Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Days Sales Outstanding - DSO / Thời Gian Thu Hồi Tiền Hàng Tồn Đọng

Đây là một chỉ số được tính bằng số ngày trung bình mà một công ty cần để thu hồi lại tiền bán hàng sau khi đã bán được hàng. Nếu như DSO ở mức thấp thì có nghĩa là công ty chỉ cần ít ngày để thu hồi được tiền khách còn nợ. Nếu tỉ lệ này cao thì có nghĩa là công ty chủ yếu là bán chịu cho khách hàng, thời gian nợ dài hơn. DSO được tính dựa trên công thức: (Số nợ có khả năng thu hồi / Tổng tiền bán chịu )x số ngày cho chịu DSO có thể được sử dụng để xác định xem liệu công ty có đang che giấu khả năng bán hàng đáng buồn của mình hay là không thu hồi được tiền về một cách hiệu quả. Đối với phần lớn các doanh nghiệp thì DSO có thể thường xuyên được tính toán theo quý hoặc theo năm. Tuy nhiên thực tế tỉ lệ DSO là một thước đo về hiệu suất thu tiề hơn là thước đo hiệu quả của bản thân quá trình thu hồi nợ. Chỉ số này cho ta một cái nhìn thấu đáo về những thay đổi diễn ra trong việc cân đối tài chính của doanh nghiệp. Nó cho biết liệu sự thay đổi về mặt tài chính là do những biến động tiêu cực hoặc tích cực trong doanh số gây ra hay là do các nhân tố kinh doanh khác như chiết khấu bán hàng, do mùa kinh doanh, thời gian kinh doanh tác động. DSO có thể có chênh lệch rất lớn giữa các thời điểm trong năm. Tốt nhất là nên sử dụng chỉ số này như thước đo hiệu suất của quá trình thu hồi nợ, đo lường độ dài chu kì kinh doanh của doanh nghiệp. Thông thường nếu DSO thấp hơn 15 ngày thì có nghĩa là khả năng thu hồi nợ của công ty là khá tốt.  Vì tiền là nhân tố rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên sẽ là có lợi nhất cho công ty nếu thu hồi lại các khoản nợ còn đang tồn đọng càng nhanh càng tốt. Bằng cách nhanh chóng "chuyển hàng thành tiền" công ty sẽ có cơ hội để tái sử dụng khoản tiền của mình, thường là vào các mục đích đầu tư và tái sản xuất hàng hoá.

Market Neutral Funds / Các Quỹ Điều Hòa Theo Thị Trường

Một số quỹ tương hỗ ra đời sau này thường theo đuổi các chiến lược đầu tư gây nhiều tranh cãi: đầu tư điều hoà theo thị trường, còn được gọi là beta zero hay đầu tư với long/short portfolio (một kỹ thuật vận hành quỹ). Các quỹ này không nhằm vào doanh lợi vượt quá xa mức trung bình thị trường mà cố gắng duy trì thu nhập trung bình hàng năm cao hơn một vài điểm nào đó so với trái phiếu trung hạn Kho bạc Mỹ có thời hạn 3 tháng, bất chấp thị trường tăng hoặc giảm. Có nghĩa là điều này sẽ mang lại cho bạn một thước đo sự ổn định lợi suất của portfolio. Các quỹ này sử dụng hệ thống máy tính để lượng hoá các đánh giá và xếp hạng các khoản đầu tư khả thi, phân tích các yếu tố như: P/E, lợi suất, sự dao động bất ổn định và sự tăng trưởng của lợi nhuận. Sau đó, những quỹ này sẽ mua các cổ phiếu được xếp hạng cao nhất và short selling các cổ phiếu bị xếp hạng thấp nhất (xem phần Cổ phiếu). Một số quỹ điều hoà sử dụng nhiều nhaà quản lý với nỗ lực nhằm đa dạng hoá rủi ro của các quỹ này. Do khả năng đáp ứng được mục tiêu của quỹ phụ thuộc quá nhiều vào sự đánh giá chính xác biến động của thị trường trong tương lai nên đối với thu nhập nói chung của quỹ, các quyết định của những người quản lý thậm chí có thể còn quan trọng hơn là việc quỹ chỉ theo đuổi một phương pháp giao dịch thông thường nào đó.

Một số quỹ tương hỗ ra đời sau này thường theo đuổi các chiến lược đầu tư gây nhiều tranh cãi: đầu tư điều hoà theo thị trường, còn được gọi là beta zero hay đầu tư với long/short portfolio (một kỹ thuật vận hành quỹ). Các quỹ này không nhằm vào doanh lợi vượt quá xa mức trung bình thị trường mà cố gắng duy trì thu nhập trung bình hàng năm cao hơn một vài điểm nào đó so với trái phiếu trung hạn Kho bạc Mỹ có thời hạn 3 tháng, bất chấp thị trường tăng hoặc giảm. Có nghĩa là điều này sẽ mang lại cho bạn một thước đo sự ổn định lợi suất của portfolio. Các quỹ này sử dụng hệ thống máy tính để lượng hoá các đánh giá và xếp hạng các khoản đầu tư khả thi, phân tích các yếu tố như: P/E, lợi suất, sự dao động bất ổn định và sự tăng trưởng của lợi nhuận. Sau đó, những quỹ này sẽ mua các cổ phiếu được xếp hạng cao nhất và short selling các cổ phiếu bị xếp hạng thấp nhất (xem phần Cổ phiếu). Một số quỹ điều hoà sử dụng nhiều nhaà quản lý với nỗ lực nhằm đa dạng hoá rủi ro của các quỹ này. Do khả năng đáp ứng được mục tiêu của quỹ phụ thuộc quá nhiều vào sự đánh giá chính xác biến động của thị trường trong tương lai nên đối với thu nhập nói chung của quỹ, các quyết định của những người quản lý thậm chí có thể còn quan trọng hơn là việc quỹ chỉ theo đuổi một phương pháp giao dịch thông thường nào đó.

Cads: Cash Available For Debt Service / Tiền Mặt Để Trả Nợ

Là tỉ lệ giữa tài sản tiền mặt và nợ phải trả (bao gồm phần lãi phải trả cộng thêm vốn vay). Tỉ lệ này được dùng để xác định độ rủi ro cho một dự án hay một chào bán hoặc chào mua cố định. Nếu tỉ lệ giữa tiền mặt doanh nghiệp có và nợ phải trả càng cao thì khả năng trả nợ của doanh nghiệp càng lớn.

Barometer / Phong Vũ Biểu Của Nền Kinh Tế

Barometer là những chỉ số về kinh tế và thị trường, nó thể hiện và dự báo cho một xu hướng hay trào lưu nào đó trong tương lai, ví dụ như giá cả hay chứng khoán được coi là nhiệt kế của nền kinh tế. Thực chất thuật ngữ "Barometer" có nghĩa gốc là "Phong vũ biểu", một dụng cụ đo gió và áp suất không khí nhằm để dự báo thời tiết. Trong giới tài chính Barometer được sử dụng để chỉ sức mạnh của một loại cổ phiếu hay một thị trường nào đó, và chỉ số chứng khoán Dow Jones là ví dụ điển hình. Một trăm năm qua, Dow Jones (DJIA) vẫn là chỉ số lâu năm nhất trong thị trường Mỹ, bao gồm cổ phiếu của 30 công ty với sự lớn mạnh đi kèm, đó là những công ty đầy quyền lực như Proctor & Gamble, Home Depot, Coca Cola, và Microsoft... DJIA là một chỉ số biểu thị thị trường nổi tiếng nhất thế giới, một phần vì nó đã đủ chín muồi để nhiều thế hệ các nhà đầu tư trở nên quen thuộc khi định giá nó, và một phần vì thị trường cổ phiếu Mỹ là thị trường danh giá nhất trên thế giới. Tuy bao gồm tất cả những công ty lớn, nhưng nó được thiết kế để đại diện cho hầu hết bất kỳ công ty Mỹ nào. Cách tính chỉ số DJIA là theo nguyên tắc trung bình, cộng tất cả giá cổ phiếu vào và chia cho số cổ phiếu, chỉ số này được tính hàng ngày dựa trên giá của mỗi công ty. Như một chỉ số lâu đời nhất và chỉ số tác động thường xuyên nhất, khi mọi người hỏi thị trường hoạt động như thế nào, người ta sẽ thường hỏi về DJIA. DJIA có vài sản phẩm tài chính liên quan đến nó bao gồm chỉ số các quỹ và chỉ số các quỹ ngoại thương như Dow Diamond. Những công ty DJIA không thể biến mất- chúng là một vài trong số những công ty lớn nhất của Mỹ. Một nhà đầu tư đang tìm kiếm sự ít mạo hiểm, bảo tồn vốn và nhiều thu nhập từ các cổ phần sẽ là người mua lý tưởng của những sản phẩm liên kết với Dow.

Là tập hợp những chỉ số về kinh tế và thị trường, nó thể hiện và dự báo cho một xu hướng hay trào lưu nào đó trong tương lai. Ví dụ về phong vũ biểu dự báo kinh tế bao gồm chi tiêu của người tiêu dùng, bắt đầu nhà ở và lãi suất. Chỉ số Standard & Poor's 500 và chỉ số công nghiệp trung bình Dow Jones có thể được coi là phong vũ biểu thị trường chứng khoán. Một số phong vũ biểu kinh tế bao gồm bán một số loại quần áo hoặc một số loại thực phẩm. Một chỉ số kinh tế cho thấy xu hướng chi tiêu của người tiêu dùng sẽ là bán các mặt hàng như đồ trang điểm, đồ lót nam, thư rác và bán hạt giống rau và cấy ghép. Ví dụ, sự gia tăng doanh số bán hạt giống rau, trong thời kỳ suy thoái, cho thấy rằng mọi người có động lực tiết kiệm hơn nên họ sẽ có xu hướng trồng rau thay vì mua chúng.

Market Mechanism / Cơ Chế Thị Trường

Cơ chế thị trường là thuật ngữ kinh tế dùng để miêu tả sự tương tác giữa cung, cầu, và giá. Ví dụ: có hai nhà sản xuất nước ngọt có ga cạnh tranh với nhau, một nhà sản xuất nước cam, một nhà sản xuất nước chanh. Nếu ít người thích nước cam hơn, thì cầu về nước cam sẽ giảm và cầu đối với nước chanh sẽ tăng. Để ứng phó với cầu giảm, nhà sản xuất nước cam giảm giá bán xuống, để đáp lại với cầu tăng, nhà sản xuất nước chanh tăng giá lên. Bởi vì giá tăng lên nên người tiêu dùng mua ít nước chanh hơn, và mua nhiều nước cam hơn. Vì vậy cầu về hai mặt hàng này sẽ quay về mức ban đầu. Cơ chế thị trường được coi là cạnh tranh hoàn hảo và được điều tiết bởi quy luật cung cầu.

Days Sales Of Inventory - DSI / Thời Gian Thanh Lý Hàng Tồn

Đây là thước đo thể hiện khả năng về mặt tài chính của công ty. Chỉ số này cho các nhà đầu tư biết về khoảng thời gian cần thiết để công ty có thể thanh lý được hết số lượng hàng tồn kho của mình ( bao gồm cả hàng hoá còn đang trong quá trình sản xuất). Thông thường nếu chỉ số này ở mức thấp thì có nghĩa là công ty hoạt động khá tốt, tuy nhiên cũng cần phải chú ý rằng chỉ  số DSI bình quân là rất khác nhau giữa các ngành. Đôi khi chỉ số này còn được gọi là số ngày lưu thông hàng tồn kho DIO (days inventory outstanding) DSI được tính toán theo công thức sau: DSI = (Giá trị hàng tồn kho / Chi phí bán hàng) x 365 Chỉ số này là một phần của chu  trình  lưu chuyển tiền mặt_ chu trình biểu hiện quá trình chuyển toàn bộ nguyên vật liệu thô thành tiền. Thời gian thanh toán hàng tồn là bước đầu tiên trong chu trình này. Hai bước tiếp theo của chu trình là thời gian bán hàng (DSO) _đo lường khoảng thời gian công ty có thể nhận được các khoản tiền cho khách chịu, và thời gian thanh toán nợ (DPO)_đo lường thời gian công ty cần để thanh toán các khoản nợ phải trả của công ty. Chu trình lưu chuyển tiền = DSI + DSO - DPO Tuy nhiên những chỉ số này có liên quan gì đến hoạt động kinh doanh của công ty? Nếu như một công ty cung cấp các sản phẩm hàng hoá dịch vụ mà khách hàng cần, công ty đó sẽ nhanh chóng thu lại được tiền. Nhưng nếu công ty không thể hoạch định một cách chính xác sẽ cung cấp cho thị trường những gì, khi đó chu trình lưu chuyển tiền của công ty sẽ bị chậm lại. Ví dụ như nếu công ty có quá nhiều hàng tồn kho và không có khả năng bán được lượng hàng này, có nghĩa là công ty bị đọng vốn và đây rõ ràng là điều mà chẳng ai mong muốn. Để có thể giải phóng nhanh chóng lượng hàng tồn kho, công ty phải chấp nhận giảm giá hàng, thậm chí là bán lỗ. Nếu quá trình thu hồi tiền nợ của công ty diễn ra chậm, điều đó có nghĩa là công ty gặp khó khăn trong việc đòi nợ. Chừng nào khách hàng còn chưa trả nợ thì chừng đó công ty còn chịu thiệt và kế hoạch tái đầu tư còn nằm ngủ yên. Trong khi đó công ty càng trì hoãn việc trả nợ cho nhà cung cấp chừng nào thì càng có lợi chừng đó vì điều này cho phép công ty có thể tận dụng được khoản tiền cho các mục đích khác.

Caculus / Giải Tích

Một phép tính của nghành toán học liên quan đến việc tính toán các đạo hàm hay tích phân.

Cac 40 / Chỉ Số Cac 40

Chỉ số thị trường chứng khoán Pháp, căn cứ trên cổ phiếu của 40 công ty có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất của sàn giao dịch chứng khoán Paris Bourne, Pháp. CAC là viết tắt của Compagnie des Agents de Changem.Chỉ số CAC 40 được sử dụng như một chỉ số chuẩn so sánh cho các quỹ đầu tư trên thị thường chứng khoán Pháp, đồng thời là công cụ phản ánh tình hình Paris Bourne. Chỉ số CAC 40 có những nét tương đồng với chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones, nó là chỉ số được sử dụng nhiều nhất để phản ánh mức độ và xu hướng chung của thị trường Pháp. Chỉ số CAC 40 được thiết lập ngày 31 tháng 12 năm 1987 với giá trị ban đầu là 1000 điểm. Đến ngày 31 tháng 12, chỉ số này được tính theo phương pháp biến động tự do (free-float weighted index).Mặc dù chỉ số CAC 40 dựa trên các công ty Pháp, 45% cổ phiếu của chúng được sở hữu bởi các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó các nhà đầu tư Đức chiếm đến 21%. Các nhà đầu tư Nhật, Mỹ và Anh cũng đóng vai trò hết sức quan trọng. Một cách lý giải ở đây là các công ty CAC 40 có tính quốc tế hơn nhiều so với các thị trường khác ở châu Âu. Rất nhiều công ty trong số đó kinh doanh ở ngoài nước Pháp (63% lực lượng lao động các công ty CAC 40 ở ngoài nước Pháp).

Market Maker / Người Tạo Lập Thị Trường

Người tạo lập thị trường (market-maker) là thuật ngữ nhằm ám chỉ cá nhân hoặc tổ chức (công ty) đứng ra tự giao dịch một hay một số loại công cụ tài chính, hàng hóa. Cách họ giao dịch là tự mình định ra mức giá mua vào và bán ra của những loại tài sản, hàng hóa trong danh mục kinh doanh của họ. Mức chênh lệch giá mua giá bán và những biến động giá là phương tiện chủ yếu để market-maker tìm kiếm lợi nhuận. Các thị trường chứng khoán là nơi market-maker hoạt động nhộn nhịp, ngay cả khi các hệ thống giao dịch hoàn toàn được điện tử hóa. Lấy ví dụ cụ thể ở các TTCK của Mỹ, đặc biệt là NASDAQ, thị trường sử dụng một số market-maker chính thức và cạnh tranh với nhau cho một loại chứng khoán nào đó. Những nhà tạo lập thị trường này được yêu cầu phải bảo đảm giao dịch hai chiều, cả mua và bán, trong giờ giao dịch. Do họ có nghĩa vụ phải mua và bán chứng khoán ở mức giá họ tự định cho các giao dịch hai chiều, nên chứng khoán có tính thanh khoản. Điều này giúp đảm bảo chức năng quan trọng nhất của TTCK là duy trì tính thanh khoản của tài sản tài chính, đặc biệt là các thị trường Order-Driven và Matched Bargain. Một trong những lợi thế của market-maker là được thực hiện giao dịch Naked Short, là loại giao dịch bán khống tài sản tài chính ngay cả khi họ chưa vay được tài sản đó để phục vụ giao dịch. Nhà tạo lập thị trường thường ít khi hoạt động trên các thị trường giao dịch dạng Quote-Driven.

Barlow Report / Báo Cáo Barlow

Những kết quả phân tích của một uỷ ban hoàng gia Anh về sự phân bố địa lý của ngành công nghiệp Anh và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của chính sách khu vực hậu công nghiệp Chiến tranh ở Anh.

Market Intelligence (MI) / Thông Minh Thị Trường

Là một quá trình có hệ thống nhằm thu thập, phân tích, cung cấp và sử dụng thông tin với mục đích đưa ra các quyết định kinh doanh chính xác và hợp lí về cơ hội, chiến lược thâm nhập thị trường, và các kế hoạch phát triển thị trường mới. Trên phương diện một tổ chức, Market Intelligence có thể là tên của phòng chuyên nghiên cứu Market Intelligence và phân tích đối thủ cạnh tranh. Thông minh cạnh tranh (Competitive Intelligence) mô tả phạm vi rộng hơn của việc nghiên cứu, phân tích và hệ thống hoá thông tin-dữ liệu về toàn bộ môi trường của tổ chức. Trong khi đó thông minh kinh doanh (Business Intelligence) có vai trò xác định/đo lường thị phần của doanh nghiệp và đưa ra các mục tiêu phát triển.

Cable / Chuyển Bằng Cáp

1. Hối phiếu ngân hàng quốc tế được chuyển bằng cable giữa các ngân hàng trung gian, ngược với việc thanh toán thông qua đường thư tín.  2. Cách ghi tắt của thương nhân đối với tỷ giá hối đoái dollar Mỹ - bảng Anh.

Bargaining Unit / Đơn Vị Thương Lượng; Đơn Vị Mặc Cả

Một đơn vị đại diện cho quyền lợi của người lao động trong thương lượng về quản lý lao động ở Mỹ. Các đơn vị này có thể là rất nhỏ, là các nhân viên được tuyển trong một hãng đơn lẻ hay rất lớn, tất cả những người được tuyển dụng trong một ngành trên khắp đất nước. Các đơn vị thương lượng khác nhau về quy mô và cơ cấu.

Market Imperfection / Sự Không Hoàn Hảo Của Thị Trường

Là bất kỳ sự sai lệch nào khỏi các điều kiện cần thiết để có được cạnh tranh hoàn hảo.

Sự Không Hoàn Hảo Của Thị Trường (Market Imperfection) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Sự Không Hoàn Hảo Của Thị Trường (Market Imperfection) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Market If Touched Order - MIT / Lệnh Đến Mức

Market if touched order có nghĩa là: lệnh đến mức. Lệnh mua hay bán chứng khoán hay hàng hoá ngay khi đạt đến giá thị trường đã định trước, tới điểm này nó trở thành lệnh thị. Ví dụ, khi bắp đang bán giá $4,75/bashel một người nào đó có thể tham gia thị trường nếu MIT để mua là $4,50. Ngay khi giá giảm còn $4,50 hợp đồng sẽ được mua với danh nghĩa khách hàng theo bất cứ giá thị trường nào đang hiện hành khi lệnh được thực hiện.

Day Trading / Giao Dịch Nội Nhật

Giao dịch nội nhật chỉ việc mua bán các công cụ tài chính nội trong một ngày giao dịch, tất cả các thương vụ sẽ được kết thúc trước khi thị trường chứng khoán đóng cửa phiên giao dịch ngày hôm đó. Những người giao dịch chứng khoán tham gia vào thị trường giao dịch nội nhật được gọi là người giao dịch nội nhật - "day trader". Các công cụ tài chính thường được sử dụng trong giao dịch nội nhật là cổ phiếu, quyền chọn cổ phiếu, tiền tệ và các hợp đồng tương lai. Trước đây, giao dịch nội nhật từng được coi là sân chơi riêng của các công ty tài chính và các nhà đầu tư, đầu cơ chuyên nghiệp. Người giao dịch nội nhật thường là nhân viên của các ngân hàng hay các hãng đầu tư, hoạt động như các chuyên gia trong đầu tư chứng khoán và quản lý quĩ. Tuy nhiên, ngày nay, giao dịch nội nhật ngày càng trở nên phổ biến đối với những người kinh doanh chứng khoán phổ thông nhờ vào tiến bộ công nghệ, những thay đổi về luật pháp và sự phổ biến của Internet. Dù được gọi chung là giao dịch nội nhật, nhưng có nhiều kiểu giao dịch nội nhật khác nhau được đề cập tới trong khái niệm này. Một người giao dịch nội nhật không nhất thiết phải tiến hành các hoạt động mua bán rất tích cực. Tùy thuộc vào chiến lược giao dịch mà số lượng giao dịch trong một ngày có thể thay đổi từ vài đến vài trăm. Một số người tập trung vào những giao dịch ngắn, hoặc cực ngắn, trong đó mỗi thương vụ có thể chỉ kéo dài vài giây cho đến vài phút. Họ mua và bán chứng khoán rất nhiều lần trong ngày, với một khối lượng giao dịch ngày khổng lồ và do đó thường được các nhà môi giới chứng khoán cho hưởng mức phí hoa hồng rất ưu đãi. Một số người giao dịch khác lại chỉ tập trung vào các xu hướng lớn. Họ kiên nhẫn hơn và chờ đợi một biến động giá lớn có thể xảy ra trong ngày hôm đó. Họ tiến hành ít giao dịch hơn so với những người giao dịch nói trên. Người giao dịch nội nhật thường sử dụng tiền vay qua đêm để kinh doanh. Ví dụ: một công ty kinh doanh chứng khoán có thể vay tiền từ một ngân hàng của Singapore khi ngân hàng này đóng cửa để tiến hành các giao dịch nội nhật ở Mỹ do sự chênh lệch múi giờ. Hết ngày giao dịch ở Mỹ, công ty này kết thúc các thương vụ, thu lại tiền và thanh toán cho ngân hàng Singapore cũng là lúc ngân hàng này sắp mở cửa ngày hôm sau. Lợi nhuận và rủi ro: Do bản chất của giao dịch nội nhật là lợi dụng vốn và thu lời nhanh, hoạt động này có thể sinh lời rất cao, đem lại tỉ suất lợi nhuận rất tốt cho người giao dịch nội nhật. Một số người giao dịch nội nhật có thể kiếm được hàng triệu USD mỗi năm chỉ từ hoạt động này. Vì khả năng có thể kiếm lời cao như vậy mà những người này đôi khi được những nhà đầu tư khác coi là những "kẻ cướp" hay những "con bạc". Đi kèm với khả năng sinh lời đó thì giao dịch nội nhật cũng có tính rủi ro rất cao, đặc biệt khi mà người giao dịch thiếu tính kỉ luật và quản lý tiền, quản lý rủi ro không tốt. Sự phổ biến của việc sử dụng tiền đi vay để kinh doanh chứng khoán khiến cho sô lãi và lỗ có thể bị nhân lên gấp bội, đồng nghĩa với rủi ro cũng nhân lên như thế. Khi có dấu hiệu cổ phiếu sụt giá người giao dịch phải nhanh chóng bán cổ phiếu đó ra để tránh thua lỗ nặng, số lỗ, đôi khi vượt cả tổng tài sản của anh ta. Ngoài ra, ngay cả khi người giao dịch thu được lợi nhuận từ những giao dịch này đi chăng nữa, thì số lợi nhuận đó chưa chắc đã đủ bù đắp các chi phí giao dịch và lãi vay. Theo thống kê thì 80-90% những người giao dịch nội nhật bị lỗ sau khi trừ chi phí.

Bargaining Theory Of Wages / Lý Thuyết Thương Lượng Về Tiền Công; Lý Thuyết Mặc Cả Về Tiền Công

Tiền công được cố định trong một quá trình thương lượng tập thể, một sự dàn xếp về mặt cơ chế so với quá trình điều chỉnh cung cầu chính thống. Lý thuyết thương lượng về tiền công chỉ những mô hình của quá trình thương lượng áp dụng cho mối quan hệ của sự quản lý của công đoàn vượt ra ngoài mô hình ĐỘC QUYỀN SONG PHƯƠNG, trong đó kết quả cuối cùng của thương lượng vẫn còn mơ hồ, để rút ra một giải pháp rõ ràng.Xem STRIKES, WAGE THEORY.

Market Forces / Các Tác Nhân Thị Trường

Là những tác nhân phát sinh từ quan hệ tự do giữa cung và cầu của thị tường dẫn đến việc phải điều chỉnh giá bán và/hoặc số lượng được giao dịch.

Market Failures / Thất Bại Của Thị Trường

Các thất bại của thị trường là thuật ngữ quen thuộc trong kinh tế học, thường được sử dụng để lý giải vai trò và sự cần thiết của Chính phủ  trong nền kinh tế. Thuật ngữ này bắt nguồn từ thời kỳ các cuộc Đại khủng hoảng (những năm 1930) và đầu những năm 1960. Các nhà kinh tế và chính khách đã nhận thấy một nền kinh tế thị trường tự do, thậm chí là nền kinh tế tự do giầu bậc nhất như Hoa Kỳ, vẫn rơi vào những tình huống không đáp ứng nổi một số nhu cầu cơ bản của xã hội. Ví dụ như những chu kỳ thất nghiệp kéo dài.  Trong thời kỳ Đại khủng hoảng, tỷ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ lên đến 25% và sản lượng quốc gia sụt giảm khoảng 30% vào năm 1929. Cuộc suy thoái khiến nhiều vấn đề vốn đã tồn tại từ lâu trở nên trầm trọng hơn. Nhiều người mất hết số tiền tích cóp nhiều năm khi hệ thống ngân hàng sụp đổ và thị trường chứng khoán tan rã. Nhiều người lớn tuổi không còn nguồn sinh sống. Nhiều chủ nông trại nhận thấy số tiền họ thu được từ bán nông sản ít ỏi tới mức họ không thể thanh toán nổi các khoản cầm cố và phá sản trở nên hiển nhiên. Để chống lại suy thoái, Chính phủ liên bang Hoa Kỳ khong chỉ đóng vai trò tích cực trong ổn định hoạt động kinh tế mà còn thông qua luật pháp để giải quyết nhiều vấn đề xã hội như: bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tiền gửi, các chương trình trợ giá nông sản và hàng loạt chương trình hướng tới các mục tiêu an sinh xã hội khác. Sau Thế chiến thứ hai, nền kinh tế thế giới đã phục hồi và dần trở lại phồn thịnh. Song, cũng cần thấy rõ rằng không phải tất cả mọi người đều được hưởng sự thịnh vượng và sung túc đó. Nhiều người, do điều kiện sinh ra, trưởng thành và phát triển, đã phải chịu cảnh nghèo đói, không được học hành đầy đủ, không có cơ hội tiếp cận việc làm tốt. Đây là lý do để nhiều chương trình "chống đói nghèo" ra đời. Mục tiêu chung của nhiều chương trình "chống đói nghèo" là đảm bảo "một tấm lưới an toàn" (safety-net) cho những người cần thiết như: cung cấp lương thực thực phẩm và chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, chương trình đào tạo lại mang lại nhiều hơn cơ hội phát triển kinh tế cho những người ở hoàn cảnh kém thuận lợi... Những hoạt động của Chính phủ có giảm nhẹ được các thất bại của thị trường? Sự thành công của các chương trình do Chính phủ thực hiện cần được đánh giá thế nào? Vẫn tiếp tục còn nhiều trao đổi quanh vấn đề này. Nhưng người ủng hộ sự nỗ lực tiếp tục của Chính phủ cho rằng những người phê bình đã phóng đại những điểm chưa tốt trong các chương trình của Chính phủ. Bài học cần thiết không phải là "Chính phủ nên từ bỏ nỗ lực của mình để giải quyết những vấn đề xã hội và kinh tế mà quốc gia đang gặp phải," mà là "cần phải thận trọng hơn trong việc xây dựng và hiệu quả hơn trong việc triển khai các chương trình của Chính phủ."

Ca / Đất Nước Canada

CA là kí hiệu mã nước Canada theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 3166. Theo tiêu chuẩn này thì mã các nước đều bao gồm 2 chữ cái. Canada là đất nước lớn thứ 2 trên thế giới với diện tích gần 10 triệu km2 và dân số khoảng 32 triệu người, bằng 1/9 lần dân số của nước láng giềng Hoa Kỳ.Ngôn ngữ chính thức của Canada là tiếng Anh và tiếng Pháp. Đa số người nói tiếng Pháp sống ở Québec. Vào thế kỷ thứ 15 một đoàn thám hiểm Châu Âu đã theo chân Christopher Columbus đi thám hiểm Châu Mỹ. Một vài nhà thám hiểm trong số đó là người Anh và người Pháp đã tìm ra một số vùng đất mới thuộc Canada và tuyên bố các vùng đất này thuộc Anh hoặc thuộc Pháp. Từ đây số dân nhập cư là người Anh và người Pháp đổ dồn sang Canada để làm ăn sinh sống và buôn bán vì vậy tiếng Anh và tiếng Pháp trở thành ngôn ngữ phổ biến ở Canada. Dân Canada bản xứ là các tộc du mục từ khu vực Ấn Độ, Tây Tạng, Trung Quốc. Những người này đến Châu Mỹ từ 10 000 đến 12 000 năm TCN để săn bắt, chạy chốn kẻ thù hoặc tìm nơi ở mới. Họ đã tình cờ vượt eo biển Bering để đến Alaska ( nay là 1 bang của Hoa Kỳ) và từ đó toả đi khắp khu vực Châu Mỹ. Canada là một nước có nền kinh tế phát triển nằm trong khối G7 với thu nhập bình quân đầu người là 34 273 đôla (PPP-cân bằng sức mua)(theo nguồn IMF 2005). Canada cũng là một trong những nước có chỉ số phát triển con người HDI thuộc loại cao trên thế giới-đứng thứ 5 (số liệu năm 2003). Tiền của Canada là đôla Canada (CAD). Theo tỷ giá hối đoái ngày 19/1/2007:               Mua vào                Bán ra1CAD = 0,8527 USD       0,8530 USD    (theo Yahoo Finance) Canada có khí hậu giá rét ở phía Bắc và ôn hòa về phía Nam, nhiệt độ dao động rất mạnh mẽ. Vào mùa hè khí hậu của Canada có thể lên đến 350C, tuy nhiên có thể xuống thấp đến -150C vào mùa đông. Mùa xuân: Tháng 3 – 6. Mùa hè: Tháng 6 – 9 . Mùa thu: Tháng 9 – 11. Mùa đông: Tháng 11-3 Thủ đô của Canada là Ottawa và thành phố lớn nhất là Toronto.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55