Bourse / Thị Trường Chứng Khoán (Châu Âu)
Tiếng Pháp chỉ thị trường chứng khoán, thuật ngữ chung của Châu Âu chỉ giao dịch mua bán các chứng khoán niêm yết, và ở một số nước, gọi là ngoại hối. Được sử dụng hầu hết tại Pháp và Bỉ. Theo tiếng Ý là borsa và tiếng Đức là borse.
Insured Financial Institution / Định Chế Tài Chính Được Bảo Hiểm
Định chế tiết kiệm hoặc ngân hàng là thành viên của kế hoạch bảo hiểm tiềm gởi của Công ty Bảo Hiểm Tiền gởi Liên bang. Các ngân hàng quốc gia và các ngân hàng tiểu bang được yêu cầu bảo hiểm tiền gởi với Quỹ Bảo hiểm của Ngân hàng. Tiền gởi trong các Hiệp hội tiết kiệm và cho vay, trong các ngân hàng tiết kiệm liên bang, được bảo vệ bởi Quỹ Bảo hiểm của Hiệp hội tiết kiệm, và tiền gởi trong các hiệp hội tín dụng được bảo hiểm bởi Quỹ bảo hiểm Chia sẻ của Hiệp hội Tín dụng Quốc gia.
Borrowing Base / Số Căn Bản Được Vay
Số tiền mà người cho vay sẵn lòng tạm ứng theo giá trị của tài sản thế chấp. Số căn bản được vay được xác đinh bằng cách nhân giá trị tài sản thế chấp được giao (các khoản phải thu, hàng tồn kho, thiết bị) với hệ số chiết khấu, một quá trình được biết đến như tiền bảo chứng. Trong tài trợ khoản phải thu, người cho vay có thể đồng ý tạm ứng 80% các khoản phải thu hiện tại. Ví dụ, số căn bản được vay khi cầm cố các khoản phải thu 200,000$ là 160,000$. Theo thông lệ, các khoản phải thu đảm bảo chất lượn thì số căn bản được vay cao hơn (và chênh lệch nhỏ hơn) hàng tồn kho, vì các khoản phải thu chuyển thành tiền mặt nhanh hơn. Xem FLOATING LIEN.
Số lượng tiền cho một công ty vay từ một người sẵn lòng tạm ứng dựa trên giá trị tài sản thế chấp mà công ty cam kết. Số căn bản được vay thường được xác định bằng một phương pháp gọi là giao dịch kí quỹ, ở đó người cho vay xác định hệ số chiết khấu nhân với giá trị của tài sản thế chấp; kết quả thu được chính là lượng tiền mà công ty sẽ được vay. Ví dụ, nếu công ty X tìm gặp một người cho vay để vay tiền, người cho vay sẽ đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của công ty và ước tính rủi ro của người cho vay. Dựa vào rủi ro mà người cho vay cảm thấy có liên quan tới việc cho công ty X vay tiền, một hệ số chiết khấu được xác định là 85%. Nếu công ty X đưa ra tài sản thế chấp có giá trị 100.000 USD, lượng tiền sẽ cho vay bằng 85% của 100.000, hay 85.000 USD.
Borrowed Reserves / Dự Trữ Bằng Tiền Vay
Khoản vay của Cục Dự trữ Liên bang cho một ngân hàng hay định chế tiết kiệm, do dự trữ hiện tại không đủ để đáp ứng yêu cầu dự trữ pháp định. Việc tăng quỹ vay mượn để dự trữ là báo hiệu chính sách tín dụng của Dự trữ Liên bang sẽ thắt chặt hơn, và lãi suất có tiềm năng cao hơn đối với những ngân hàng vay. Khi Dự trữ Liên bang cung cấp tín dụng ít hơn cho hệ thống ngân hàng, các ngân hàng buộc phải vay để duy trì dự trữ yêu cầu. Những khoản vay này, theo hình thức tạm ứng hay chiết khấu từ Ngân hàng Dự trữ Liên bang, thường được thế chấp bằng chứng khoán kho bạc. Xem DISCOUNT WINDOW, REDISCOUNT.
Insured Account / Tài Khoản Được Bảo Hiểm
Tài khoản tại ngân hàng, hiệp hội cho vay và tiết kiệm, hoặc định chế tài chính khác, được bảo đảm chống lại thua lỗ bởi quỹ bảo hiểm tiền gởi. Tài khoản trong các định chế ký gởi bảo hiểm liên bang được bảo vệ lên đến $100,000 trong số dư vốn gốc. Các tài khoản ngân hàng thương mại và các tài khoản ngân hàng tiết kiệm hỗ tương được bảo hiểm bởi Quỹ Bảo hiểm Ngân hàng; các tài khoản ngân hàng tiết kiệm liên bang và các quỹ cho vay và tiết kiệm được bảo hiểm bởi Quỹ Bảo hiểm của Hiệp hội Tiết kiệm, và tài khoản hiệp hội tín dụng được bảo hiểm bởi Quỹ Bảo hiểm Chia sẻ Hiệp hội Tín dụng Quốc gia. Xem UNINSURED DEPOSITOR. Trái với tài sản không được bảo hiểm, không được bảo vệ bởi bảo hiểm tiền gởi liên bang. Các quỹ tương hỗ và những khoản niên kim là các khoản đầu tư không được bảo hiểm rủi ro của thị trường, nhưng các nhà đầu tư với các tài khoản của nhà môi giới - thương nhân có thể được bảo vệ, trong trường hợp xảy ra khả năng không thể thanh toán của nhà môi giới, bởi Công ty Bảo vệ Nhà đầu tư Chứng khoán (SPIC).
Borrowed Funds / Các Quỹ Vay Mượn
Thuật ngữ chỉ các quỹ cho vay của một ngân hàng, thường là vay ngắn hạn bởi một ngân hàng khác. Quỹ vay này bao gồm: các hóa đơn phải trả, đồng dollar Châu Âu đã mua và các quỹ Liên bang đã mua; tái chiết khấu các phiếu nợ, và thương phiếu tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang; và thỏa thuận mua lại với các định chế tài chính khác và các nhà mua bán chứng khoán. Cũng được gọi khoản vay. Xem BORROWED RESERVES, MANAGED LIABILITIES.
Book Transfer / Chuyển Tiền Trên Sổ Sách
Chuyển tiền từ tài khoản tiền gởi này sang tài khoản tiền gởi khác cùng một định chế tài chính. Việc chuyển tiền trên sổ sách là phương pháp chuyển tiền hiệu quả vì chúng loại bỏ tiền đang chuyển để thanh toán chi phiếu.
Instrumentality / Phương Tiện
Cơ quan chính quyền phát hành chứng khoán khả mại được bảo đảm bằng tín dụng trung thực của chính phủ. Thuật ngữ này thường được sử dụng liên quan đến tín phiếu, chứng chỉ, và trái phiếu được các cơ quan chính phủ Mỹ phát hành, như Ngân hàng Xuất Nhập khẩu, Hiệp hội Cầm cố Quốc gia của Chính phủ, hoặc Cục Quản trị Doanh nghiệp nhỏ, nhưng có thể đề cập bất kỳ cơ quan nào của chính phủ.
Book Entry Security / Chứng Khoán Ghi Sổ
Chứng khoán được thể hiện bằng một bút toán trên sổ sách của một đơn vị ký gởi tư nhân, như trường hợp chứng khoán của Chính phủ Mỹ, Ngân hàng Dự trữ Liên bang, thay cho giấy chứng nhận. Hầu như tất cả Chứng khoán kho bạc được phát hành theo hình thức ghi sổ, như trường hợp 1/3 trái phiếu đô thị. Chứng khoán ghi sổ ít bị trộm cắp, không thể bị giả mạo, và không đòi hỏi nghiệp vụ kế toán hay ghi chép theo số chứng chỉ. Cũng vậy, các chủ sở hữu không cần phải lo lắng về việc cắt phiếu lãi để nhận thanh toán tiền lãi trái phiếu.
Book Balance / Số Dư Trên Sổ Sách
Các quỹ tiền gởi trước khi có điều chỉnh tiền đang chuyển (float) để thanh toán chi phiếu, tiền chưa thu, hay yêu cầu dự trữ. Cũng được gọi là số dự gộp.
Là tiền ký gửi trước khi có bất kỳ điều chỉnh nào để thanh toán bù trừ séc, quỹ thả nổi hoặc yêu cầu dự trữ. Số dư trên sổ sách là thuật ngữ ngân hàng sử dụng để mô tả số tiền có sẵn trước khi có bất kỳ điều chỉnh nào được thực hiện đối với tiền đang chuyển, séc chưa được thanh toán, yêu cầu dự trữ và tiền lãi nhận được từ "quỹ thả nổi". Cũng được gọi là "số dư gộp". "Quỹ thả nổi" là một thuật ngữ được sử dụng để mô tả tiền lãi mà các ngân hàng nhận được do khoảng thời gian giữa tiền gửi và thanh toán séc. Khi séc được gửi vào ngân hàng, nó sẽ không được thanh toán ngay lập tức. Thời gian giữa tiền gửi và thanh toán của séc đóng vai trò là cơ sở để ngân hàng thanh toán kiếm thêm tiền lãi từ số tiền đó.
Instructing Bank / Ngân Hàng Chỉ Thị
Ngân hàng tiến hành chuyển tiền theo yêu cầu của khách hàng, trái với ngân hàng tư vấn, có nhiệm vụ thông báo cho người gởi rằng việc thanh toán đã được thực hiện. Còn được gọi là bên đặt lệnh.
Bond Trustee / Bên Nhận Ủy Thác Trái Phiếu
Định chế tài chính với quyền ủy thác, như phòng ủy thác ngân hàng thương mại hay công ty ủy thác, được cấp quyền thụ ủy bởi công ty phát hành trái phiếu, nhằm tăng cường thời hạn trái phiếu nợ. Bên nhận ủy thác nhận thấy rằng các khoản chi trả tiền lãi trái phiếu được trả theo thời biểu, và bảo vệ các quyền lợi chủ sở hữu trái phiếu nếu công ty phát hành không chi trả.
Định chế tài chính với quyền ủy thác, như phòng ủy thác ngân hàng thương mại hay công ty ủy thác, được nhà phát hành trái phiếu trao quyền ủy thác để thực thi các điều khoản của giao dịch trái phiếu. Một điều khoản là hợp đồng giữa một công ty phát hành trái phiếu và một người nắm giữ trái phiếu. Một người được ủy thác thấy rằng các khoản thanh toán lãi trái phiếu được thực hiện theo đúng kế hoạch và bảo vệ lợi ích của các trái chủ nếu nhà phát hành mặc định. Người ủy thác trái phiếu chịu trách nhiệm đăng ký, chuyển nhượng và thanh toán trái phiếu. Người ủy thác trái phiếu được yêu cầu duy trì các tài khoản riêng, theo dõi các yêu cầu hồ sơ phát hành trái phiếu và cung cấp báo cáo hàng tháng. Người ủy thác trái phiếu chấp thuận sửa đổi một số hồ sơ phát hành và hành động thay mặt cho các trái chủ nếu người vay hoặc người phát hành vi phạm một số điều khoản phát hành trái phiếu. Bên nhận ủy thác trái phiếu phải có đủ nhân viên và hệ thống để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của mình và tuân thủ các yêu cầu phát hành trái phiếu, liên bang và tiểu bang khác nhau.
Institutional Lender / Bên Cho Vay Định Chế
Định chế tài chính hoặc nhà đầu tư định chế, đầu tư các quỹ của chính định chế đó, hoặc do định chế đó quản lý, dưới dạng cổ phần công ty và chứng khoán nợ, chứng khoán chính phủ, cầm cố nhà ở, bất động sản thương mại hoặc chứng khoán được được bảo đảm bằng cầm cố. Thường thì những nhà đầu tư này mua khoản vay cầm cố, toàn bộ khoản vay hoặc tổ hợp các khoản vay kết hợp như các chứng khoán, và những chứng khoán mới được chào bán thông qua thoả thuận cá nhân. Trong thị trường cầm cố thứ cấp, thì những hiệp hội cho vay và tiết kiệm, những ngân hàng tiết kiệm, công ty bảo hiểm nhân thọ, những ngân hàng thương mại, và các quỹ lương hưu hoạt động như những định chế cho vay.
Insider Information / Thông Tin Nội Bộ
Thuật ngữ pháp lý đối với thông tin không công bố rộng rãi cho công chúng, nhưng được biết bởi các giám đốc nội bộ, những người chủ công ty biết trong việc hoạch định mua thâu tóm một công ty khác hoặc các ngân hàng khác. Các nhân viên, giám đốc và những người khác bên trong công ty sở hữu ít nhất 10% cổ phần của công ty, phải báo cáo việc mua bán cho Sở Giao dịch chứng khoán.
Initial Interest Rate / Lãi Suất Ban Đầu
Lãi suất, thường được chiết khấu ở dưới mức lãi suất điều chỉnh đầy đủ theo chỉ số, có hiệu lực trong suốt thời kỳ, trước khi có sự thay đổi lãi suất đầu tiên của cầm cố có lãi suất điều chỉnh (ARM).
Inflation - Indexed Securities / Chứng Khoán Điều Chỉnh Theo Lạm Phát
Kỳ phiếu hoặc trái phiếu đảm bảo tỉ lệ lợi nhuận trên mức lạm phát nếu giữ đến ngày đáo hạn. Chứng khoán kho bạc điều chỉnh theo lạm phát, đã có từ năm 1997, được đưa ra theo những kỳ hạn sau đây: kỳ phiếu kho bạc 5 năm và 10 năm, và trái phiếu kho bạc 30 năm. Chứng khoán kho bạc điều chỉnh lạm phát có hai phần: Tỉ lệ lợi nhuận cố định, trả như là tiền lãi, và phần hoàn lại có thể điều chỉnh (vốn gốc) được điều chỉnh theo tốc độ thay đổi của chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Nếu lạm phát tăng lên thì phiếu lãi vẫn không đổi, nhưng vốn gốc được điều chỉnh theo lạm phát (trả khi đáo hạn) sẽ tăng giá trị. Chứng khoán điều chỉnh lạm phát của kho bạc Mỹ được mô phỏng theo Trái phiếu Lãi suất thực được Chính phủ Canada phát hành, và được Cục Nợ công của Bộ Tài chính sử dụng, với các mệnh giá thấp đến $1,000. Chứng khoán này có thể được mua bằng điện tử thông qua Treasury Direct (Kho bạc Trực tiếp), Văn phòng kinh doanh của Bộ Tài chính cho các nhà đầu tư nhỏ hoặc thương nhân - nhà môi giới tài chính.
INET / Hệ Thống Thanh Toán Trên Mạng
Mạng lưới để trao đổi những giao dịch có và nợ của thẻ ngân hàng giữa các định chế tài chính, là chi nhánh của tổ chức Mastercard International. Hệ thống cấp phép (INAS) và hệ thống thanh toán (INET) của thẻ Mastercard hiện nay được phối hợp trong mạng truyền thông dữ liệu toàn cầu được biết đến như BankNet. Tên đầy đủ là Interbank Network for Electronic Transfer (Mạng liên ngân hàng chuyển khoản điện tử).
Industrial Development Bond / Trái Phiếu Phát Triển Công Nghiệp
Trái phiếu đô thị được phát hành bởi chính quyền địa phương hoặc chính quyền tiểu bang, hoặc bởi một cơ quan phát triển, để cung cấp tài chính cho các dự án công nghiệp cá nhân tạo ra doanh thu chịu thuế, và một số dự án công trình công cộng. Những trái phiếu này có hai loại: trái phiếu phát triển cung cấp tài chính để nâng cấp hoặc cải thiện các công ty tiện ích công cộng, và trái phiếu thu nhập công nghiệp mà một công ty tư nhân chịu trách nhiệm thanh toán cho chủ trái phiếu. Những trái phiếu công nghiệp chịu các quy định điều tiết đặc biệt của IRS liên quan miễn thuế tiền lãi. Miễn thuế trên nhiều loại trái phiếu này, khác với các trái phiếu cung cấp tài chính cho ngành hàng không, các nhà máy xử lý nước và một số dự án liên quan đến công trình công cộng khác, bị bãi bỏ bởi Đạo luật Cải cách Thuế 1986. Xếp hạng trái phiếu thu nhập dựa trên xếp hạng tín dụng của công ty tư nhân bảo lãnh cho hợp đồng thuê và hợp đồng thuê mua những phương tiện, bởi vì nguồn thanh toán lại sau cùng là công ty, không phải bên phát hành trái phiếu. Xem PRIVATE PURPOSE BOND; PUBLIC PURPOSE BOND.
Mortgage Revenue Bond / Trái Phiếu Thu Nhập Cầm Cố
Trái phiếu miễn thuế được phát hành bởi chính quyền địa phương và những cơ quan cung cấp tài chính nhà ở tiểu bang, để tài trợ cho việc bán hoặc sửa nhà ở gia đình. Những trái phiếu này phải trả từ khoản phát sinh từ khoản thanh toán lại vốn gốc và tiền lãi, trên các khoản vay được cầm cố được tài trợ từ tiền thu được từ bán trái phiếu. Kể từ năm 1980, việc phát hành và cơ cấu những trái phiếu này được kiểm soát bởi luật liên bang. Những trái phiếu này được chào bán dưới giá thị trường đối với những người vay có đủ điều kiện về thu nhập. Còn được gọi là mortgage subsidy bond
Mortgage Reit / Ủy Thác Đầu Tư Bất Động Sản Cầm Cố
Ủy thác đầu tư bất động sản cung cấp vốn cho thị trường nhà ở dân cư bằng cách cho vay vốn để phát triển bất động sản. Ủy thác đầu tư bất động sản cầm cố vay từ ngân hàng và các đầu tư định chế, và cho vay lại đối với những đơn vị đầu tư phát triển với lãi suất cao hơn, và thường tham gia vốn góp vào thu nhập dòng tiền từ những dự án mà họ tài trợ.






