Banking Panic / Cơn Hoảng Loạn Ngân Hàng
Một tình huống trong đó có sự mất tự tin của một hay nhiều ngân hàng gây nên sự "đổ xô" bất ngờ và lan rộng của công chúng tới các ngân hàng nói chung để rút tiền gửi hoặc vào những lúc khi phát hành lệnh phiếu tư nhân là phổ biến để yêu cầu thanh toán các hối phiếu này bằng phương tiện khác.
Marginal User Cost / Chi Phí Sử Dụng Cận Biên
Trong kinh tế học tài nguyên, đó là lợi ích ròng (việc định giá một đơn vị tài nguyên, tức là giá của nó trừ đi chi phí khai thác) mà thế hệ tương lai không có được do thế hệ hiện tại đã sử dụng một đơn vị tài nguyên hữu hạn.
Marginal Revenue Product / Sản Phẩm Doanh Thu Cận Biên
Là sản phẩm vật chất biên nhân với doanh thu biên từ việc bán thêm một đơn vị sản phẩm nhờ việc sử dụng thêm một đơn vị đầu vào.
Banking And Currency Schools / Hai Nhóm Các Nhà Kinh Tế Của Anh
British Banking School và British Currency School là hai nhóm các nhà kinh tế, có quan điểm đối lập về những vấn đề ngân hàng và tiền tệ.
Banker's Acceptance / Chấp Nhận Của Ngân Hàng
Đây là một thuật ngữ chỉ việc: tờ Séc hoặc Thương phiếu được một ngân hàng bảo đảm, thưòng được dùng trong việc cấp vốn cho nhà xuất nhập khẩu. Khi ngân hàng chấp nhận một thương phiếu thì uy tín của người phát hành cũng được nâng cao, nên các thương phiếu được ngân hàng chấp nhận thường là những chứng thư nợ có chất lượng cao có thể bán lại dễ dàng cho các nhà đầu tư. Tất nhiên với nghiệp vụ chấp nhận này ngân hàng sẽ được hưởng một khoản thù lao. Người nắm giữ những chứng thư này (thường là người xuất khẩu nắm giữ tờ Séc hoặc Hối phiếu kí phát cho người nhập khẩu) sẽ đến Ngân hàng yêu cầu "được chấp nhận" lên tờ Séc hay Thương phiếu ấy. Khi ngân hàng chứng thực lên đó tức là nó đã cam kết và thừa nhận trách nhiệm thanh toán cuối cùng của mình cho bất kì người nào cầm giữ chứng thư được chấp nhận đó, nhưng thông thường sự đảm bảo này có giá trị trong vòng 6 tháng. Sau đó chứng thư này, do có sự bảo đảm của ngân hàng nên dễ lưu thông mua bán trên thị trường thứ cấp hơn và thường được bán theo một tỉ lệ chiết khấu nhất định trên mệnh giá của nó. "Chấp nhận của ngân hàng" được sử dụng rất phổ biến ở Mỹ, và được xem như một tài sản rất an toàn, bởi vì nó thay thế được tín dụng ngân hàng và có tính linh động cao vì có thể mua đi bán lại dễ dàng trên thị trường. Bên cạnh đó nó được sử dụng rộng rãi trong giao dịch quốc tế khi mà các đối tác chưa thực sự tin tưởng vào uy tín của nhau.
Marginal Revenue / Doanh Thu Cận Biên
Là mức thay đổi trong tổng doanh thu phát sinh từ việc bán thêm một đơn vị sản lượng. Nếu khách hàng mua 100 đơn vị sản phẩm khi giá là 10 đôla, thì tổng doanh thu sẽ là 100.10 = 1000 đôla. Dễ thấy diện tích hình chữ nhật nằm dưới đường cầu chính là tổng doanh thu, được tính bằng chiều dài nhân chiều rộng (chiều đứng biểu thị giá, chiều nằm ngang biểu thị lượng). Từ đường cầu chúng ta có tổng doanh thu, và từ tổng doanh thu chúng ta có thêm một khái niệm mới, doanh thu cận biên. Doanh thu cận biên = (Thay đổi trong tổng doanh thu) : (thay đổi trong lượng bán) Theo đồ thị, khách hàng sẽ không mua trên 100 đơn vị sản phẩm nếu giá là 10 đôla. Để bán được nhiều hàng hơn, giá phải giảm. Giả sử, để bán được 101 đơn vị sản phẩm, giá phải giảm xuống còn 9,95 đôla. Vậy thì doanh thu cận biên của đơn vị thứ 101 là gì? Hay nói theo cách khác, tổng doanh thu sẽ tăng lên bao nhiêu khi sản phẩm thứ 101 được bán? Nhiều người có xu hướng trả lời câu hỏi với đáp án là 9,95 đôa. Nhưng câu trả lời này chưa đúng, tổng doanh thu khi 100 đơn vị được bán là 1000 đôla/ Khi sản phẩm thứ 101 được bán, tổng doanh thu là 101 x 9,95 = 1004,95 đôla. Như vậy doanh thu cận biên của sản phẩm thứ 101 chỉ là 4,95 đôla. Để hiểu tại sao doanh thu cận biên lại nhỏ hơn giá, chúng ta cần hiểu rằng đường cầu là một đường đi xuống. Để bán thêm được người bán phải giảm giá trên tất cả đơn vị sản phẩm. Họ nhận thêm được 9,95 đôla khi bán sản phẩm thứ 101, nhưng họ lại mất 0,05 đôla đối với 100 sản phẩm bán trước đó. Vì vậy số tiền thu được tăng thêm là (9,95 - 5) = 4,95 đôla
Marginal Rate Of Transformation / Tỷ Lệ Chuyển Đổi Cận Biên
Là giá trị biểu hiện bằng số của độ dốc của đường GIỚI HẠN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT.
Bank Run / Rút Tiền Hàng Loạt
Việc rút tiền mặt bất ngờ hàng loạt, do việc giảm nhanh niềm tin của người gửi tiền, hay do lo sợ ngân hàng sẽ bị đóng của bởi cơ quan thẩm quyền. Ngày nay, việc rút tiền âm thầm phổ biến hơn việc rút tiền hàng loạt trong quá khứ, khi đó khách hàng xếp hàng trước quầy giao dịch viên và yêu cầu rút tiền tiết kiệm của họ. Ngày nay, những người gửi tiền đơn giản chỉ chuyển tiền nhạy với lãi suất- được gọi là gửi tiền nóng (hot money) tới các định chế khác. Cũng được gọi là rút tiền tháo chạy khỏi ngân hàng (run on a bank).
Marginal Rate Of Substitution (MRS) / Tỷ Lệ Thay Thế Cận Biên
Trong học thuyết về cầu của người tiêu dùng, tỷ lệ thay thế biên đề cập đến số lượng của một loại hàng hoá, để bù đắp cho người tiêu dùng đối với việc từ bỏ số lượng một loại hàng hoá khác sao cho vẫn có được mức phúc lợi (thoả dụng) như trước.
Marginal Propensity To Withdraw / Thiên Hướng Rút Tiền Cận Biên
Là mức thay đổi những khoản rút tiền do thay đổi một đơn vị thu nhập.
Marginal Propensity To Tax / Thiên Hướng Đánh Thuế Cận Biên
Là mức thay đổi trong thu nhập về thuế do thay đổi một đơn vị thu nhập.
Marginal Propensity To Save (MPS) / Thiên Hướng Tiết Kiệm Cận Biên
Là mức thay đổi tiết kiệm do thay đổi một đơn vị thu nhập.
Marginal Propensity To Import / Thiên Hướng Nhập Khẩu Cận Biên
Là mức thay đổi nhập khẩu do thay đổi một đơn vị thu nhập.
Marginal Propensity To Consume / Xu Hướng Tiêu Dùng Biên
Marginal propensity to consume có nghĩa là: Xu hướng tiêu dùng biênĐây là mức thay đổi trong tiêu dùng do tăng thêm một đơn vị thu nhập. Có thể biểu thị khái niệm này như sau:MPC = ∆C/∆YTrong đó: C là mức tiêu dùng Y là thu nhập ∆ là phần thay đổi
Marginal Propesity To Consume (MPC) / Thiên Hướng Tiêu Dùng Cận Biên
Là mức thay đổi trong tiêu dùng do tăng thêm một đơn vị thu nhập.
Marginal Productivity Doctrine / Học Thuyết Về Năng Suất Cận Biên
Học thuyết này cho rằng một chủ sử dụng lao động mong muốn tối đa hoá lợi nhuận của mình sẽ chịu sự chi phối của quy luật về năng suất biên giảm dần, theo đó các đơn vị lao động lần lượt được sử dụng sẽ tạo ra các đơn vị SẢN LƯỢNG giảm dần tương ứng.
Marginal Product / Sản Phẩm Cận Biên
Là sản lượng tăng thêm do sử dụng thêm một đơn vị đầu vào.
Bank Reserves Requirement / Yêu Cầu Dự Trữ Ngân Hàng
Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng mà các ngân hàng thương mại phải giữ bằng tiền mặt để bảo đảm số tiền gửi, theo quy định của chính phủ. Tăng yêu cầu dự trữ sẽ làm giảm lượng tiền gửi mà một ngân hàng có thể cho vay hoặc đầu tư; còn giảm yêu cầu dự trữ có tác động ngược lại.
Bank Rate / Tỉ Lệ Chiết Khấu Chính Thức Của Ngân Hàng Anh
Xem COMPETITION AND CREDIT CONTROL, MONETARY POLICY.
Bank Rate / Lãi Suất Ngân Hàng
Đó là mức lãi suất mà ngân hàng trung ương cho các ngân hàng trong nước vay tiền. Ngân hàng trung ương sử dụng công cụ lãi suất này để điều chỉnh nguồn cung tiền. Ngân hàng trung ương điều chỉnh nguồn cung tiền trong nước bằng cách thay đổi lãi suất. Khi ngân hàng trung ương giảm mức lãi suất cho vay này, nó làm tăng sự hấp dẫn của các khoản vay và khiến ngân hàng thương mại vay nhiều hơn, từ đó làm tăng nguồn cung tiền. Khi ngân hàng trung ương tăng mức lãi suất, sự hấp dẫn của các khoản vay đối với các ngân hàng thương mại giảm xuống và từ đó khiến nguồn cung tiền giảm xuống. Tuy vậy, nhưng thuật ngữ Bank Rate cũng được dùng trong nhiều trường hợp khác nhau, tuỳ từng đối tượng và mối quan tâm. Ví dụ, các chủ ngân hàng thì sử dụng thuật ngữ này với nghĩa là Lãi suất chiết khấu liên bang phải trả cho Các ngân hàng tiết kiệm (Federally Chartered Savings Banks). Còn người tiêu dùng thì dùng thuật ngữ này để nhắc đến mức lãi suất họ được nhận đối với chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, hay những người vay nợ ngân hàng... Thông thường ở Mỹ có các loại lãi suất như: lãi suất ngân hàng đối với CD, Lãi suất đối với thẻ tín dụng hoặc các khoản vay khác, Lãi suất cho vay mua ô tô hay bất động sản.
Là lãi suất mà ngân hàng trung ương một quốc gia cho các ngân hàng trong nước vay tiền. Những khoản vay này thường trong khoảng thời gian rất ngắn. Quản lý lãi suất ngân hàng là phương pháp ưa thích mà trong đó ngân hàng trung ương có thể điều chỉnh mức độ hoạt động của nền kinh tế. Lãi suất ngân hàng thấp có thể giúp mở rộng nền kinh tế khi thất nghiệp gia tăng, bằng cách giảm chi phí vốn cho người đi vay. Ngược lại, lãi suất ngân hàng cao giúp thắt chặt nền kinh tế, khi lạm phát cao hơn dự kiến. Lãi suất ngân hàng cũng có thể chỉ mức lãi suất mà ngân hàng tính cho các khoản vay của khách hàng. Ở Mỹ, lãi suất ngân hàng thường được gọi là Tỉ lệ lãi suất cho vay nhằm đáp ứng yêu cầu dự trữ bắt buộc (Federal funds rate). Lãi suất ngân hàng được quy định gián tiếp bởi Ủy ban thị trường mở liên bang (FOMC), bằng cách mua hoặc bán chứng khoán kho bạc để điều tiết mức cung tiền tệ. Những hành động này để đẩy tỉ lệ lãi suất cho vay nhằm đáp ứng yêu cầu dự trữ bắt buộc hiện tại (effective federal funds rate) gần hơn với lãi suất mục tiêu. Việc điều tiết nền kinh tế thông qua quản lý cung tiền được gọi là chính sách tiền tệ.





