Purchasing Power Parity - PPP / Ngang Giá Sức Mua
Ngang giá sức mua là lý thuyết được phát triển vào năm 1920 bởi Gustav Cassel. Đây là một phương pháp điều chỉnh tỉ giá hối đoái giữa hai tiền tệ để cân bằng sức mua của hai đồng tiền này. Lý thuyết ngang giá sức mua chủ yếu dựa trên quy luật giá cả, và giả định rằng trong một thị trường hiệu quả, mỗi loại hàng hoá nhất định chỉ có một mức giá. Công thức tính ngang giá sức mua một cách tương đối như sau: Trong đó "S" là tỉ lệ trao đổi giữa đồng tiền 1 với đồng tiền 2 "P1" là giá cả của hàng hoá X tính bằng đồng tiền 1 "P2" là giá cả của hàng hoá X tính bằng đồng tiền 2 Ngang giá sức mua thường được hiểu là ngang giá sức mua tuyệt đối để phân biệt với lý thuyết ngang giá sức mua tương đối_một lý thuyết dự đoán mối quan hệ về tỉ lệ lãi suất giữa hai quốc gia và những sự biến đổi của tỉ giá hối đoái của tiền tệ hai nước đó. Một tỉ giá hối đoái ngang giá sức mua sẽ cân bằng sức mua của hai loại tiền tệ khác nhau tại mỗi quốc gia với một giỏ hàng hoá nhất định. Loại tỉ giá hối đoái đặc biệt này thường được sử dụng để so sánh chất lượng cuộc sống của người dân tại hai hay nhiều quốc gia khác nhau. Điều chỉnh tỉ giá hối đoái giữa các đồng tiền sẽ cho kết quả khả quan hơn là chỉ đơn thuần so sánh tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của các quốc gia sử dụng các đồng tiền đó. Tuy nhiên việc điều chỉnh tỉ giá hối đoái cũng gây nhiều tranh cãi vì việc tạo một giỏ hàng hoá để so sánh sức mua tiền tệ giữa các quốc gia là vô cùng khó khăn. Thị trường ngoại hối có sự biến động rất mạnh mẽ nhưng có rất nhiều người tin rằng tỉ giá hối đoái ngang giá sức mua phản ánh sự cân bằng về giá trị trong dài hạn. Nếu sử dụng tỉ giá thị trường, không có sự điều chỉnh thì kết quả có thể sẽ có sự sai lệch bởi vì giá cả của các hàng hoá và dịch vụ phi thương mại ở các nước nghèo thì thường thấp hơn nhiều so với các nước phát triển. Vd : với 1 đôla ở Việt Nam ta có thể mua được nhiều thứ hơn 1 đôla tiêu ở Mỹ. Sự khác biệt giữa tỉ giá hối đoái ngang giá sức mua và tỉ giá hối đoái thị trường là rất lớn. Ví dụ: theo các thống kê về tình hình phát triển thế giới của World Bank năm 2005, nếu tính ngang giá sức mua thì 1 đôla Mỹ tương đương 1.8 nhân dan tệ của Trung Quốc (tính vào năm 2003), tuy nhiên, tỉ giá danh nghĩa giữa hai đồng tiền này là 1 đôla bằng 7.9 nhân dân tệ. Sự khác biệt này có nhiều ý nghĩa, vd GDP bình quân đầu người của Trung Quốc là khoảng 1.800$ trong khi nếu tính theo ngang giá sức mua, con số này lên tới 7.204$_một con số khẳng định vị trí nền kinh tế thứ hai thế giới. Tuy nhiên, cũng tính theo ngang giá sức mua, GDP bình quân đầu người của Nhật Bản sẽ sụt xuống còn 30.615$ trong khi đó con số danh nghĩa là 37.600$. Việc tính toán ngang giá sức mua là rất phức tạp vì trên thực tế có sự khác biệt lớn về mức giá giữa các quốc gia, chênh lệch trong giá thực phẩm có thể lớn hơn so với sự chênh lệch trong giá nhà ở, hoặc có thể không biến động nhiều bằng giá các dịch vụ giải trí....Người dân ở các quốc gia khác nhau có thói quen tiêu dùng khác nhau tức là sẽ có các giỏ hàng hoá khác nhau. Vì vậy việc so sánh giá cả của các giỏ hàng hoá khác nhau thông qua chỉ số giá cả là rất cần thiết. Đây cũng lại là một nhiệm vụ rất khó khăn bởi mô hình mua bán và thậm chí các hàng hoá mua bán trên thị trường cũng rất khác nhau giữa các nước.Ngoài ra, khi tiến hành so sánh ngang giá sức mua giữa các thời kì cần tính đến những tác động của nhân tố lạm phát.
Perceived Value / Giá Trị Cảm Nhận
Giá trị người tiêu dùng nhận được chính là sự chênh lệch giữa tổng giá trị nhận được và tổng chi phí phải trả. Tổng giá trị nhận được là những lợi ích mà người tiêu dùng mong đợi ở một sản phẩm hay dịch vụ. Tổng chi phí là tất cả những chi phí mà người tiêu dùng phải trả trong việc so sánh, mua và sử dụng sản phẩm dịch vụ. Khi nói đến giá trị nhận được thì người ta luôn hàm ý đó chính là giá trị cảm nhận. Cùng một sản phẩm và dịch vụ thì giá trị nhận được hoàn toàn khác nhau đối với mỗi người. Mỗi người có một hoàn cảnh sống khác nhau, nhận định khác nhau về mức độ quan trọng và chi phí họ phải trả cho sản phẩm và dịch vụ. Tóm lại, mỗi người tiêu dùng đều có sự đánh giá khác nhau cho cùng một sản phẩm hay dịch vụ - và được gọi đó chính là giá trị cảm nhận. Giá trị cảm nhận là một khái niệm rất quan trọng đối với tổ chức. Một số nhà sản xuất tin rằng khi họ tạo ra được sản phẩm tốt, giá cả phải chăng thì người tiêu dùng sẽ chọn mua. Tuy vậy, một sản phẩm tốt chỉ khi người tiêu dùng cho rằng nó tốt – một giá cả phải chăng chỉ được quan tâm khi mà người tiêu dùng cảm nhận rằng nó phù hợp với những lợi ích mà họ nhận được khi tiêu dùng sản phẩm. Các doanh nghiệp tin rằng một thương hiệu mạnh sẽ mang lại lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Để có thể tạo được một thương hiệu mạnh, các doanh nghiệp nổ lực để hoàn thiện chất lượng sản phẩm và tìm mọi cách để giảm giá thành sản phẩm. Các doanh nghiệp đã bỏ ra không ít công sức và tiền bạc để đạt được những chứng chỉ về chất lượng. Việc hoàn thiện chất lượng và giảm thiểu giá thành sẽ tạo nên lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Tuy vậy, những lợi thế này không đảm bảo cho việc có được một thương hiệu mạnh. Lời giải thích cho nhận định này nằm trong khái niệm giá trị cảm nhận. Theo khái niệm về giá trị cảm nhận thì cách tiếp cận về chất lượng và giá thành trong việc xây dựng thương hiệu có những hạn chế sau. Thứ nhất, doanh nghiệp luôn tin rằng một sản phẩm có chất lượng tốt sẽ được người tiêu dùng đánh giá cao. Doanh nghiệp có thể sử dụng những chỉ tiêu chất lượng để đánh giá sản phẩm nhưng người tiêu dùng đánh giá sản phẩm bằng cách nhìn chủ quan của mình. Bằng những kinh nghiệm, hiểu biết, thông tin và nhu cầu mà mỗi người đều đánh giá hoàn toàn khác nhau. Một sản phẩm có chất lượng tốt được đo lường trong nhà máy chưa chắc là một sản phẩm tốt trong mắt người tiêu dùng. Doanh nghiệp cần quan tâm đến những nhu cầu và mức độ hiểu biết của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ. Một sản phẩm hay dịch vụ được người tiêu dùng đánh giá cao về chất lượng sẽ tăng giá trị của thương hiệu. Thứ hai, doanh nghiệp thường cho rằng người tiêu dùng sẽ chọn sản phẩm và dịch vụ có giá cả thấp hơn. Người tiêu dùng luôn so sánh giữa những giá trị mà họ nhận được với những chi phí phải trả. Giá cả thấp sẽ thúc đẩy chọn sản phẩm khi họ đánh giá được những lợi ích mà sản phẩm và dịch vụ mang lại. Về mặt lý thuyết thì giá cả thấp sẽ mang lại giá trị lớn hơn cho người tiêu dùng nhưng trong thực tế thì giá cả thấp có thể làm cho người tiêu dùng có cảm giác là “tiền nào của nấy” và không đánh giá cao chất lượng của sản phẩm và kế quả là không đánh giá cao thương hiệu. Giá cả là một nhân tố mà người tiêu dùng luôn quan tâm nhưng giá trị cảm nhận sẽ dẫn tới những hành vi của họ. Doanh nghiệp không nên xác định giá mà nên xác định giá trị của sản phẩm và dịch vụ của mình.
Per Capita / Theo Đầu Người
Theo đầu người, chẳng hạn như THU NHẬP QUỐC DÂN tính theo đầu người.
Purchasing Power Parity (PPP) / Cân Bằng Sức Mua
Về lâu về dài, các sản phẩm và dịch vụ đồng nhất ở các nước khác nhau sẽ có cùng mức giá. Cơ sở ở đây là tỉ giá hối đoái sẽ điều chỉnh để loại bỏ cơ hội thu lợi từ chênh lệch giá khi mua hàng ở một nước và bán ở nước khác. Lý thuyết này có một số giả định không thực tế, đó là bỏ qua các tác động của chi phí vận chuyển và thuế quan. PPP có thể hiểu đơn giản là sức mua tương đương của GDP. Ví dụ: 1 đô la ở Mỹ có thể mua 1 lon coke nhưng ở VN có thể mua 3 lon. Như vậy PPP của VN sẽ bằng GDP*3 nếu lấy Mỹ làm chuẩn và GDP của VN vào khỏang 500 đô la thì có thể sánh ngang với người đang sống ở Mỹ có mức lương 1500 đô la. Thông thường người ta sẽ chọn nhiều loại hàng hóa phổ thông vào cùng 1 giỏ và lấy trung bình để có được con số chính xác hơn.
Pension Fund / Quỹ Hưu Trí
Quỹ được lập để thu các khoản đóng góp đều đặn từ công ty, cơ quan chính phủ, hay tổ chức, để cung cấp thu nhập sau khi về hưu cho các nhân viên đủ điều kiện. Các khoản đóng góp của giới chủ được dùng trong các khoản đầu tư miễn thuế, theo quyền cho phép của Bộ thuế thu nhập nội địa. Các nhà đầu tư định chế này là những nhà đầu tư lớn nhất trên thị trường cổ phiếu và cũng đầu tư vào chứng khoán được bảo đảm bằng cầm cố, đồng thời tuy ít phổ biến hơn, đầu tư vào bất động sản và các liên doanh vốn mạo hiểm hữu hạn. Các quỹ hưu trí được miễn thuế về lợi nhuận vốn và mọi điều khoản về thời hạn nắm giữ trong các quy định về chứng khoán. Các giám đốc quỹ hưu trí được yêu cầu tuân thủ các quy tắc đầu tư, như người nhận ủy thác tài sản quỹ hưu trí.
Purchasing Power Parity, PPP / Sức Mua Tương Đương
Là một lý thuyết kinh tế liên kết giữa tỷ giá hối đoái với giá của hàng hóa hay dịch vụ ở hai quốc gia bất kỳ. Sức mua tương đương cho ta biết một đơn vị tiền tệ tại nước này có thể mua bao nhiêu bằng một đơn vị đo lường quốc tế (thường là đồng đô la Mỹ), bởi vì hàng hóa và dịch vụ ở các nước khác nhau có giá khác nhau. Ví dụ (trong phạm vi nhỏ): 1000 đồng VN mua được 1kg gạo, 1kg gạo ở Mỹ có giá 1USD, như vậy tỉ suất của đồng Việt Nam với đồng đô la Mỹ là 1000-1 (khi mua gạo). Lý thuyết được áp dụng cho hàng hóa có thể buôn bán được với chi phí vận chuyển thấp. Tính GDP bình quân đầu người theo phương pháp sức mua tương đương là một trong những thước đo quan trọng để đánh giá tình hình phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trong so sánh quốc tế, đồng thời là một căn cứ quan trọng phục vụ cho việc tính chỉ số phát triển con người (HDI). Chỉ số này ở mỗi quốc gia được cơ quan thống kê Liên Hợp Quốc (Comtrade) thường tính toán và công bố hằng năm. Chênh lệch giữa GDP bình quân đầu người tính theo tỷ giá hối đoái và sức mua tương đương có thể là rất lớn. Năm 2006, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt khoảng 723,9 USD, trong khi tính theo sức mua tương đương, con số này đạt 3.373,3 USD.
Pension / Tiền Lương Hưu
Cơ chế lương hưu gồm hai kiểu, có phạm vi rộng: 1)Hệ thống vốn dự trữ liên quan đến việc phân phối lại suốt đời một cá nhân, dựa vào tiết kiệm của người lao động để tích luỹ vốn và sau đó vốn được tiêu dùng trong thời gian về hưu. 2)Hệ thống thanh toán cho người về hưu, đưa đến sự phân phối lại ở một thời điểm giữa các cá nhân sao cho những người làm việc hỗ trợ những người về hưu.
Purchasing Power Risk / Rủi Ro Sức Mua
Rủi ro sức mua là một trong những loại rủi ro hệ thống khi đầu tư vào thị trường chứng khoán, là biến cố của sức mua của đồng tiền thu được. Rủi ro sức mua là tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư. Nếu chúng ta coi khoản đầu tư là một khoản tiêu dùng ngay, ta có thể thấy rằng khi một người mua cổ phiếu, anh ta đã bỏ mất cơ hội mua hàng hoá hay dịch vụ trong thời gian sở hữu cổ phiếu đó. Nếu, trong khoảng thời gian nắm giữ cổ phiếu đó, giá cả hàng hoá dịch vụ tăng, các nhà đầu tư đã bị mất một phần sức mua. Giá cả hàng hoá và dịch vụ tăng gọi là lạm phát, giá cả hàng hoá giảm gọi là giảm phát, cả đều liên quan đến khái niệm rủi ro sức mua. Nguyên nhân chính của lạm phát là do giá thành sản phẩm và nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ tăng so với mức cung. Thứ nhất lạm phát tăng là do nhu cầu tăng lên khi nền kinh tế có nhiều công ăn việc làm hơn. Tại lúc này, mức cung không tăng kịp so với nhu cầu nhiều lên, các loại hàng hoá và dịch vụ sẽ phải được phân bổ theo một mức giá nào đó tăng lên mà làm cho cung cầu cân bằng tại đó. Thứ hai, lạm phát do tăng giá thành phẩm: Giá nguyên vật liệu và tiền công tăng lên, các nhà sản xuất cố gắng bù đắp lại bằng cách tăng giá cả hàng hoá. Trong một môi trường kinh tế có nhiều công ăn việc làm, tiền công được trả cao thì giá cả hàng hoá sẽ tăng, ngược lại giá cả hàng hoá tăng cũng đòi hỏi tiền công tăng lên, chu trình này cứ lặp đi lặp lại. Như đã nói rủi ro sức mua thường đi kèm với sự thay đổi giá hàng hoá, dịch vụ thì câu hỏi đặt ra là sự thay đổi giá những hàng hoá cụ thể nào sẽ được coi là thước đo tính lạm phát. Thước đo thông dụng nhất sử dụng để xác định mức thay đổi giá cả hàng hoá, dịch vụ làchỉ số giá hàng tiêu dùng. Chỉ số này sử dụng một số loại hàng hoá và dịch vụ đại biểu để tính toán, gồm thức ăn, đồ dùng và rất nhiều các loại dịch vụ, từ y tế đến tiền học để tính toán. Xuất phát từ rủi ro sức mua, khi mua chứng khoán nhà đầu tư cần phải tính kèm cả lạm phát vào thu nhập kỳ vòng để bù đắp rủi ro sức mua, mức này được đo bằng % biến động giá. Sự cần thiết phải điều chỉnh thu nhập kỳ vọng theo những biến động giá cả có thể chứng minh bằng ví dụ đơn giản sau: giả sử bạn cho vay 100 đồng ngày hôm nay và được hứa trả 105 đồng vào cuối năm, lãi suất là 5%. Tuy nhiên nếu giá cả trong năm tăng lên tới 6%, khi đó 105 đồng nhận được vào cuối năm sẽ chỉ có sức mua bằng khoảng 98 đồng so với đầu năm. Như vậy, bạn phải cộng thêm tỷ lệ lạm phát vào lãi suất, tức là thành 11% để cuối năm bạn nhận được lãi suất thực là 5%. Cũng giống như lãi suất có ảnh hưởng đến giá của tất cả các loại chứng khoán (rủi ro lãi suất), sự thay đổi sức mua cũng làm ảnh hưởng đến chúng. Nếu chỉ số giá hàng tiêu dùng dự kiến vào năm sau tăng lên thì mức thu nhập đối với chứng khoán cũng đòi hỏi phải tăng lên tương ứng. Điều đó sẽ tác động đến giá của các loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu và cổ phiếu công ty, nếu lãi suất hay tỷ suất cổ tức từ những loại giấy tờ có giá này tăng theo mong đợi thì giá của chúng sẽ cao và thu hút càng nhiều nhà đầu tư.
Rủi Ro Sức Mua (Purchasing Power Risk) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Rủi Ro Sức Mua (Purchasing Power Risk) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Penny stock Và Blue chip / Penny stock And Blue chip
Penny stock và Blue chip đều là hai dạng cổ phiếu phổ thông, lưu hành rất phổ biến trên thị trường chứng khoán. Hai dạng cổ phiếu này có nhiều đặc điểm rất khác nhau, tiêu chí để phân biệt chúng chủ yếu là độ lớn mệnh giá và công ty phát hành. Penny stocks là loại chứng khoán có mệnh giá nhỏ, do các công ty rất nhỏ tung ra thị trường. Bên cạnh thuật ngữ Penny stock đôi khi người ta còn sử dụng một số tên gọi khác mang nghĩa tương đương như Microcap stock, Small cap hay Nano cap. Ở thị trường tài chính Mỹ, thuật ngữ "Penny stock" được hiểu là những loại chứng khoán có trị giá thấp hơn 5$/cổ phiếu, và được mua bán bên ngoài những thị trường hối đoái lớn như NYSE, NASDAQ hay AMEX và thường được xem như là kém hấp dẫn. Penny stock là một trong 3 dạng của cổ phiếu OTC - cổ phiếu chưa được niêm yết chính thức trên sàn. Thông thường, OTC trên thế giới là thị trường của các loại cổ phiếu mới chuyên về lĩnh vực công nghệ cao, được kiểm soát và giám sát bởi Ủy ban Chứng khoán (UBCK), DN phải báo cáo lợi nhuận hàng quý, hàng năm cho UBCK và các nhà đầu tư. Riêng ở Mỹ phân chia rõ cổ phiếu OTC gồm 3 cấp. Cấp thấp nhất là cổ phiếu ở Pink Sheet (giấy hồng) cho nhà đầu tư biết giá đóng cửa hôm liền trước. Những cổ phiếu này thường là loại không an toàn, dành cho những nhà đầu tư ít tiền có thể tham dự. Cấp cao hơn được gọi là Penny Stock (loại ba xu) cho những nhà đầu tư thích mua giá rẻ. Cấp cao nhất là cổ phiếu ở NASDAQ, đây là thị trường của các đại gia về công nghệ cao như Microsoft, Intel, Apple, Applied Materral… Còn ở Anh thì người ta hiểu Penny stock là cổ phiếu có trị giá thấp hơn 1 Bảng/cổ phiếu do công ty qui mô nhỏ phát hành, đó là những công ty có vốn thị trường nhỏ hơn 100 triệu Bảng. Penny stock ở Anh được kiểm soát bởi "Qui định chuẩn về cảnh báo rủi ro" do Cơ quan quản lý dịch vụ Tài chính ban hành. Penny stock được đánh giá là loại chứng khoán chứa đựng độ rủi ro cực cao, đặc biệt là khi được mua bán với số lượng nhỏ mà không trên giấy tờ chính thức. Bởi lẽ Penny stock không được buôn bán thường xuyên trên những sàn giao dịch, nên thật khó khăn cho những ai đang sở hữu chúng mà muốn bán đi. Hơn nữa không có danh sách báo giá cho một loại cổ phiếu penny stock bất kì nên không có cơ sở để định giá chúng một cách chính xác khi giao dịch. Chính vì vậy các nhà đầu tư luôn phải chuẩn bị trước tình thế thua lỗ khi buôn bán loại cổ phiếu này. Ngược lại Blue chip là loại cổ phiếu "chất lượng cao" hay còn gọi là cổ phiếu "thượng hạng", do các công ty lớn có tiếng phát hành. Chúng mang lại cổ tức đều đặn cho người nắm giữ kể cả khi công ty làm ăn thua lỗ. Blue chip rất được ưa chuộng cho dù giá cao, vì chúng mang lại sự an toàn và ổn định tương đối cho các nhà đầu tư (thuật ngữ này đã được giải thích rõ trong cùng mục).
Pendulum Arbitration / Trọng Tài Con Lắc
Sự phân xử trong đó trọng tài viên được yêu cầu chọn một trong những vị trí của các bên tranh chấp hơn là đi đến một vị trí thoả hiệp trung gian.
PEG Ratio / Tỉ Lệ PEG
Tỉ lệ PEG là tỉ lệ được sử dụng để định giá một cổ phiếu khi tính đến tốc độ tăng trưởng thu nhập từ cổ phiếu đó. Công thức tính tỉ lệ PEG như sau: Tỉ lệ PEG = (P/E) / Tốc độ tăng trưởng thu nhập cổ phiếu Khi tính toán tỉ lệ PEG, người ta có thể sử dụng thu nhập của năm trước hoặc thu nhập dự kiến của năm tới, nhưng tốc độ tăng trưởng được sử dụng luôn là tốc độ tăng trưởng ước tính của năm tới, nó phụ thuộc vào dự đoán và ý đồ của công ty đó và các nhân tố khách quan khác như điều kiện thị trường, sự cường điệu của các nhà đầu tư... Thông thường người ta cho rằng tỉ lệ PEG = 1 là chấp nhận được,ví dụ; nếu một công ty có tốc độ tăng trưởng thu nhập 30%/năm, thì P/E là 30 sẽ là hợp lý. Khi đó thị trường đang định giá cổ phiếu hoàn toàn tương đồng với tốc độ tăng trưởng kì vọng của nó. Về mặt lý thuyết như thế là bình thường bởi vì, trong một thị trường hợp lý và hiệu quả, P/E phản ánh tốc độ tăng trưởng của thu nhập từ cổ phiếu. Nếu tỉ lệ PEG lớn hơn 1, nó đồng nghĩa với việc hoặc cổ phiếu đó đã được định giá quá cao hoặc thị trường đặt kì vọng vào tốc độ tăng trưởng thu nhập của loại cổ phiếu này cao hơn mức công bố. Ngược lại nếu tỉ lệ PEG nhỏ hơn 1, thì hoặc cổ phiếu đó đang bị định giá thấp hoặc kì vọng của thị trường không tốt. PEG là chỉ số được sử dụng rộng rãi để tính toán giá trị tiềm năng của một cố phiếu. Các nhà đầu tư ưa dùng PEG hơn là P/E bởi vì nó đã tính đến tốc độ tăng trưởng dự kiến của doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần lưu ý là tỉ lệ PEG không thể sử dụng độc lập được mà phải được kết hợp với các thông tin bổ sung khác để có được một cái nhìn rõ ràng về triển vọng đầu tư của một công ty. Nhà đầu tư phải hiểu rõ cơ sở, khuynh hướng hoạt động của công ty, và cái mà chỉ số thu nhập trên đầu cổ phiếu phản ánh. Thêm vào đó, để xác định xem một cổ phiếu được định giá cao hay thấp cần phải phân tích P/E và tỉ lệ PEG trong mối tương quan với các doanh nghiệp cùng ngành và với toàn bộ thị trường. Xem xét ví dụ ngắn sau đây: giá cổ phiếu của GE hiện là $31/cp, các chuyên gia dự đoán thu nhập trên đầu cổ phiếu năm nay là $1.65 tức là tăng 17% so với mức $1.41 của năm trước. P/E hiện nay tính theo thu nhập cổ phiếu ước tính là 18.8 lần. Như vậy theo công thức trên tỉ lệ PEG là 18.8 / 17 =1.11 > 1. Có thể lý giải cho việc tỉ lệ PEG của cổ phiếu GE cao hơn 1 là do nó vẫn duy trì được kì vọng tăng trưởng cho dù có một vài thông tin không thuận lợi lắm trên thị trường chứng khoán. Một giả thuyết khác là các tổ chức đầu tư vẫn chưa muốn bán cổ phiếu GE bởi vì nó được coi là một loại cổ phiếu chiến lược và hiện vẫn chưa có cổ phiếu nào khác thay thế được nó trong danh mục đầu tư, cũng trong hoàn cảnh tương tự thì một cổ phiếu "bình thường" có lẽ đã bị rớt giá mạnh. So sánh tỉ lệ PEG của GE với Dow Jones(1.30) hay S&P 500(1.88), có thể thấy thị trường cũng không đặt nhiều kì vọng vào GE lắm nếu so với các cổ phiếu bluechip khác.
Pure Profit / Lợi Nhuận Thuần Túy
Một số dư tiền được để lại khi doanh thu phát sinh từ một hoạt động nào đó đã được trừ cho tất cả các chi phí cơ hội của sản xuất có thể xảy ra, lợi nhuận thông thường cần thiết để duy trì sự kinh doanh của người sản xuất.
Put Option / Quyền Chọn Bán
Hợp đồng quyền chọn bán là một hợp đồng tài chính giữa hai bên, theo đó người mua hợp đồng (the holder) có quyền bán cho người bán hợp đồng (the writer) một số cổ phần của một lại chứng khoán, chỉ số chứng khoán nào đó tại một mức giá xác định (strike price, exrcise price), vào hoặc trước ngày đáo hạn hợp đồng. Nếu như Call option là hợp đồng quyền chọn mua thì ngược lại với nó có một loại hợp đồng quyền chọn khác là Put option, hợp đồng quyền chọn bán. Hợp đồng quyền chọn bán là một hợp đồng tài chính giữa hai bên, theo đó người mua hợp đồng (the holder) có quyền bán cho người bán hợp đồng (the writer) một số cổ phần của một lại chứng khoán, chỉ số chứng khoán nào đó tại một mức giá xác định (strike price, exrcise price), vào hoặc trước ngày đáo hạn hợp đồng (expiration date). Để đổi lại người mua phải trả cho người bán một khoản phí hợp đồng (option premium). Cần lưu ý trong hợp đồng quyền chọn bán người mua hợp đồng lại chính là người có quyền bán chứng khoán. Người mua hợp đồng sẽ có lợi nếu giá chứng khoán sụt giảm mạnh, khi đó nếu người mua hợp đồng quyết định thực thi quyền bán (exercise the option), người bán hợp đồng buộc phải mua số chứng khoán đó. Ngược lại, người bán hợp đồng (người có nghĩa vụ mua chứng khoán khi đến hạn nếu người mua hợp đồng yêu cầu) sẽ thu lợi khi giá chứng khoán tăng, đứng, hoặc giảm ít hơn khoản phí hợp đồng nhận được. Hợp đồng quyền chọn bán là một cách để nhà đầu tư bảo hiểm cho chứng khoán của mình khi ông ta dự đoán chứng khoán đó có khả năng tụt giá trong tương lại đồng thời không muốn bán hẳn số chứng khoán đó hoặc để đầu cơ thu lợi trước dự đoán đó. Dù trường hợp nào có xảy ra chăng nữa thì rủi ro người mua hợp đồng cũng chỉ giới hạn trong số phí hợp đồng Hợp đồng quyền chọn bán phổ biến nhất đối với cổ phiếu của một công ty nhất định, ngoài hợp đồng put option còn hay được mua bán với tài sản tài chính như lãi suất, hoặc mặt hàng thực như vàng, dầu mỏ. Vd: Tôi mua một hợp đồng quyền chọn bán 100 cổ phiếu công ty ABC với giá 50 trong khi giá hiện tại của cổ phiếu này là 55, và tôi phải trả phí hợp đồng là 5. Nếu giá cổ phiếu ABC giảm xuống còn 40 trước khi đáo hạn hợp đồng tôi có thể mua vào 100 cổ phiếu ABC với giá 4000 và thực thi quyền bán của mình với người bán hợp đồng lấy 5000. Như vậy tổng lợi nhuận của tôi là 500 = (5000 - 4000 - 5000), trừ đi phí hoa hồng. Nếu giá chứng khoán cho đến ngày đáo hạn hợp đồng vẫn không giảm xuống dưới strike price (50) thì người mua hợp đồng sẽ từ chối thực hiện quyền bán của mình (đương nhiên rồi, tại sao anh ta lại phải mua chứng khoán với giá cao hơn 50 để bán ở giá 50 chứ?) Như vậy tất cả những gì người mua hợp đồng mất là khoản phí hợp đồng 500(5*100). Trước khi quyền chọn bán được thực hiện, giá quyền chọn (phí quyền chọn) thay đổi theo giá chứng khoán và theo thời gian. Giá quyền chọn phải phản ánh được cơ hội mà hợp đồng này đem lại lợi nhuận cho người mua. Do đó, nếu chứng khoán càng biến động mạnh (volatile) và thời gian đáo hạn càng dài thì phí quyền chọn càng cao.
Hợp đồng cho phép người nắm giữ quyền, nhưng không có nghĩa vụ, bán chứng khoán hay công cụ tài chính trong một thời kỳ nhất định, theo giá nhất định, được gọi là Giá Thực Hiện hay Giá Thực Thi. Các hợp đồng quyền chọn bán được mua bởi nhà đầu tư tin rằng giá chứng khoán cơ sở sẽ giảm và họ có thể bán chứng khoán với giá thực thi cao hơn. Ngược với Quyền Chọn Mua (Call Option).
PEG Payback Period / Thời Gian Hoàn Trả PEG
Đây là một chỉ số quan trọng dùng để xác định khoảng thời gian cần thiết để một nhà đầu tư tăng gấp đôi lượng tiền mà họ đã đầu tư vào cổ phiếu. Hệ số thời gian hoàn trả PEG cũng đo lường khoảng thời gian cần thiết để một doanh nghiệp tăng thu nhập tương đương với giá mà các nhà đầu tư đã trả để có được cổ phần của doanh nghiệp đó. Thông thường, tỉ lệ PEG vẫn được các nhà đầu tư ưa thích hơn tỉ lệ P/E vì họ cho rằng thu nhập của doanh nghiệp sẽ tăng lên theo thời gian. P/E là một cách để bạn có thể tính toán khoảng thời gian này. Giả sử rằng cổ phần trị giá 10$, thu nhập trên mỗi cổ phần là 1$, tức là P/E = 10. Nếu công ty tiếp tục giữ mức thu nhập 1$/cổ phần qua các năm, sẽ mất đến 10 năm để thu nhập ngang với mức giá 10$/cp. Khi đó ta nói công ty có thời gian hoàn trả là 10 năm, với giả định là thu nhập không đổi qua các năm. Vấn đề là ở chỗ hầu như không có công ty nào có thu nhập các năm như nhau. Với tư cách là một nhà đầu tư, bao giờ bạn cũng mong thu nhập của công ty sẽ tăng.Vì vậy thông thường tỉ lệ PEG vẫn được các nhà đầu tư ưa thích hơn tỉ lệ P/E bởi họ cho rằng thu nhập của doanh nghiệp sẽ tăng lên theo thời gian. Tiếp ví dụ phía trên, nếu các nhà đầu tư đều thống nhất rằng công ty sẽ tăng trưởng với tốc độ 10%/năm, khi đó thu nhập của năm đầu tiên sẽ là 1.1$, năm thứ hai là 1.21 (=1.1x1.1) ....Dựa trên tốc độ tăng trưởng này, thời gian 10 năm sẽ rút ngắn xuốg chỉ còn 7 năm và vì thế tính toán theo PEG thường cho ta kết quả thời gian ngắn hơn tính theo P/E. Một lý do rất quan trọng cần tính thời gian hoàn trả PEG đó là nhằm xác định mức độ rủi ro của một quyết định đầu tư. Thông thường, nếu thời gian này càng dài thì độ rủi ro càng cao bởi việc tính toán khoảng thời gian này dựa trên việc đánh giá khả năng tăng thu nhập của doanh nghiệp. Việc tính toán khả năng này tại một thời điểm tương đối xa trong tương lai thì thường rất khó khăn do đó mức độ rủi ro cũng cao hơn. Nếu bạn sở hữu một ngôi nhà hay một chiếc ôtô, có thể bạn sẽ biết điều gì sẽ xảy ra khi bạn đi vay nợ. Ngân hàng có thể cho bạn vay một khoản tiền và bạn sẽ phải chịu một mức lãi suất nhất định. Thông thường để giảm bớt rủi ro ngân hàng sẽ yêu cầu bạn có tài sản đảm bảo (quyền sử dụng đất, bất động sản...). Là một cổ đông của công ty, bạn cũng giống như một ngân hàng. Khi mua cổ phiếu tức là bạn đã cấp cho công ty một lượng tiền để công ty đó có thể chi dùng cho hoạt động kinh doanh của mình. Bạn chỉ được bù đắp lại khi mà thu nhập của công ty tăng, cổ phiếu được đánh giá cao. Tuy nhiên trong khi các ngân hàng xác định rõ ràng biên lợi nhuận và thời gian nhận tiền hoàn trả, các cổ đông thì lại không có sự may mắn ấy. Nhưng họ thể dự đoán thu nhập từ hoạt động đầu tư của mình và thời gian nhận được khoản tiền đó thông qua việc kiểm tra, xem xét thời gian hoàn trả PEG.
Puttable Bond / Trái Phiếu Có Quyền Bán Lại
Trái phiếu có quyền trả lại trước ngày đáo hạn. Trái phiếu này cho phép người giữ trái phiếu thu hồi số tiền theo các thời khoản ấn định trước ngày đáo hạn và nhận đầy đủ mệnh giá đã ghi trên trái phiếu. Trái chủ được phép giao lại trái phiếu cho nhà phát hành một lần trong thời gian còn hiệu lực phát hành hoặc lâu hơn. Trái phiếu này cho phép người nắm giữ hạn chế được rủi ro trước sự biến động của thị trường. Và thông thường, loại trái phiếu này có lãi suất thấp hơn trái phiếu thông thường (trái phiếu không thể thu hồi lại trước ngày đáo hạn).
Pecuniary External Economy / Tính Kinh Tế Tiền Tệ Bên Ngoài
Miêu tả một tình huống trong đó lợi nhuận của một doanh nghiệp phụ thuộc không những vào đầu vào và đầu ra của riêng doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào đầu vào và đầu ra của các doanh nghiệp khác.
Putty-Clay / Mô Hình Putty-Clay; Mô Hình Mát Tít - Đất Sét
Một hình thái của HÀN SẢN XUẤT cho phép thay vốn bằng lao động và ngược lại trước khi đầu tư thức tế được thực hiện, nhưng một khi máy móc đã được lắp đặt thì tỷ số Vốn/ lao động không thể thay đổi được.
Peak-load Pricing / Định Giá Theo Tiêu Dùng Cao Điểm
Vấn đề tính giá theo tiêu dùng ở điểm đỉnh xuất phát khi mà cầu về sản lượng (đầu ra) của một xí nghiệp công cộng có thể có những biến động lớn. Không thể làm thêm giờ và dự trữ sản lượng hoặc thực hiện việc đó một cách tốn kém, chẳng hạn như sản xuất điện. Giải pháp này đưa đến việc tính nhiều giá khác nhau trong các thời gian khác nhau, các giá đó tùy thuộc vào cầu hoặc điều kiện chi phí liên quan.
Putty-Putty / Mô Hình Putty-Putty; Mô Hình Mát Tít - Mát Tít
Một khía cạnh của hàm sản xuất trong lý thuyết tăng trưởng cho phép vốn được liên tục đổi hình dạng cả trước và sau khi đầu tư đã thực hiện.
Pyramid Scheme / Đề Án Kim Tự Tháp
Đề án kim tự tháp là một đề án đầu tư bất hợp pháp trong đó nhà đầu tư được hứa hẹn lợi nhuận cao, tuy nhiên mức lợi nhuận này là không thể có được. Đây là những trò gian lận, trong đó tiền từ các nhà đầu tư sau được sử dụng để trả cho nhà đầu tư trước đó. Những người nghĩ ra đề án nắm được hầu hết lợi nhuận trong khi những người đến sau không thu được gì bởi cuối cùng số lượng các nhà đầu tư mới không đủ để trả những đầu tư hiện có. Những trò gian lận kiểu này chắc chắn sụp đổ vì chúng đòi hỏi tốc độ tăng trưởng về số lượng người tham gia tại mỗi bước, mà đó là điều không thể. Thư hoặc thư điện tử khuyến khích người nhận gửi tiền và sau đó gửi lại thông điệp này cho một số lượng nhất định các mục tiêu mới là một hình thức của đề án kim tự tháp. Như vậy thì mô hình kim tự tháp của nó cũng có nét giống với bán hàng đa cấp bất chính.






