Market Failure / Thất Bại Thị Trường
Đây là một thuật ngữ để chỉ một tình huống trong đó lượng cầu của người tiêu dùng về hàng hoá không cân bằng với lượng cung trên thị trường. Đây là hậu quả trực tiếp của việc thiếu một số nhân tố kinh tế lý tưởng khiến cho nền kinh tế không thể đạt được trạng thái cân bằng. Thất bại thị trường có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế vì khi đó các nguồn lực sẽ không được phân bổ một cách tối ưu. Nói cách khác là không thể giảm thiểu được các chi phí xã hội của hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ ( gồm cả các chi phí cơ hội của các đầu vào đã được sử dụng để sản xuất) và một số nguồn lực đã bị lãng phí. Ví dụ xét qui luật về mức lương tối thiểu. Quy luật về mức lương tối thiểu (minimum wage) thường đưa ra các mức lương cao hơn mức cân bằng trên thị trường nhằm làm tăng mức lương thị trường và khuyến khích nhân viên làm việc năng suất hơn, do đó thị trường lao động sẽ đạt được điểm cân bằng mới. Các nhà phê bình thường cho rằng chính chi phí lao động cao hơn sẽ khiến cho các công ty có xu hướng thuê ít nhân công có mức lương tối thiểu hơn. Do đó sẽ có nhiều công nhân có mức lương tối thiểu bị mất việc làm, làm gia tăng chi phí cho xã hội và dẫn tới thất bại thị trường.
C Bond / Trái Phiếu C
Thuộc loại trái phiếu tiết kiệm. Trái phiếu C được chính phủ phát hành và bán năm 1937-1938
Day Cycle / Chu Kỳ Ban Ngày
Day Cycle: Chu kỳ ban ngày.Thuật ngữ này dùng để chỉ chu kỳ tiến hành ban ngày để chuyển bên nợ hay bên có của trung tâm giao hoán thanh toán tự động giữa các hiệp hội giao hoán trong vùng, thường từ 8 giờ sáng đến 1 giờ trưa.
Dax / Chỉ Số Dax
DAX 30 (viết tắt của Deutsche Aktien Xchange 30, tiền thân của Deutscher Aktien-Index 30) là một chỉ số thị trường chứng khoán cho các cổ phiếu blue chip bao gồm 30 công ty lớn nhất của Đức giao dịch trên sàn GDCK Frankfurt, căn cứ theo khối lượng giao dịch và giá trị vốn hóa thị trường. Giá được tính theo giá trên hệ thống giao dịch điện tử Xetra. L-DAX (Late-DAX)là một chỉ số phản ánh biến động của chỉ số thị trường DAX 30, được sử dụng trên sàn GDCK Frankfurt (Frankfurt Stock Exchange- FSE) sau khi hệ thống giao dịch điện tử Xetra ngừng hoạt động. Chỉ số L-DAX căn cứ chủ yếu vào giao dịch tại sàn FSE. Nếu chỉ số DAX được tính toán từ 9:00 đến 17:30 thì chỉ số L-DAX được tính từ 17:30 đến 20:00. Eurex- thị trường giao dịch các hợp đồng tương lai và quyền chọn đặt tại Zurich, Thụy Sĩ với chi nhánh tại Frankfurt, Đức, đưa ra chỉ số DAX cho hợp đồng quyền chọn (ODAX) và hợp đồng tương lai (FDAX) từ 8:00 đến 22:00. Bên cạnh chỉ số DAX 30, còn có chỉ số DAX 100 bao gồm 100 cổ phiếu. Tháng 6 năm 2007, danh sách DAX 30 bao gồm cổ phiếu các công ty sau: AdidasAG Allianz BASF BayerAG BMW Commerzbank Continental AG Daimler AG Deutsche Bank Deutsche Börse Deutsche Lufthansa Deutsche Post Deutsche Postbank Deutsche Telekom E.ON Fresenius Medical Care Henkel Hypo Real Estate Infineon Technologies Linde AG MAN Merck METRO Munich Re (Münchener Rück) RWE SAP Siemens AG ThyssenKrupp TUI Volkswagen
Market Economy / Kinh Tế Thị Trường
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế lấy khu vực kinh tế tư nhân làm chủ đạo. Những quyết định kinh tế được thực hiện một cách phi tập trung bởi các cá nhân người tiêu dùng và công ty. Việc định giá hàng hóa và phân bổ các nguồn lực của nền kinh tế được cơ bản tiến hành theo qui luật cung cầu. Trái với kinh tế thị trường là cơ chế kế hoạch hóa tập trung, lấy khu vực kinh tế Nhà nước làm chủ đạo và chịu sự điều tiết bởi bàn tay hữu hình của Nhà nước. Ưu điểm của kinh tế thị trường là bốn vãn đề sản xuất cái gì, ai sản xuất, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai được giải quyết rất hiệu quả. Trong nền kinh tế thị trường, nếu lượng cầu hàng hóa cao hơn lượng cung, thì giá cả hàng hóa sẽ tăng lên, mức lợi nhuận cũng tăng khuyến khích người sản xuất tăng lượng cung. Người sản xuất nào có cơ chế sản xuất hiệu quả hơn, thì cũng có tỉ suất lợi nhuận cao hơn cho phép tăng qui mô sản xuất, và do đó các nguồn lực sản xuất sẽ chảy về phía những người sản xuất hiệu quả. Những người sản xuất kém hiệu quả sẽ có tỷ suất lợi nhuận thấp, khả năng mua nguồn lực hạn chế, sức cạnh tranh kém sẽ bị đào thải. Cái ưu việt nhất của kinh tế thị trường là đã tạo ra một môi trường tự do cạnh tranh, đó là động lực để phát triển xã hội và năng lực cá nhân. Nhưng nhược điểm của kinh tế thị trường thể hiện ở những thất bại thị trường. Cơ chế phân bổ tài nguyên của nó có thể dẫn tới bất bình đẳng, bên cạnh đó là vấn đề thông tin không hoàn hảo có thể dẫn tới phân bổ tài nguyên không hoàn toàn hiệu quả. Quy luật cung cầu trên thị trường sẽ đẩy tới tình trạng không kịp điều chỉnh cung cầu, và gây ra tình trạng thất nghiệp lạm phát. Trong thực tế hiện nay không có một nền kinh tế thị trường hoàn hảo cũng như không có một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung hoàn toàn (trừ nền kinh tế Bắc Triều Tiên). Thay vào đó là nền kinh tế hỗn hợp, có thể giúp phát huy ưu điểm và khắc phục một số nhược điểm của kinh tế thị trường, tùy mỗi nước mà các yếu tố thị trường nhiều hay ít. Hiện nay đã có nhiều nước đưa ra các tiêu chí để xác định nền kinh tế một quốc gia là thị trường hay chưa. Ta có thể xem xét 6 tiêu chí Mỹ đánh giá Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế thị trường hay phi thị trường trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế: - Khả năng chuyển đổi của đồng tiền: tất nhiên về khía cạnh đầu tiên này Việt nam chưa thể đạt được, đồng tiền Việt Nam chưa hoàn toàn tự do chuyển đổi trên thị trường vốn - Tự do thảo thuận mức lương - Đầu tư nước ngoài - Sở hữu hoặc quản lý của Nhà nước đối với các ngành sản xuất: quá trình tư nhân hóa ở Việt Nam diễn ra chậm chạp và Nhà nước vẫn duy trì sự hiện diện đáng kể trong nền kinh tế. - Quản lý của nhà nước đối với sự phân bổ các nguồn lực: luôn thiếu vắng quyền sở hữu đất tư, cải cách trong ngân hàng mang quy mô hạn chế. - Các yếu tố thích hợp khác Nên có thể kết luận trong thời điểm hiện tại, quanh năm 2000, Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi và chưa phải nền kinh tế thị trường.
Dawn Raid / Đột Kích
Là việc một công ty hoặc một nhà đầu tư tiến hành mua lại một lượng lớn cổ phiếu của một công ty( gọi là công ty mục tiêu) ngay khi thị trường chứng khoán vừa mới mở cửa. Việc này được tiến hành thông qua các trung gian hoặc công ty môi giới để mọi người không biết ai là người mua thực sự. Vì công ty hay nhà đầu tư này mua một lượng cổ phiếu lớn của công ty mục tiêu tại mức giá thị trường nên chi phí phải bỏ ra để thôn tính công ty mục tiêu có thể thấp hơn rất nhiều so với cái giá mà công ty hay nhà đầu tư đó phải bỏ ra nếu thực hiện việc sáp nhập một cách chính thức. Giống như các cuộc đột kích trong chiến tranh, cuộc đột kích của các công ty thường được thực hiện vào lúc sáng sớm vì vào thời gian này các công ty mục tiêu khó có thể nhận ra họ đang bị tấn công. Và đến khi họ nhận ra điều đó thì đã quá muộn vì nhà đầu tư hoặc các công ty thôn tính đã nắm giữ trong tay số cổ phần áp đảo. Tuy nhiên cũng chỉ có tối đa là 15% số cổ phần của công ty được mua bán theo hình thức này. Vì thế sau khi đã thực hiện thành công cuộc đột kích thì công ty thực hiện hoạt động này chắc chắn sẽ tiến hành tiếp quản công ty và mua toàn bộ số cổ phiếu còn lại để thôn tính hoàn toàn công ty mục tiêu.
Market Disruption / Trục Trặc Thị Trường
Trục trặc thị trường là tình huống trong đó thị trường không còn hoạt động như bình thường nữa, thường thể hiện bằng tốc độ suy thoái nhanh chóng. Trục trặc thị trường có thể là hậu quả do thị trường chứng khoán mang lại hoặc các hoạt động thương mại bất thường. Trong cả hai trường hợp, trục trặc thị trường gây ra tâm lý hoang mang và dẫn đến tình trạng hỗn loạn trên thị trường. Sau cuộc suy thoái năm 1987, người ta đã áp dụng các hệ thống quản lý nhằm giảm thiểu các rủi ro do trục trặc thị trường mang lại, ví dụ như đưa ra các tiêu chuẩn giới hạn giá cả. Hệ thống này được thiết kế để hạn chế hoạt động thương mại trong thời kì suy thoái nghiêm trọng, tránh gây tâm lý hoang mang trên thị trường.
Market Demand Curve For Labour / Đường Cầu Của Thị Trường Đối Với Lao Động
Với một mức giá bán sản phẩm không đổi, đường cầu của thị trường hay của một nghành sản xuất chính là sự tổng hợp theo chiều ngang các đường DOANH THU SẢN PHẨM BIÊN của các doanh nghiệp tham gia.
Bargaining Tariff / Thuế Quan Mặc Cả; Thuế Quan Thương Lượng
Thuế được áp đặt bởi một nước để củng cố vị trí của nó trong đàm phán thương mại với các nước khác, khi các nước này sử dụng lời hứa chiết khấu thuế để đạt được sự nhượng bộ trong thương mại.
Market Demand Curve / Đường Cầu Của Thị Trường
Đường cầu thị trường là tổng hợp của một loạt các đường cầu riêng rẽ đối với một loại hàng hóa. Như vậy, nếu ở mức giá Px cá nhân 1 mua 10 hàng hóa X, cá nhân 2 mua 15 đơn vị hàng hóa, cá nhân 3 mua 4 đơn vị, thì đường cầu biểu thị bằng 10 + 15 + 4 = 29 đơn vị sẽ được mua với giá Px. Hình thức tổng hợp này hạn chế ở chỗ nó chỉ áp dụng được đối với hàng hóa của cá nhân và các cá nhân này độc lập, không có một sự phụ thuộc nào. Hình thức này không áp dụng cho hàng hóa công cộng, bởi việc cung cấp một lượng hàng hóa công cộng nhất định cho một cá nhân này thì cũng sẽ phải cung cấp hàng hóa đó cho những cá nhân khác.
Dating / Gia Hạn
Gia hạn trong quan hệ tài chính là việc một nhà cung cấp tín dụng cho phép con nợ kéo dài thời hạn thanh toán khoản tín dụng đó. Thời gian gia hạn đó là khoảng thời hạn kéo dài mà nhà cung cấp dành cho khách hàng. Thí dụ, một khách hàng mua hàng hóa chịu với thời hạn thanh thanh toán là 30 ngày, nhưng được người bán cho phép chịu trong 60 ngày nữa, như vậy lúc đó thời hạn tín dụng sẽ là 90 ngày. Lí do để xin gia hạn rất đa dạng và tất nhiên là xuất phát từ phía con nợ. Lí do phổ biến nhất là đến thời hạn thanh toán khoản tín dụng nhưng người đi vay không có khả năng trả nợ. Chủ nợ lúc đó hoàn toàn có quyền thanh lí tài sản của con nợ hoặc tiến hành khiếu kiện; nhưng trong một số trường hợp để giữ mối quan hệ lâu dài hoặc chủ nợ không cần thu hồi khoản nợ ấy ngay lập tức thì họ sẽ gia hạn tín dụng. Lí do thứ hai có thể gặp, trong các ngành có tính thời vụ cao, khi bước vào thời vụ sản xuất, con nợ đã có đủ khả năng thanh toán tín dụng nhưng họ đang cần vốn và nếu không kịp tích vốn thì thời vụ sản xuất sẽ qua đi; chính vì vậy nhà cấp tín dụng sẽ gia hạn cho nhà sản xuất, giúp cho nhà sản xuất có vốn yếu có thể tiếp tục sản xuất. Và tất nhiên khi nhà sản xuất đã có đủ vốn chớp được cơ hội kinh doanh và thu được lợi nhuận cao thì nhà cấp tín dụng cũng được hưởng nhiều lợi ích mà thấy rõ nhất là một khoản lãi suất cao. Việc gia hạn lãi suất thường kéo theo một số thay đổi trong hợp đồng tín dụng. Khi thời hạn thanh toán được cho phép kéo dài thì cũng đồng nghĩa với việc con nợ phải chấp nhận một số điều khoản nặng nề hơn trước, ví dụ như lãi suất cao hơn, hoặc phải có sự đảm bảo về khoản tín dụng đang vay khắt khe hơn...Đó cũng là điều dễ hiểu, bởi lẽ tại thời điểm khoản tín dụng đó đáo hạn nếu lãi suất cho vay trên thị trường cao hơn lãi suất trong hợp đồng cũ thì rõ ràng nhà cấp tín dụng bị thiệt. Nếu họ thu hồi được khoản nợ này thì họ hoàn toàn có thể cho người khác vay lại với lãi suất hiện hành và thu được lợi tức cao hơn. Chính vì vậy khi gia hạn họ cần phải điều chỉnh lãi suất là hoàn toàn hợp lí. Nói đến việc gia hạn tín dụng chúng ta có thể nhắc đến một khái niệm rất thú vị, đó là "nghệ thuật xin gia hạn". Hầu như việc xin gia hạn là rất khó để thành công bởi không hề dễ dàng để thuyết phục chủ nợ tin tưởng thêm một lần nữa và kéo dài thời hạn thanh toán. Tuy nhiên trong lịch sử quan hệ tín dụng đã có nhiều câu chuyện kể về những "vụ xin gia hạn thành công" của những nhân vật nổi tiếng, thậm chí là những nguyên thủ của một quốc gia. Năm 1982, Mexico trở thành một con nợ đang lâm vào tình cảnh khó khăn tài chính do họ vay tiền nước ngoài để tăng tiêu dùng trong nước cho dân chúng.Tổng thống Mexico đã bay sang New York, quy tụ hơn 20 ngân hàng lớn đã cho đất nước của ông vay tiền và tuyên bố như sau: “Thưa các quý vị, chúng tôi đã bị khánh tận. Và quý vị có biết câu ngạn ngữ này không: nếu một người vay của bạn 1.000 đô-la thì đó là vấn đề của anh ta. Nhưng nếu một người vay bạn 10 triệu đô-la, thì đó là vấn nạn của bạn. Vâng, chúng tôi chính là vấn nạn của quý vị. Chúng tôi không thể thanh toán cho quý vị được. Vậy xin quý vị làm ơn đàm phán lại, thay đổi hạn định thanh toán và tiếp tục cấp thêm tín dụng cho chúng tôi”. Và chủ các ngân hàng không còn cách gì hơn là gật đầu chấp nhận, bàn lại một vài phương thức gia hạn tín dụng (thông thường với mức lãi suất cao hơn).
Market Definition / Khái Niệm Chung Về Thị Trường
Thị trường là một sự sắp xếp của xã hội, cho phép người mua và người bán tìm hiểu, khai thác thông tin và tiến hành những hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ một cách tự nguyện. Thị trường là một trong hai tổ chức cốt lõi tiến hành tổ chức hoạt động thương mại, cùng với quyền sở hữu tài sản. Với nghĩa thông thường, Thị trường là nơi gặp nhau giữa người bán và người mua, nơi hàng hoá được giao dịch, trao đổi. Thị trường còn được gọi là cái chợ hoặc phố chợ. Với sự phát triển của kinh tế - xã hội - khoa học kĩ thuật như ngày nay, thuật ngữ thị trường đã được chia nhỏ thành nhiều nghĩa.
Dated Securities / Chứng Khoán Ghi Ngày Hoàn Trả
Các chứng khoán đựoc ghi thành chứng khoán hoàn trả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn tuỳ thuộc vào thời gian đáo hạn
Market Classification / Phân Loại Thị Trường
Có rất nhiều cách khác nhau để phân loại thị trường.
Dated Date / Ngày Ghi Sổ
Dated Date có nghĩa là: Ngày ghi sổ.Ngày đã ghi sổ hay ngày bắt đầu tính lãi là ngày tháng theo đó lãi tích luỹ được tính trên trái phiếu mới hay các phương thức nợ khác. Người mua trả cho nhà phát hành một số tương đương với lãi suất tích luỹ kể từ ngày đã ghi sổ đến ngày thanh toán trái phiếu. Tiền chi trả lãi suất đầu tiên của trái phiếu được làm lại cho người mua.
Date Of Record / Ngày Báo Sổ
Date Of Record có nghĩa là: Ngày báo sổ.Ngày báo sổ là ngày tháng mà cổ đông muốn được hưởng cổ tức phải sở hữu chính thức cổ phiếu.Thí dụ, Hội đồng quản trị công ty tuyên bố có cổ tức và ngày 1/11 và trả ngày1/12 đối với cổ đông được báo sổ ngày 15/11. Sau ngày báo sổ, chứng khoán không có cổ tức (Ex-dividend).
Market Capitalization, Market Cap / Giá Trị Vốn Hóa Thị Trường
Giá trị vốn hoá thị trường là thước đo qui mô của một công ty, là tổng giá trị thị trường của một công ty, được xác định bằng số tiền bỏ ra để mua lại toàn bộ công ty này trong điều kiện hiện tại. Giá trị vốn hoá thị trường tương đương với giá thị trường của cổ phiếu nhân với số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành. Khi tính giá trị vốn hoá thị trường người ta chỉ tính đến các cổ phiếu phổ thông chứ không tính đến cổ phiếu ưu đãi, vì chỉ cổ phiếu phổ thông mới đem lại cho người sở hữu quyền tham gia điều hành công ty. Không nên nhầm lẫn giữa giá trị vốn hoá thị trường với tổng giá trị cổ phần của công ty (equity value), vì trong tổng giá trị cổ phần còn bao gồm cả các quyền mua cổ phiếu chưa thực hiện và trái phiếu, cổ phiếu chuyển đổi nữa. Qui mô và tốc độ tăng của giá trị vốn hoá thị trường là thước đo vô cùng quan trọng để đánh giá thành công hay thất bại của một công ty niêm yết công khai. Tuy vậy giá trị vốn hoá thị trường còn có thể tăng giảm do một số nguyên nhân ko liên quan gì đến kết quả hoạt động, ví dụ như việc mua lại một công ty khác, bán bớt một số bộ phận của tập đoàn, hay mua lại chính cổ phiếu của mình trên thị trường chứng khoán. Giá trị vốn hoá thị trường phản ánh giá cổ phiếu của một công ty, trong khi giá này có thể thay đổi theo kì vọng của các nhà đầu tư, vì vậy chỉ số này không phản ánh hoàn toàn chính xác giá trị thực sự của công ty đó. Tổng giá trị vốn hoá thị trường của tất cả các công ty niêm yết trên NYSE vào tháng 1/2007 là khoảng (15,400 tỷ USD), lớn hơn cả GDP của nước Mỹ năm 2006(12,980 tỷ USD). Còn nếu tính tổng giá trị vốn hoá thị trường của tất cả các sàn giao dịch chứng khoán trên thế giới thì con số này là 43,600 tỷ USD vào 4/2006. Số lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường của một công ty thường nhỏ hơn tổng số cổ phiếu mà nó phát hành, bởi một phần không nhỏ số cổ phiếu này nằm trong tay các thành viên nội bộ của công ty(insider), một phần khác thì được công ty mua lại trở thành cổ phiếu quĩ (treasury stock). Thêm vào đó, một phần không nhỏ số lượng cổ phiếu lưu hành ít ỏi này lại do các tổ chức đầu tư nắm giữ lâu dài và ít khi đem ra giao dịch. Kết quả là chỉ có một tỉ lệ nhỏ cổ phiếu thực sự được đem ra mua bán trong ngày, ví dụ: vào một ngày giao dịch chỉ có khoảng 1.6% lượng cổ phiếu của Yahoo (20triệu cổ phiếu / 1,200 triệu cổ phiếu) được đem ra mua bán. Việc một lượng lớn hoặc toàn bộ cổ phiếu của một công ty đột nhiên xuất hiện trên thị trường, khi công ty và các thành viên nội bộ bán cổ phiếu của mình ra, có thể làm giá cổ phiếu đó tụt dốc ngay lập tức. Chưa có một chuẩn mực nào cho việc phân loại công ty theo giá trị vốn hoá thị trường nhưng theo Investopedia, ở mức độ tương đối có thể phân ra thành 6 nhóm sau: Mega Cap : trên 200 tỷ USDBig/Large Cap : 10 đến 200 tỷ USDMid Cap : 2 đến 10 tỷ USDSmall Cap : 300 triệu đến 2 tỷ USDMicro Cap : 50 triệu đến 300 triệu USDNano Cap : dưới 50 triệu USD Blue chip thường được hiểu tương đương với các công ty có qui mô từ Big/Large Cap trở lên, trong khi đó các nhà đầu tư luôn coi cổ phiếu của các công ty micro-cap và nano-cap làpenny stock, bất kể giá cổ phiếu của nó thế nào.
Data Encryption Standard (Des) / Tiêu Chuẩn Mã Hoá Dữ Kiện
Data Encryption Standard (DES) có nghĩa là: Tiêu chuẩn mã hoá dữ kiện.Tiêu chuẩn mã hoá dữ kiện là tiêu chuẩn được ngành tài chính thừa nhận nhằm bảo vệ các thông tin giao dịch mua bán bảo mật (sensitive transaction information) bao gồm: số cân đối tài khoản, mã số chứng minh ngân hàng (còn gọi là khoá số của nhà phát hành) và mã số mở tài khoản của người sử dụng (consumer account access codes). DES là tiêu chuẩn chung do Nation Institute of Standards and Technology phát hành và cũng được biết dưới tên DEA (Data Encryption Algorithm) và được ngành tài chính chấp nhận.
Barbell Strategy / Chiến Lược Barbell
Chiến lược đầu tư vào trái phiếu trong đó thời gian đáo hạn của những chứng khoán trong danh mục đầu tư được tập trung ở 2 cực. Một chiến lược Barbell đặc trưng bao gồm việc chọn lựa trái phiếu với thời gian đáo hạn ngắn và rất dài hạn. Cấu trúc kỳ hạn của mộtdanh mục đầu tư có thể kéo dài hoặc thu ngắn tùy theo lượng chứng khoán ở cả 2 cực của phạm vi đáo hạn.Sử dụng chiến lược này yêu cầu sự chú ý liên tục từ người quản lý danh mục đầu tư. Những trái phiếu có thời gian đáo hạn ngắn cần được chuyển sang chứng khoán ngắn hạn mới ngay khi đáo hạn. Khi trái phiếu dài hạn ở giữa thời gian đáo hạn, chúng cần được chuyển sang những chứng khoán dài hạn mới. Một điểm bất lợi của chiến lược barbell chính là chi phí giao dịch. Thêm vào đó, những trái phiếu dài hạn thường nhạy cảm hơn với những thay đổi lãi suất. Vì thế, cực gồm những trái phiếu dài hạn của danh mục đầu tư thường không ổn định hơn cực gồm những trái phiếu ngắn hạn. Chiến lược này được tạo ra trên cơ sở kết hợp chiến lược chuyển đáo hạn về phía trước với chiến lược chuyển đáo hạn về phía sau. Theo đó, ngân hàng đặt phần lớn nguồn quỹ của họ vào danh mục gồm các chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao ở một cực, tại cực còn lại là danh mục gồm những trái phiếu dài hạn, ở khoảng giữa của hai cực, không có hoặc có rất ít chứng khoán nắm giữ. Danh mục ngắn hạn cung cấp nguồn thanh khoản cho ngân hàng, trong khi đó danh mục dài hạn được thiết kế để đem lại nguồn thu nhập cho ngân hàng.
Market Capitalization / Giá Trị Vốn Hóa Thị Trường
Giá trị vốn hoá thị trường hay còn được viết tắt bằng tiếng Anh là market cap, là thước đo quy mô của một doanh nghiệp, thường tính bằng cách lấy giá hiện tại của cổ phiếu nhân với lượng cổ phiếu đang lưu thông. Xét trong một chừng mực nào đó thì chỉ số này có sự khác biệt so với vốn cổ phần vì một doanh nghiệp có thể có các quyền chọn cổ phiếu đang lưu hành (outstanding stock options) hoặc có các chứng khoán có khả năng chuyển đổi. Quy mô và tốc độ phát triển của giá trị vốn hoá thị trường của một doanh nghiệp luôn được xem là một trong những chỉ tiêu chủ yếu và quan trọng nhất đo lường sự thành công hay thất bại của một công ty cổ phần. Tuy nhiên, mức vốn hoá thị trường có thể tăng hoặc giảm vì các nguyên nhân không liên quan tới hiệu quả hoạt động của công ty như hoạt động sáp nhập hay mua bán lại cổ phần. Giá trị vốn hoá thị trường chính bằng lượng cổ phiếu thường nhân với giá trị hiện tại của số cổ phiếu đó. Thuật ngữ này đôi khi được thay thế bằng thuật ngữ "mức vốn hoá" (capitalization), tuy nhiên thường thì mức vốn hoá thể hiện tổng lượng vốn được sử dụng để duy trì cân đối tài chính của doanh nghiệp, được tính bằng cách lấy giá trị vốn hoá thị trường cộng với các khoản nợ (tính trên sổ sách hoặc theo giá thị trường) cộng với giá trị cổ phiếu chuyển đổi. Theo thống kê thì tổng giá trị vốn hoá thị trường của tất cả các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán New york lớn hơn so với lượng tiền hiện có ở Mỹ. Giá trị vốn hoá thị trường toàn cầu (gồm tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới đạt khoảng 43.6 nghìn tỉ USD vào thời điểm tháng 3 năm 2006). Hiện tại chưa có một định nghĩa rõ ràng về phân loại mức vốn hoá thị trường. Tại Mỹ, các công ty và cổ phiếu thường được phân loại theo giá trị vốn hoá thị trường như sau: Công ty vốn hoá nhỏ: giá trị vốn hoá nhỏ hơn 1 tỉ USD (có khoảng 2800 công ty, không gồm công ty có mức vốn hoá quá nhỏ không đáp ứng yêu cầu niêm yết trên NYSE) Công ty vốn hoá trung: giá trị vốn hoá từ 1 tỉ $ đến 5 tỉ $ (có khoảng 1350 công ty) Công ty vốn hoá lớn: giá trị vốn hoá từ 5 tỉ $ trở lên (có khoảng 835 công ty) Định nghĩa về công ty có mức vốn hoá nhỏ thì thường gây nhiều tranh cãi hơn hai loại còn lại. Thông thường thì thang giá trị vốn hoá được liệt kê như sau: Loại vốn hoá rất nhỏ (Micro-cap): giá trị vốn hoá dưới 100 triệu $ Loại vốn hoá siêu nhỏ (Nano-cap): giá trị vốn hoá dưới 50 triệu $ Các công ty Blue chip thường là công ty có giá trị vốn hoá thị trường lớn. Một số nhà đầu tư thường coi cổ phiếu do các công ty micro-cap hoặc nano-cap phát hành là penny stock, bất kể giá cổ phiếu là thế nào.






