tư chứ không phải đầu cơ, nhưng lại hạn chế về kiến thức chuyên ngành, do vậy, họ tìm đến với môi giới toàn phần để nhờ cố vấn. Đây là loại hình môi giới hoạt động chủ yếu ở Mỹ. Họ có thể là một cá nhân, cũng có thể là một tổ chức, nhưng thông thường, họ là một tổ chức. Với những tổ chức thực hiện dịch vụ Môi giới toàn phần này, họ có quy mô rất lớn với hàng chục nghìn nhân viên và thường cũng rất nổi tiếng trên thị trường tài chính. Có thể kể ra một số tên như: Lehman, Goldman Sachs, Morgan Stanley v.v... Để trở thành một broker của những tổ chức này, các ứng viên phải đáp ứng được những tiêu chuẩn rất sát xao: Ngoài tấm bằng đại học, họ còn phải vượt qua những kỳ thi rất căng thẳng và khó khăn. Khi đã là một nhân viên của tổ chức rồi thì áp lực công việc và trách nhiệm nghề nghiệp cũng là một "cửa ải" mà không phải ai cũng có thể vượt qua. Theo thống kê, có tới gần 90% những người theo nghề này đều không thể gắn bó quá 3 năm. Mong rằng cùng sự phát triển của Thị trường chứng khoán Việt Nam, loại hình dịch vụ môi mới này sẽ sớm được khai thác...
Expectations / Kỳ Vọng; Dự Tính
Là các quan điểm hay sự tin tưởng vào các giá trị tương lai của các biến số kinh tế.
Full-Employment National Income / Thu Nhập Quốc Dân Ở Mức Nhân Công Toàn Dụng; Thu Nhập Quốc Dân Khi Có Đủ Việc Làm
Là số đo các giá trị thực tế của hàng hoá và dịch vụ có thể được sản xuất ra khi các yếu tố sản xuất của đất nước được sử dụng hết, khi nền kinh tế ở mức thất nghiệp tự nhiên.
Expectation / Kỳ Vọng
Kỳ vọng còn gọi là kỳ vọng toán học. Đây là một khái niệm thống kê, thường ám chỉ mức trung bình, và có ký hiệu là E(X). Kỳ vọng được tính bằng công thức: E(X)=Xip(Xi) Kỳ vọng được sử dụng rất phổ biến cho việc phân tích kinh doanh và đầu tư chứng khoán. Khi áp dụng cho tính toán các đại lượng thống kê, E(X) trở thành thống kê ước lượng cho các giá trị trong tương lai, và được hiệu chỉnh theo mục tiêu sử dụng. Tài liệu có thể tham khảo tốt là cuốn Probability của tác giả A. Shiryaev, một nhà toán học xuất sắc của Steklov Institute of Mathematics, ĐHTH Lomonosov Moscow (MGU). Khái niệm kỳ vọng được đưa ra từ thế kỷ 19 do các nhà sinh học và thống kê, từ đó tới nay trở thành khái niệm rất quen thuộc của các thị trường tài chính.
Stock-Index Futures / Hợp Đồng Tương Lai Chỉ Số
Vào tháng 4 năm 1982, Sàn sao dịch hàng hóa Chicago (CME) bắt đầu giao dịch các hợp đồng chỉ số dựa trên chỉ số S&P 500. Hợp đồng tương lai chỉ số được giao dịch dưới dạng số hợp đồng. Mỗi hợp đồng sẽ mua hoặc bán một giá trị nhất định của chỉ số. Giá trị của chỉ số được xác định bằng cách lấy chỉ số nhân với một lượng tiền nhất định. Những hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 được giao dịch trên CME được tính như sau: Giá trị 1 hợp đồng = 250$ * Chỉ số S&P 500 Giả sử chỉ số S&P 500 là 1000 thì hợp đồng sẽ có giá trị 250 000$ (250x1000). Những hợp đồng chỉ số có thể được sử dụng để đảm bảo an toàn hoặc đầu cơ do biến động của các chỉ số trong tương lai. Những chỉ số cho các hợp đồng chỉ số bao gồm S&P, FTSE, DAX, CAC 40 và các chỉ số thị trường chứng khoán của các nước thuộc nhóm G12.
Security Analysis / Phân Tích Chứng Khoán
Phân tích Chứng khoán là cuốn sách viết bởi tác giả Benjamin Graham và David Dodd của đại học Columbia University, đặt nền móng cho phương pháp "đầu tư giá trị." Công trình được xuất bản năm 1934 sau những mất mát quá lớn của phố Wall. Để tổng kết bài học, Graham và Dodd đã chỉ ra sai lầm của phố Wall về những nhấn mạnh thiển cận vào những thu nhập được báo cáo/cổ phiếu của các công ty, và quá cay nghiệt với "các xu hướng thu nhập" được ưa thích. Họ đã khuyến khích các nhà đầu tư tìm kiếm những bước tiếp cận hoàn toàn khác bằng cách đo đếm các giá trị của ngành kinh doanh hoạt động đằng sau những chứng khoán. Graham và Dodd đã liệt kê những ví dụ thực tế khác nhau của xu hướng thị trường để định giá thấp một cách hợp lí những chứng khoán không được ưa thích. Họ thấy rằng xu hướng này là một hành động của lương tâm.
Phân tích Chứng khoán là cuốn sách viết bởi giáo sư Benjamin Graham và David Dodd của đại học Columbia University, đặt nền móng cho phương pháp về sau được gọi là phương pháp "đầu tư giá trị." Công trình được xuất bản năm 1934 sau những mất mát quá lớn của phố Wall. Để tổng kết bài học, Graham và Dodd đã chỉ ra sai lầm của phố Wall về những mối quan tâm thiển cận đến những báo cáo về thu nhập trên một cổ phiếu cổ phiếu (EPS) của các công ty, và đặc biệt thành kiến với "các xu hướng thu lãi" được ưa thích. Hai tác giả đã khuyến khích các nhà đầu tư tìm kiếm những bước tiếp cận hoàn toàn khác bằng cách đo đếm các giá trị thực chất của ngành kinh doanh hoạt động đằng sau những chứng khoán. Graham và Dodd đã liệt kê những ví dụ thực tế khác nhau của xu hướng thị trường nhằm định giá thấp một cách hợp lí một số loại chứng khoán không được ưa thích. Họ hy vọng rằng phương pháp là một cơ hội để chứng minh sự hiểu biết. Tóm gọn lại vấn đề, Cuốn sách Phân tích chứng khoán ủng hộ quan điểm cho rằng những nhà đầu tư có tổ chức tốt có thể xác định giá trị thực chất của một công ty thông qua việc nghiên cứu tất cả các bản báo cáo tài chính, tiến hành các khoản mua khi giá thị trường của một số loại chứng khoán đang rất thấp, thu lại những những khoản lãi vừa ý, và không bao giờ ở trong tình trạng bị lỗ thường xuyên. Warrent Buffet, sinh viên duy nhất tham dự khoá học đầu tư của Graham đạt điểm A+, đã tạo ra hàng tỉ đôla bằng việc áp dụng có phương pháp và hợp lý những nguyên lý trong sách của Graham và Dodd. Cuốn Phân tích chứng khoán vẫn được sử dụng là giáo trình của đại học Columbia University cho đến ngày nay. Phân tích chứng khoán còn là nền tảng để phát triển kỹ thuật Phân tích tài chính và Phân tích cơ bản. Tuy nhiên, vào những năm 1970 Graham đã không còn ủng hộ việc sử dụng cẩn thận các kỹ thuật được mô tả trong sách của ông liên quan đến việc lựa chọn các cổ phần riêng lẻ, tuyên dương những nỗ lực và chi phí cần phải có để tạo ra những khoản thu nhập lớn trong một thị trường hiệu quảhiện đại. Thay vào đó, Graham sau đó đã gợi ý sử dụng 1 hoặc 2 tiêu chí đơn giản đối với toàn bộ danh mục đầu tư của nhà đầu tư, tập trung vào các kết quả của nhóm chứ không phải là tập trung vào các chứng khoán riêng lẻ.
Phân Tích Chứng Khoán (Security Analysis) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Phân Tích Chứng Khoán (Security Analysis) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Full-Employment Budget Surplus / Thặng Dư Ngân Sách Ở Mức Nhân Công Toàn Dụng; Thặng Dư Ngân Sách Khi Có Đủ Việc Làm
Số đo tác động của chính sách tài chính, không chỉ đơn thuần dựa vào quy mô của thặng dư ngân sách.
Full-Employment Budget / Ngân Sách Ở Mức Nhân Công Toàn Dụng; Ngân Sách Khi Có Đủ Việc Làm
Ngân sách ở mức nhân công toàn dụng; Ngân sách khi có đủ việc làm.
Security / Chứng Khoán
Chứng khoán là các loại giấy tờ có giá và có thể mua bán trên thị trường, gọi là thị trường chứng khoán, khi đó chứng khoán là hàng hóa trên thị trường đó. Dùng Security, nghĩa gốc là an toàn, để gọi tên chứng khoán xuất phát từ việc coi nắm giữ chứng khoán là việc sở hữu an toàn và thuận tiện một tài sản nào đó. Chứng khoán có rất nhiều loại: cổ phiếu, trái phiếu và một số loại khác như quyền mua cổ phiếu mới, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, chứng chỉ quỹ đầu tư. Trong đó hai dạng chính là cổ phiếu và trái phiếu. Cổ phiếu là chứng từ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của công ty cổ phần. Khi sở hữu cổ phiếu, người đó trở thành cổ đông của công ty, và có những quyền lợi sau: - Nhận cổ tức. Cổ tức là một phần trong lợi nhuận kinh doanh của công ty mà mỗi một cổ đông được chia tùy theo tỷ lệ góp vốn. Mức chi trả cũng như hình thức chi trả cổ tức phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và do Hội đồng Quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông quyết định. - Quyền mua thêm cổ phiếu mới. Trong quá trình hoạt động, công ty được phép phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn. Để bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện tại khi phát hành thêm cổ phiếu công ty thường dành quyền ưu tiên mua thêm cổ phiếu mới cho những cổ đông này tương ứng với tỷ lệ góp vốn của họ với giá ưu đãi hơn so với các cổ đông mới. - Quyền bỏ phiếu. Cổ đông phổ thông có quyền bỏ phiếu cho các chức vụ quản lý công ty, bỏ phiếu quyết định các vấn đề quan trọng của công ty. - Quyền tiếp cận thông tin. Cổ đông có quyền được thông báo kịp thời mọi diễn biến trong công ty, đặc biệt những tình hình có khả năng tác động mạnh đến giá cổ phiếu, và các báo cáo tài chính định kỳ và các loại thông báo cũng là các thông tin mà cổ đông có quyền tiếp cận. Trái phiếu là một loại chứng khoán xác nhận nghĩa vụ trả nợ bao gồm cả gốc và lãi của tổ chức phát hành đối với người sở hữu trái phiếu. Tổ chức phát hành ở đây có thể là chính phủ (như Trái phiếu kho bạc, Tín phiếu kho bạc) hay chính quyền địa phương (như Trái phiếu đô thị) nhằm huy động vốn cho một chương trình quốc gia hay dự án nào đó, hoặc công ty nhằm huy động vốn mà không mở rộng đối tượng quản lý. Với tư cách là người sở hữu trái phiếu hay gọi là trái chủ sẽ được quyền ưu tiên thanh toán tài sản thanh lý khi công ty phá sản trước các cổ đông. Tuy nhiên trái chủ lại không được tham gia vào các quyết định cũng như tham gia quản lý trong các tổ chức phát hành. Hiện nay buôn bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán được coi là ngành kinh doanh đơn giản nhất (do ai cũng có thể đầu tư với thủ tục đơn giản) nhưng cũng phức tạp nhất (vì chứa đựng rất nhiều rủi ro). Chứng khoán không chỉ dừng lại là một giấy chứng nhận quyền sở hữu mà nó đã trở thành một hàng hóa ưa thích cho những nhà đầu tư và đầu cơ. Nhà đầu tư thường mua cổ phiếu của các công ty có triển vọng phát triển vào thời điểm có lợi, trên cơ sở phân tích kỹ thuật, rồi giữ chúng lại lâu dài để hưởng cổ tức. Còn nhà đầu cơ kinh doanh cổ phiếu bằng cách mua cổ phiếu vào khi dự đoán nó sẽ sớm lên giá sau đó "rình" cơ hội bán cổ phiếu vào lúc giá đỉnh điểm để kiếm lời.
Stolper-Samuelson Theorem / Định Lý Stolper-Samuelson
Sử dụng mô hình của HECKSCHER-OHLIN, Stolper và Samuelson đã chứng minh rằng trên cơ sở một số các giả thiết hạn chế, thương mại quốc tế nhất thiết làm giảm tiền thuê thực tế đối với YẾU TỐ SẢN XUẤT khan hiếm mà không nhất thiết phải chỉ ra hình thái tiêu dùng của nó.
Full Information Maximum Likehood (FIML) / Ước Lượng Khả Năng Cực Đại Khi Có Đủ Thông Tin
Một kỹ thuật ước lượng hệ thống các phương trình đồng thời, tuyến tính hay phi tuyến tính.






