Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Fungibility / Tương Đương Như Nhau

Thuật ngữ này được dùng khi có cùng giá trị hay chất lượng. Một chứng khoán tự do chuyển đổi với một loại chứng khoán khác và có thể dùng thay cho chứng khoán đã được mua bán thì chứng khoán có được xem là chứng khoán tương đương.

Funds Transfer / Luân Chuyển Vốn, Quỹ, Chuyển Khoản

1. Luân chuyển vốn giữa các tài khoản hoặc đến tài khoản của một bên thứ ba trong cùng một định chế tài chính, còn được gọi là chuyển sổ sách. 2. Những chuyển khoản bên ngoài giữa một định chế tài chính phát xuất và một định chế tài chính chính nhuận. Chuyển khoản bao gồm các loại chuyển tiền bằng điện tử liên ngân hàng, bao gồm chuyển tiền vô tuyến FED của Dự trữ Liên bang (Federal Wire); hệ thống cơ quan thanh toán bù trừ tự động liên ngân hàng (ACH) và hệ thống thanh toán bù trừ liên ngân hàng (CHIPS) tại thành phố New York, chuyển dẫn phần lớn những thanh toán thương mại quốc tế liên quan các định chế tài chính Mỹ và những ngân hàng ở nước ngoài chuyển tiền vô tuyến Fed và mạng lưới CHIPS thực hiện hơn 90% vụ chuyển tiền hàng năm. Tất cả những hình thức khác nhau bao gồm chi phiếu, tiền mặt và thẻ tín dụng chiếm dưới 10% tổng giá trị đồng đô la, nhưng khoảng 99% các giao dịch trong nền kinh tế Mỹ.

1. Lưu chuyển vốn giữa các tài khoản hoặc đến tài khoản của bên thứ 3 trong cùng một định chế tài chính, còn được gọi là chuyển sổ sách . 2. Những chuyển khoản bên ngoài giữa một định chế tài chính phát xuất và một định chế tài chính nhận. Chuyển khoản bao gồm tất cả loại chuyển tiền bằng điện tử liên ngân hàng bao gồm chuyển tiền vô tuyến FED của dự trữ liên bang( Federal Wire); hệ thống cơ quan thanh toán bù trừ tự động liên ngân hàng( ACH), và hệ thống thanh toán bù trừ liên ngân hang( Chips) tại thành phố NewYork, chuyển dẫn phần lớn thanh khoản thương mại quốc tế liên quan các định chế tài chính Mỹ và các ngân hàng ở nước ngoài chuyển tiền vô tuyến FED và mạng lưới Chips thực hiện hơn 90% vụ chuyển tiền hằng năm. Tất cả những hình thức thanh toán khác bao gồm chi phiếu, tiền mặt và thẻ tín dụng, chiếm dưới 10% tổng giá trị đồng đô la, nhưng khoảng 99% các giao dịch trong nền kinh tế Mỹ.

Ex-Pit Transaction / Mua Bán Không Chính Thức - Mua Bán Ngoài Thị Trường

Thuật ngữ này được dùng trong trường hợp mua bán hợp đồng hàng hoá ngoài hiện trường mua bán của thị trường nơi hàng hoá thường được mua bán, và có những thời hạn đã ấn định.

Funded Debt / Nợ Vô Thời Hạn; Nợ Được Tài Trợ

Thông thường nợ của chính phủ không định ngày trả lại theo hợp đồng. Lúc đầu, cụm thuật ngữ này chỉ hoạt động của thay thế nợ được tài trợ cho nợ với một ngày trả nhất định. Giờ đây, nó được sử dụng rộng rãi hơn để chỉ sự thay thế của các khoản nợ dài hạn cho các khoản nợ ngắn hạn.

Fundamental Analysis / Phân Tích Cơ Bản

Phân tích cơ bản là việc phân tích tình hình tài chính cũng như tình hình kinh doanh của công ty định đầu tư như dựa vào bảng cân đối tài khoản và bản báo cáo lợi tức của công ty để xem xét chất lượng của công ty cũng như việc phát triển của công ty theo thời gian, nhờ đó tiên đoán các chuyển biến giá chứng khoán. Giá trị là mục tiêu chính trong phân tích cơ bản. Một số nhà phân tích thường sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền mặt để xác định giá trị của công ty, trong khi đó một số người lại sử dụng tỷ số giá trên thu nhập(P/E)... Như vậy nếu việc phân tích kĩ thuật bám sát vào qui luật cung cầu về chứng khoán trên thị trường thì phân tích cơ bản lại đi sâu vào nội bộ của công ty phát hành ra chứng khoán đó. Việc phân tích cơ bản sẽ đánh giá một chứng khoán dưới giá trị hay trên giá trị hiện hành, và điều này sẽ khẳng định giá trị thực của một công ty có mối quan hệ mật thiết như thế nào với các đặc tính tài chính như: khả năng phát triển; những rủi ro mà công ty có thể gặp phải; dòng tiền mặt... Bất kỳ một sự chệch hướng nào so với giá trị thực cũng là dấu hiệu cho thấy cổ phiếu đó đang ở dưới hoặc vượt quá giá trị thực. Chính vì vậy nhà phân tích thường coi đó là kim chỉ nam cho quyết định đầu tư trong tương lai. Ví dụ một chiến lược đầu tư dài hạn bao giờ cũng phải bao quát đủ các yếu tố của phân tích cơ bản như:  Mối quan hệ giữa giá trị cổ phiếu hiện hành và các yếu tố tài chính là có thể đo lường được. Mối quan hệ này ổn định trong một khoảng thời gian đủ dài. Các sai lệch của mối quan hệ có được điều chỉnh lại vào thời điểm thích hợp. Ngoài ra rất nhiều nhà đầu tư còn dùng phương pháp phân tích cơ bản để chọn mua những chứng khoán có triển vọng tốt nhưng đang bị thị trường đánh giá thấp, tức là một cách thức đầu tư giá trị. Nếu có quyết định chơi chứng khoán thì hãy là một nhà đầu tư thông minh và cẩn trọng. Hãy quyết định dựa trên cơ sở thông tin rút ra không chỉ từ phân tích kỹ thuật (về cung và cầu), mà chủ yếu phải từ phân tích cơ bản (về năng lực và hoạt động của các công ty). Phân tích cơ bản nhằm tính toán về thị trường, doanh số, các chỉ số tài chính, tình hình pháp lý và hệ thống quản trị của doanh nghiệp nhằm tìm ra các doanh nghiệp xứng đáng đầu tư. Phân tích kỹ thuật nhằm tìm ra thời điểm đúng lúc để tiến hành giao dịch. Để đổ tiền vào một nơi sinh ra lợi nhuận, nhà đầu tư cần phải biết cả về phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật bởi lẽ có tính toán được giá trị của cổ phiếu chính xác đến đâu mà không biết chọn đúng thời điểm đầu tư thì phân tích cũng trở thành vô nghĩa. Hiện nay có nhiều nhà đầu tư không cần biết đến các công cụ trên nhưng vẫn tiến hành đầu tư theo kiểu may rủi là rất nguy hiểm. Trong trường hợp xấu, chính họ là những người làm sụp đổ thị trường. Để thị trường có thể phát triển lành mạnh các nhà đầu tư cần phải có kiến thức, kinh nghiệm về thị trường chứng khoán bằng cách tập đầu tư các khoản tiền nhỏ trước vào các cổ phiếu có tính thanh khoản cao trước và theo dõi thị trường thật kỹ trước khi đầu tư các khoản tiền lớn. Khi phân tích cơ bản trở thành kiến thức thông dụng của mọi nhà đầu tư thì thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả hơn: có sự tham gia liên tục của các tổ chức đầu tư khiến giá cổ phiếu niêm yết hợp lý hơn; thông tin từ các công ty niêm yết đã bắt đầu tạo ra phản ứng tức thời đến giá cổ phiếu; nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các thông tin hàng ngày trên thị trường. Và khi phân tích cơ bản đã là cơ sở chính cho diễn biến giá cả thì “sân chơi” chứng khoán sẽ trở thành nơi đầu tư của những nhà đầu tư tài chính thực thụ.

Nghiên cứu xu hướng lãi suất, tình trạng thất nghiệp, tổng sản phẩm quốc nội và những yếu tố khác, để dự đoán dạng thức tăng trưởng cho nền kinh tế tổng thể. Trong phân tích chứng khoán thì phân tích cơ bản là nghiên cứu cổ phiếu và trái phiếu, thông qua xem xét những tỷ lệ lịch sử và xu hướng, so sánh với các công ty khác. Ngược với Technical analysis.

Phân Tích Cơ Bản (Fundamental Analysis) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Phân Tích Cơ Bản (Fundamental Analysis) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Expense Ratio / Tỉ Lệ Phí Quĩ Của Quĩ Tương Hỗ

Như với bất cứ doanh nghiệp nào, điều hành một quĩ tương hỗ cũng mất những chi phí nhất định, như chi phí giao dịch, chi phí tư vấn đầu tư, chi phí marketing và phân phối. Các chi phí này sau đó đều được chuyển sang cho các nhà đầu tư, chúng được trích ra từ chính tài sản của quĩ và làm giảm thu nhập của các cổ đông quĩ. Các chi phí chính mà quĩ phải bỏ ra gồm có: phí quản lý và chi phí hoạt động. Phí quản lý là số tiền trả cho các nhà các quản lý quĩ. Số phí này thường được tính theo một số phần trăm cố định từ tổng tài sản của quĩ. Phí này còn được gọi là phí duy trì quĩ. Chi phí hoạt động(ở Mỹ còn gọi là phí 12b-1) là các loại phí do quĩ thanh toán từ tài sản của mình để bù đắp cho các chi phí về marketing, bán cổ phiếu quĩ, và đôi khi là cả các chi phí cung cấp dịch vụ cho cổ đông. Tỉ lệ giữa tổng các loại phí nói trên với tổng tài sản của quĩ đươc gọi là tỉ lệ phí quĩ tương hỗ (ER hoặc MER). Tỉ lệ này là một chỉ số quan trọng khi xem xét lựa chọn quĩ đầu tư, vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của nhà đầu tư. Tỉ lệ chi phí quĩ tương hỗ trước hết phụ thuộc vào mức độ năng động của quĩ. Các quĩ áp dụng chiến lược đầu tư tích cực(đầu tư chủ động) đương nhiên sẽ tiến hành một khối lượng giao dịch lớn hơn rất nhiều so với các quĩ đầu tư thụ động (kiểu đầu tư chỉ số chứng khoán). Ngoài ra, chiến lược đầu tư tích cực đòi hỏi một khối lượng phân tích, dự báo lớn hơn nhiều. Điều đó khiến cho chi phí hoạt động và quản lý của các quĩ đầu tư tích cực luôn cao hơn. Tỉ lệ phí bình quân của một quĩ đầu tư chứng khoán của Mỹ vào khoảng 1%/năm trong khi tỉ lệ này với các quĩ đầu tư thụ động thấp hơn nhiều: ví dụ, tỉ lệ này của iShares S&P 500 ETF chỉ là 0.4%. Qui mô của quĩ cũng ảnh hưởng khá nhiều đến mức phí này. Khi số lượng thành viên của quĩ càng lớn, qui mô tài sản quĩ càng lớn thì các chi phí càng được dàn mỏng hơn. Do vậy tỉ lệ phí sẽ được hạ xuống đáng kể.

Fund Performance Derby / Các Đồ Thị Lợi Nhuận

Hàng ngày, một đồ thị gọi là Fund Performance Derby sẽ cung cấp những bức tranh tức thời kết quả kinh doanh trong 12 tháng của từng loại quỹ cụ thể so với các tiêu chuẩn tương ứng, nếu có và với kết quả của một hoặc nhiều hạng mục quỹ khác có liên quan. Ví dụ, các quỹ theo đuổi mục tiêu tăng trưởng được thể hiện trong mối quan hệ với các quỹ chỉ số S&P 500 - là các quỹ có kết quả kinh doanh rất giống nhau - và với các quỹ đầu tư công ty vốn nhỏ - cũng là các quỹ theo đuổi mục tiêu tăng trưởng nhưng mua cổ phiếuở các công ty nhỏ hơn các quỹ chỉ được mô tả đơn giản là quỹ tăng trưởng nói chung. Những thông tin rõ ràng này góp phần đưa kết quả kinh doanh của các hạng mục quỹ vào đúng hướng, giúp bạn cảm nhận được hoạt động chung của các hạng mục đó. Các thông tin này có thể giúp bạn đánh giá các quỹ đơn lẻ trong hạng mục nào đó sẽ rơi vào tình trạng nào: mạnh hơn, yếu hơn hoặc hầu như bằng mức trung bình chung.

Fund Of Hedge Funds / Quỹ Đầu Tư Vào Các Quỹ Tự Bảo Hiểm Rủi Ro

Quỹ đầu tư vào các quỹ tự bảo hiểm rủi ro- Hedge Fund (Fund of Hedge Funds - FHF) là dạng quỹ đầu tư/công ty đầu tư thực hiện đầu tư vào nhiều quỹ tự bảo hiểm rủi ro (hedge fund) để phân bổ rủi ro, các quỹ này không trực tiếp đầu tư vào các chứng khoán. FHF sẽ lựa chọn các hedge fund và cấu trúc danh mục đầu tư của mình theo các lựa chọn này. Các FHF thường tính phí khá cao cho dịch vụ quản lý, thường cao hơn cả mức của các hedge fund, mức phí quản lý chung thường là 1,5% và phí trên hiệu quả vận hành có thể từ 15-30%. Mặc dù lợi suất thu về có thể cao nhưng nhà đầu tư phải chịu mức phí lớn vì thế không phải lúc nào mức sinh lời cũng cao hơn mức của các quỹ tương hỗ hay quỹ ETF.

Expense Preference / Ưu Tiên Chi Tiêu

Là một khái niệm nói về sự hài lòng của các nhà quản lý đạtđược trong việc chi tiêu cho một số công việc của hãng như chi tiêu cho việc Marketing và cho đôi ngũ nhân viên.

Expenditure-Variation Controls / Kiểm Soát Mức Biến Động Trong Chi Tiêu; Kiểm Soát Sự Thay Đổi Của Chi Tiêu

Điều chỉnh lại sự mất cân bằng kinh doanh bằng cách thay đổi mức và thành phần của ngân sách và bằng cách kiểm soát quy mô và chi phí của tín dụng.

Expenditure-Switching Policies / Các Chính Sách Chuyển Đổi Chi Tiêu

Là một trong các chính sách cần thiết để loại bỏ sự không cân bằng thương mại quốc tế.

Fund Certificate (Fund Stock) / Chứng Chỉ Quỹ

Thị trường chứng khoán mua bán một loại hàng hóa đặc biệt đó là chứng khoán, bao gồm 3 loại chính: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và các chứng khoán phái sinh. Trong đó chứng chỉ quỹ là một mặt hàng ngày càng được ưa chuộng trên thị trường này. Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp trong quỹ đại chúng. Quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đa dạng hóa đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác nhau nhằm phân tán rủi ro, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ. Khi muốn thành lập quỹ thì các công ty quản lý quỹ phải phát hành chứng chỉ quỹ, nhà đầu tư mua chứng chỉ quỹ tức là đã xác nhận sự góp vốn của mình vào quỹ chung đó. Về bản chất chứng khoán quỹ cũng giống như cổ phiếu của một công ty: là bằng chứng xác nhận quyền sở hữu, hưởng lợi nhuận trên phần vốn góp, và đặc biệt được niêm yết trên thị trường chứng khoán để mua bán giữa các nhà đầu tư. Tuy nhiên có ba điểm khác nhau giữa chúng: cổ phiếu là phương tiện huy động vốn của một công ty kinh doanh một vài ngành nghề cụ thể còn chứng chỉ quỹ là phương tiện để thành lập quỹ của một quỹ đầu tư chứng khoán mà ngành nghề hoạt động chính là "chơi chứng khoán". Thứ hai, nếu người sở hữu cổ phiếu phổ thông có quyền biểu quyết hay quản lý công ty thì nhà đầu tư sở hữu chứng khoán quỹ không có quyền tương tự, mọi quyền hành đều do công ty quản lý quỹ quyết định. Chứng chỉ quỹ ngày càng trở thành một mặt hàng được mua bán nhiều trên thị trường chứng khoán, thậm chí nhiều nhà đầu tư còn đánh giá nó hấp dẫn, ít rủi ro hơn cổ phiếu và đặc biệt là có tính thanh khoản cao. Tại sao? Rõ ràng với ưu điểm của quỹ đầu tư chứng khoán, đa dạng hóa đầu tư- phân tán rủi ro và lại có một đội ngũ quản lý quỹ chuyên nghiệp đứng ra "chơi chứng khoán", thì ít nhất độ an toàn và lợi nhuận kỳ vọng cũng cao hơn. Cứ tưởng tượng bạn chỉ cần nắm chứng chỉ quỹ trong tay, yên tâm làm các công việc khác, không cần phải suy tính đầu tư vào chứng khoán nào, rồi đến kỳ bạn lấy lợi nhuận và bạn có thể dễ dàng bán chứng chỉ quỹ này cho các nhà đầu tư khác trên thị trường để thu lại tiền mặt, vậy có phải đó là loại chứng khoán này hấp dẫn nhất không. Tuy nhiên khi là người sở hữu chứng chỉ quỹ đồng thời bạn cũng là người đầu tư thụ động, gián tiếp vì không có quyền quyết định đầu tư và mọi rủi ro hay thành công đều phụ thuộc vào trình độ và kinh nghiệm của người quản lý quỹ.  Cho tới nay, ở Việt Nam mới chỉ có một quỹ đầu tư chứng khoán được thành lập đó là Quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam (VF1) theo giấy chứng nhận đăng ký lập quỹ đầu tư chứng khoán số 01/UBCK-ĐKQĐT ngày 20/5/2004 do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp. Kể từ ngày 8/11/2004 chứng chỉ quỹ VF1 được niêm yết giao dịch tại TTGDCK HCM. Do chứng chỉ quỹ của VF1 đã được niêm yết trên TTGDCK HCM nên việc đầu tư  vào chứng chỉ quỹ VF1 hiện nay giống như đầu tư vào bất kỳ cổ phiếu niêm yết nào trên TTGDCK HCM và mọi giao dịch chứng chỉ quỹ trên TTGDCK HCM đều thông qua các công ty chứng khoán. Tổng giá trị chứng chỉ quỹ niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh là 300 tỷ đồng với khối lượng là 30 triệu đơn vị quỹ (mệnh giá đơn vị quỹ/chứng chỉ quỹ là 10.000 đồng). Đây là quỹ đầu tư dạng đóng, nghĩa là quỹ đầu tư chỉ phát hành chứng chỉ ra công chúng một lần với số lượng nhất định và quỹ hay công ty quản lý quỹ không có nghĩa vụ phải mua lại chứng chỉ quỹ từ người đầu tư trong thời gian hoạt động của quỹ. Tuy nhiên, khi đầu tư vào chứng chỉ quỹ của bất kỳ quỹ đầu tư chứng khoán nào, nhà đầu tư cần phải lưu ý đến một chỉ tiêu luôn luôn gắn liền với hoạt động của các quỹ đầu tư, đó là giá trị tài sản ròng của quỹ (NAV (net asset value)). Nó cho phép nhà đầu tư đánh giá hiệu quả hoạt động của các quỹ nói chung và là cơ sở cho việc xác định giá mua, bán chứng chỉ quỹ trên thị trường. NAV của quỹ được xác định bằng hiệu số giữa tổng giá trị tài sản của quỹ với giá trị các khoản nợ phải trả của quỹ. NAV của mỗi đơn vị chứng chỉ quỹ được xác định bằng cách chia NAV của quỹ cho tổng số chứng chỉ quỹ đang lưu hành của quỹ đầu tư chứng khoán. Một số điểm cần lưu ý khi nhà đầu tư tham gia vào quỹ đầu tư chứng khoán: - Việc mua chứng chỉ quỹ có nghĩa là nhà đầu tư đã uỷ thác cho công ty quản lý quỹ thay mặt nhà đầu tư thực hiện quản lý và đầu tư số tiền bằng với số tiền người đầu tư đã mua chứng chỉ quỹ. Nói một cách đơn giản, tổng giá trị chứng chỉ quỹ do một nhà đầu tư nắm giữ thể hiện số tiền người đầu tư góp vào quỹ để thực hiện đầu tư theo mục tiêu đầu tư chung qui định trong điều lệ quỹ. - Cần dành thời gian đọc và phân tích các tài liệu liên quan đến việc phát hành chứng chỉ quỹ như điều lệ quỹ, các mục tiêu đầu tư của quỹ, kinh nghiệm công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát. - Cân nhắc yếu tố chi phí của quỹ đầu tư và tỷ lệ chi phí /thu nhập khi quyết định mua hoặc bán chứng chỉ quỹ trong trường hợp quỹ đã đi vào hoạt động một thời gian hoặc có nhiều quỹ được thành lập. - Phải biết chấp nhận rủi ro bởi vì công ty quản lý quỹ không có nghĩa vụ phải cam kết chắc chắn là hoạt động đầu tư của quỹ sẽ có lãi mà nó chỉ nghĩa vụ phải thực hiện cách tốt nhất các hoạt động quản lý chuyên nghiệp của mình và vì lợi ích của các nhà đầu tư.

Expenditure Tax / Thuế Chi Tiêu

Là loại thuế đánh vào chi tiêu của người tiêu dùng.NÓ là hình thức thay thế cho THUẾ THU NHẬP và có thể được định mức dựa trên cơ sở luỹ tiến.

Function / Hàm Số

Một công thức toán học cụ thể hoá mối liên hệ giữa các giá trị của một tập hợp các biến độc lập xác định giá trị các biến phụ thuộc.

Expected Value / Giá Trị Kỳ Vọng; Giá Trị Dự Tính

Còn được gọi TRUNG BÌNH, kỳ vọng toán học.Giá trị kỳ vọng của một BIẾN SỐ NGẪU NHIÊN là giá trị trung bình của phân phối của biến ấy.

Self-Liquidating Advances / Các Khoản Ứng Trước Tự Thanh Toán

Một câu châm ngôn truyền thống tròn ngành ngân hàng của Anh là các hình hức tín dụng "tự thanh toán" là hình thức cho vay an toàn nhất cho ngân hàng.

Expected Utility Theory / Lý Thuyết Độ Thoả Dụng Kỳ Vọng; Thuyết Thoả Dụng Dự Tính

Là thuyết về các hành vi cá nhân trong điều kiện KHÔNG CHẮC CHẮN của VON NEUMANN và MORGENSTERN. Thuyết đưa ra sự mô tả logic rằng mọi người duy lý có thể cư xử như thế nào trong một thế giới không chắc chắn. Phần chính của thuyết này cho thấy rằng một cá nhân có những sở thích thoả mãn một số định đề (thường là về trật tự, tiếp tục và dộc lập) sẽ lựa chọn để tối đa hoá độ thoả dụng dự tính.

Self-Liquidating / Tự Thanh Toán

Một khoản vay hay lao dịch tài chính khác có rủi ro thấp và có một thủ tục gắn liền về việc kết thúc khoản vay và thanh toán nợ nần.

Expected Net Returns / Mức Lợi Tức Ròng Kỳ Vọng; Lợi Tức Ròng Dự Tính

Là tổng các thu nhập dự tính trừ đi các chi phí dự tính, tức là lợi nhuận dự tính của một dự án đầu tư.

Seignorage / Thuế Đúc Tiền, Phí Đúc Tiền

Từ xa xưa và áp dụng đối với tiền, đây là một loại thuế đánh vào những kim loại được mang đến xưởng để đúc tiền, nhằm trang trải các chi phí đúc tiền và là một nguồn thu cho nhà cầm quyền, người cho đó là một đặc quyền.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55