Mortgage Pool / Tổ Hợp Cầm Cố
Một nhóm các khoản vay cầm cố nhà ở được phân loại dựa vào ngày đáo hạn gốc và loại cầm cố (ví dụ: lãi suất có thể điều chỉnh, lãi suất cố định truyền thống) để bán cho nhà đầu tư trong thị trường cầm cố thứ cấp.
Mortgage Insurance / Bảo Hiểm Cầm Cố
Hợp đồng bảo hiểm bên cho vay cầm cố chống lại rủi ro không chi trả. Bảo hiểm cầm cố cho phép bên vay mua nhà với khoản trả trước bằng 3 đến 5% giá mua- thậm chí thấp hơn đối với người vay có đủ điều kiện- thay vì khoản trả trước 20% mà các bên cho vay thường yêu cầu. Cơ quan Nhà ở Liên bang, một cơ quan thuộc Bộ Nhà ở và Đô thị, bảo hiểm các khoản cầm cố cho căn nhà và căn hộ từ một đến bốn gia đình, và sẽ hoàn trả khoản cầm cố cho bên cho vay cầm cố nếu xảy ra không chi trả. Bảo hiểm cầm cố được mua từ hãng bảo hiểm thương mại, như bảo hiểm vay cầm cố tư nhân.
Security Agreement / Bản Thỏa Thuận Bảo Đảm
Chứng từ cho phép người cho vay có quyền lợi đảm bảo về các tài sản hay bất động sản được bảo đảm như tài sản thế chấp. Bản thỏa thuận này được ký bởi người vay, mô tả tài sản thế chấp và vị trí với đủ chi tiết để người cho vay có thể xác định nó, và chuyển cho người vay quyền bán hoặc phát mãi tài sản thế chấp đã chuyển nhượng, nếu người vay không thể chi tra nợ. Bản thỏa thuận bảo đảm có thể gồm các giao kèo về khoản vay điều tiết việc tạm ứng tiền, và lịch thanh toán vốn gốc và lãi hay yêu cầu với người vay bảo hiểm toàn bộ đối với tài sản thế chấp. Bản thỏa thuận bảo đảm có thể bao gồm quyền giữ thế chấp phi sở hữu các tài sản vô hình như các khoản phải thu, hay quyền giữ thế chấp có sở hữu, trong đó người cho vay giữ tài sản thế chấp, ví dụ, chứng chỉ cổ phần, cho đến khi khoản vay được trả đầy đủ. Trong một số khoản vay, bản thỏa thuận bảo đảm cũng là báo cáo tài trợ được lập với văn phòng công chứng, nếu có chữ ký của cả bên vay và bên cho vay.
Mortgage Cash Flow Obligation / Nghĩa Vụ Nợ Có Dòng Tiền Từ Tài Sản Cầm Cố
Securities Subsidiary / Công Ty Chi Nhánh Chứng Khoán
Công ty được kiểm soát bởi Công ty Ngân hàng Mẹ hay Công ty Tài chính Mẹ bảo lãnh thương phiếu thương mại, các trái phiếu Chính phủ và các trái phiếu công ty để phân phối cho các nhà đầu tư. Những công ty này, được biết đến như những công ty theo điều khoản 20 (được đặt theo Đạo luật GLASS-STEAGAL liên quan đến việc bảo lãnh chứng khoán) xuất hiện năm 1987 khi Ủy ban Dự trữ Liên bang cho phép các công ty chứng khoán do Ngân hàng sử hữu bảo lãnh phát hành và giao dịch số lượng giới hạn các thương phiếu và trái phiếu doanh thu đô thị. Năm 1990, FED cho phép các công ty giao dịch các cổ phiếu và trái phiếu công ty. Việc bảo lãnh phát hành các chứng khoán công ty của ngân hàng bị giới hạn lần đâu ở mức 5% doanh thu ngân hàng. Mức trần này cuối cùng được nâng lên 25% tổng doanh thu năm 1996. Đạo luật GRAMM – LEACH – BLILEY năm 1999 bỏ các giới hạn về số lượng này đối với việc bảo lãnh phát hành của công ty, miễn là các công ty ngân hàng liên quan thỏa mãn các yêu cầu về vốn điều lệ của ngân hàng. Đạo luật hiện đại hóa cũng quy định giới hạn trên của các khoản đầu tư của công ty ngân hàng mẹ vào công ty chi nhánh chứng khoán, là 45% tài sản hợp nhất hay 50 tỉ đô la, chọn con số nhỏ hơn. Năm 1999, có 51 công ty chứng khoán do ngân hàng sở hữu hoạt động tại Hoa Kỳ.
Securities Loan / Khoản Vay Thế Chấp Chứng Khoán
Khoản vay ngân hàng được thế chấp bằng các chứng khoán khả mại. Những khoản vay như thế được điều tiết bởi Quy định T của dự trữ Liên bang, nếu được thực hiện bởi các thương nhân - môi giới, bởi Quy định U nếu vay bởi các ngân hàng, và Quy định G nếu được thực hiện bởi các tổ chức khác. Những quy định này thiết lập các giới hạn bảo chứng trên tín dụng có thể được mở rộng đối với các loại chứng khoán khác nhau. Khoản vay ngân hàng dành cho người môi giới, được biết đến như khoản vay của nhà môi giới hay khoản vay theo yêu cầu của nhà môi giới.
Securities Investor Protection Corporation (SIPC) / Công Ty Bảo Vệ Nhà Đầu Tư Chứng Khoán
Công ty thành viên được Chính phủ tài trợ, phi lợi nhuận, được cấp phép năm 1970 nhằm bảo vệ khách hàng của các thương nhân - môi giới có bảo hiểm lên tới $500,000 mỗi tài khoản. SIPC không có quyền giám sát và không hỗ trợ các công ty thua lỗ. Công ty, được cấp vốn bởi sự thẩm định của thành viên và thu nhập trên danh mục đầu tư, cũng có một hạn mức tín dụng với Kho bạc Mỹ. Năm trong số bảy Ủy viên Thống đốc được chỉ định bởi Tổng thống; hai thành viên còn lại được chỉ định bởi Ủy ban Thống đốc của hệ thống Dự trữ Liên bang và thư ký kho bạc. Ngoài sự bảo hiểm của SIPC, nhiều thương nhân-môi giới cũng được bảo vệ chống thua lỗ thông qua bảo hiểm tư nhân.
After Acquired Clause / Điều Khoản Đảm Bảo Bổ Sung
1. Điều khoản trong khế ước cầm cố nêu rõ bất kì tài sản nào người vay cầm cố mua sau khi khoản cầm cố được ký, sẽ được đưa vào như tài sản cầm cố trong trường hợp đồng cầm cố. Những điều khoản như thế bảo vệ bổ sung người cho vay, và cũng có thể giúp người đi vay được tài trợ với lãi suất tốt hơn, dù chúng hạn chế khả năng của người vay cầm cố tăng vốn bằng các khoản vay mới. 2. Khi cho vay căn cứ trên tài sản, quyền giữ tài sản cầm cố mở rộng sự bảo đảm của người cho vay tới mọi khoản tồn kho hay các khoản phải thu bổ sung thu được của người vay. Đôi khi được gọi là quyền giữ tài sản cầm cố thả nổi, điều này giúp người cho vay có sự bảo vệ đầy đủ chống thua lỗ khi tài sản cầm cố khoản vay thường xuyên thay đổi.
Securities And Exchange Act Of 1934 / Đạo Luật Chứng Khoán Và Hối Đoái Năm 1934
Đạo luật được Quốc hội thông qua, thiết lập Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái, một cơ quan độc lập, để buộc thực thi các luật về chứng khoán Liên bang. Đạo luật mở rộng việc đăng ký và các quy định về công khai trong Đạo luật về Chứng khoán năm 1993, cho tất cả các công ty có chứng khoán được niêm yết bán trên thị trường chứng khoán quốc gia, cũng như các công ty khác có tài sản hơn 1 triệu USD và hơn 500 cổ đông. Những công ty này phải lập hồ sơ đăng ký với thị trường chứng khoán và Ủy ban Chứng khóa và Hối đoái. Đạo luật cũng yêu cầu về công khai mời chào. Trong đó, một tổ chức nỗ lực có thêm cổ phần của các cổ đông khác. Đạo luật cũng miễn trừ các Ngân hàng được cấp phép tiểu bang và ngân hàng Quốc gia không phải đăng ký như thương nhân- môi giới với Ủy ban Hối đoái và Chứng khoán (Đạo luật GLASS_STEAGALL), giới hạn các ngân hàng chỉ bảo lãnh các chứng khoán đạt tiêu chuẩn ngân hàng, chủ yếu là các trái phiếu Chính phủ, làm cho các quy định tiếp theo trở nên không cần thiết. Đạo luật GRAMM_LEACH_BILLEY năm 1999 cho phép các ngân hàng giao dịch trong phạm vi rộng rãi các chứng khoán thông qua các chi nhánh, đã tu chỉnh mục này của Đạo luật Chứng khoán và Hối đoái và đưa các hoạt động của Thương nhân- Môi giới của các công ty Ngân hàng vào sự giám sát của Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái.
African Development Bank / Ngân Hàng Phát Triển Châu Phi
Định chế tài chính khu vực được thành lập theo thỏa thuận giữa các quốc gia châu Phi độc lập năm 1964. Thành viên lúc ban đầu giới hạn trong các quốc gia châu Phi, sau đó, mở rộng vào năm 1981 cho các quốc gia ngoài khu vực. Ngân hàng cung cấp các khoản vay phát triển lâu dài, trước tiên là cho các dự án nông nghiệp và cải thiện đầu tư xây dựng cơ bản.
Transit Item / Mục Đang Chuyển
Chi phiếu hoặc hối phiếu được phát hành bởi một định chế tài chính khác với ngân hàng nơi nó được ký gửi. Những chi phiếu và hối phiếu này khác với chi phiếu được ký gửi bởi chính khách hàng của ngân hàng (công cụ nội bộ -on-us-items) và được gửi đến ngân hàng thanh toán bằng xuất trình trực tiếp (gửi trực tiếp), thông qua hãng thanh toán bù trừ địa phương. Những chi phiếu được rút tại những ngân hàng khác thường được phân loại và trình ra để thu tiền, trước khi những chi phiếu được rút bởi chính các khách hàng của ngân hàng được kết chuyển vào các tài khoản. Còn được gọi là trên các mục khác (on others terms)
Credit Balance / Số Dư Có
Tài khoản với khoản thanh toán vượt quá số dư khoản nợ gốc, như khi khách hàng trả đứt một khoản vay bằng khoản thanh toán bổ sung bằng. Trong bao thanh toán, đó là khoản nợ đối với khách hàng khi các khoản phải thu được mua bới tổ chức bao thanh toán.
Số Dư Có (Credit Balance) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Số Dư Có (Credit Balance) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Affinty Card / Thẻ Tín Dụng Kiên Kết
Thẻ tín dụng được xúc tiến theo thỏa thuận tài trợ của một tổ chức với một ngân hàng phát hành thẻ. Trong việc trao đổi nhằm thiết lập danh sách thành viên, công ty tài trợ được phần bù đắp từ ngân hàng phát hành, thường là một phần từ thu nhập lãi thuần của công ty phát hành. Công ty phát hành có thể bãi bỏ lệ phí hàng năm cho những người sở hữu thẻ tín dụng liên kết, hay thậm chí cung cấp thẻ có lãi suất thấp hơn các thẻ ngân hàng thông thường. Xem CO-BRANDED CARD.
Transit Department / Phòng Trung Chuyển
Phòng trong ngân hàng nơi các chi phiếu và hối phiếu được phát hành bởi các ngân hàng ngoài khu vực được phân loại, ghép nhóm, và gửi đến (xuất trình) cho ngân hàng thanh toán để thanh toán. Chi phiếu của những ngân hàng ở xa thường được thanh toán theo thủ tục, và khoản ký gửi được nắm giữ tạm thời cho tới khi nhận được tiền (subject to collection) từ bên phát hành. Các ngân hàng gửi các chi phiếu này, gọi là mục đang chuyển, đến ngân hàng Dự trữ Liên bang hoặc Trung tâm Xử lý chi phiếu khu vực của Dự trữ Liên bang, hoặc đến ngân hàng phát hành chi phiếu để thu tiền. Xem ABA TRANSIT NUMBER; CASH LETTER; CHECK ROUTING SYMBOL; DEFERRED AVAIL ABILITY; DIRECT SEND; PROOF OF DEPOSIT; REGULATION CC.
Mortgage-Backed Certificate / Chứng Chỉ Bảo Đảm Bởi Cầm Cố
Chứng chỉ được đảm bảo bởi tổ hợp các khoản vay cầm cố. Chứng chỉ cầm cố, còn được biết đến như chứng chỉ trung gian, chuyển tiền lãi tương ứng vào các khoản vay cầm cố. Chứng chỉ cầm cố được phát hành bởi (Fannie Mae), Freddie Mac và những định chế tài chính, hoặc những khoản vay cầm cố tư nhân, các phát hành các chứng chỉ cầm cố dưới tên họ. Chứng chỉ thế chấp thường được cầm cố như đảm bảo cho trái phiếu nợ đảm bảo bởi cầm cố (CMO). Xem PARTICIPATION CERTIFICATE.
Affidavit / Tờ Khai Có Cam Kết
Từ La tinh có nghĩa là "cam kết trung thực", lời thề có sự chứng nghiệm của công chứng viên hay một công chức khác. Các cơ quan Liên bang, như Ủy ban Nhà nước ở Liên bang, hoặc Bộ Cựu chiến binh đôi khi yêu cầu tờ khai có cam kết từ người vay để chứng tỏ đủ tư cách vay có thế chấp. Các tổ chức ký thác có thể yêu cầu tờ khai có cam kết trước khi phân phối tài sản ủy thác cho người thụ hưởng. Xem ATTEST.
Advice / Thông Báo
Xác nhận bằng văn bản đã nhận thanh toán, tiền đã chuyển, dịch vụ đã được thực hiện, hay khoản thanh toán đã thực hiện. Thí dụ trong thanh toán ngân hàng bao gồm thông báo tín dụng, thể hiện thông báo nợ, rút hay chuyển tiền, và phí dịch vụ tài khoản.
Securities Act Of 1993 / Đạo Luật Chứng Khoán Năm 1993
Đạo luật được Quốc hội thông qua yêu cầu đăng ký các chứng khoán dự định bán cho công chúng trong thương mại liên tiểu bang hay thông qua thư. Công ty phát hành phải công khai các thông tin tài chính liên quan và các thông tin khác, như giá chào bán và số cổ phần được chào bán trong Báo cáo Đăng ký được trình cho Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái (Bản công khai chào bán gọi là Bản Quảng bá).
Transfer Of Mortgage / Chuyển Cầm Cố
Nhượng cầm cố bởi bên vay (người cầm cố) hoặc bên cho vay (người nhận cầm cố). Người nhận tài sản có thể xem như phụ thuộc cầm cố, nghĩa là, trên tình hình bên vay ban đầu nắm giữ cầm cố hiện hữu, thay thế nó bằng cầm cố khác, hoặc có thể đảm nhận cầm cố đó cùng với lãi suất và kỳ hạn. Trong trường hợp này chủ sở hữu mới chịu trách nhiệm hoàn trả khoản nợ đó. Xem ASSUMABLE MARTGAGE.
Adversely Classified Assets / Tài Sản Bị Xếp Loại Bất Lợi
Tiền vay và các tài sản khác có tính rủi ro, theo quan điểm của các kiểm tra viên ngân hàng. Những tài sản như thế không thỏa mãn các tiêu chuẩn tín dụng có thể chấp nhận, và các tổng số theo từng loại của các khoản tiền vay, được báo cáo riêng rẽ trong các báo cáo theo yêu cầu của ngân hàng. Các kiểm tra viên ngân hàng quốc gia và tiểu bang đã áp dụng những nguyên tắc thống nhất (hệ thống xếp loại rủi ro của các Kiểm tra viên Ngân hàng Quốc gia) liệt kê các khoản vay khó đòi mức độ từ tệ nhất đến ít nghiêm trọng nhất; lỗ, hay xóa sổ hoàn toàn; nợ khó đòi, mà việc tái thanh toán đầu đủ có vấn đề; dưới tiêu chuẩn khi chắc có lỗ trừ phi có những hành động điều chỉnh; và lưu ý đặc biệt, cho thấy những vấn đề tiềm ẩn như thiếu chứng từ hoặc thế chấp không đủ. Các cơ quan giám sát yêu cầu những người cho vay ghi giảm những khoản nợ được phân loại là khó đòi xuống còn 50% giá gốc, và các khoản vay được xếp loại lỗ 100% khi tính vốn ròng (vốn đã điều chỉnh cộng các khoản dự phòng lỗ các khoản vay) dành cho vay mới. Xem NONACCURAL ASSET, NONPERFORMING LOAN.






