Bear Hug / Tình Thế Bắt Buộc
Bear hug - dịch vui theo đúng nghĩa đen thì là Bị gấu ôm. Nhưng trong hoạt động kinh doanh, nó dùng để chỉ tình thế bắt buộc. Đó là khi giá đặt mua cao (takeover) - Giá đặt mua nhằm mua lại một công ty/ giá đặt mua để tiếp quản công ty, vì thế có giá và các đặc tính hấp dẫn BGĐ công ty bị mua (target company), BGĐ có thể phản đối vì các lý do khác nhưng cuối cùng vẫn phải chấp nhận nếu không muốn bị các cổ đông phản đối.
Đây là lời đề nghị của một công ty muốn mua cổ phiếu của người khác với mức giá mỗi cổ phiếu cao hơn giá trị của công ty. Tình thế bắt buộc thường được thực hiện khi ai đó nhận thấy rằng nhà quản lý của công ty mục tiêu đang sẵn lòng bán công ty của mình. Cái tên "tình thế bắt buộc" phản ánh tính thuyết phục đến từ một lời đề nghị quá hào phóng của công ty đề nghị đến công ty mục tiêu. Bằng cách đưa ra một mức giá mua vượt xa giá trị hiện tại của công ty đó, bên đề nghị hay là người đạt được thỏa thuận. Các nhà quản lý của công ty mục tiêu về cơ bản buộc phải chấp nhận một đề nghị hào phóng như vậy bởi vì họ có nghĩa vụ về mặt pháp lý là phải đem lại lợi ích tốt nhất cho các cổ đông.
Calculated Intangible Value - CIV / Phương Pháp CIV
Giá trị tài sản vô hình của một doanh nghiệp có thể rất lớn tuy nhiên lại thường không được thể hiện ra ngoài, bị che giấu dưới các số liệu kế toán và các chuẩn mực kế toán truyền thống. Khi hoạt động trong quá khứ của một doanh nghiệp ít nhiều không được chú ý tới, thị trường thường thường sẽ phản ứng lại trước tính bất cân xứng của thông tin. Sự bất cân xứng này xảy ra do việc áp dụng các phương pháp báo cáo tài chính truyền thống: các báo cáo tài chính được kiểm toán, các bản phân tích, các bản báo cáo để công bố...che giấu đi một phần thông tin hữu ích đối với các nhà đầu tư, ví dụ thông tin về các tài sản vô hình như: giá trị thương hiệu, R&D, bằng sáng chế, bản quyền, danh sách khách hàng...cho thấy một lỗ hổng thông tin khá lớn. Bất cứ một chuyên gia nào cũng có thể nói với bạn rằng giá trị của một doanh nghiệp có thể chuyển dời đáng kể từ việc tồn tại chủ yếu dưới dạng các tài sản hữu hình sang các tài sản vô hình, ví dụ: quyền sở hữu trí tuệ. Những giá trị vô hình là động lực chính làm tăng giá trị cho các cổ đông trong nền kinh tế tri thức, nhưng các tiêu chuẩn kế toán lại không thể hiện sự chuyển đổi này trong giá trị của một doanh nghiệp. Các bản báo cáo tài chính lập theo tiêu chuẩn GAAP không ghi chép các khoản mục đó. Chính vì thế mà các nhà đầu tư chỉ có thể dựa vào kết quả hoạt động của một doanh nghiệp để dự đoán giá trị của doanh nghiệp đó. CIV là một phương pháp định giá các tài sản vô hình của một doanh nghiệp. Phương pháp tính toán này nhằm mục đích phân bổ lượng giá trị bất biến của các tài sản vô hình, tức là lượng giá trị không đổi cho dù giá trị của doanh nghiệp có thay đổi theo thị trường. Thường thì tài sản vô hình của một doanh nghiệp sẽ được định giá bằng cách lấy giá trị thị trường trừ đi giá trị sổ sách của tài sản đó. Tuy nhiên những người phản đối lại phương pháp này lại cho rằng vì giá trị thị trường của một tài sản luôn thay đổi theo thời gian nên giá trị của tài sản đó nếu tính theo phương pháp này cũng sẽ biến đổi, khiến cho số liệu tính toán trở nên thiếu độ tin cậy. Việc tính toán giá trị tài sản vô hình của một doanh nghiệp theo phương pháp CIV được thực hiện thông qua 7 bước: Tính toán thu nhập trước thuế bình quân trong vòng 3 năm trước của doanh nghiệp. Tính toán giá trị tài sản vô hình bình quân tại thời điểm cuối năm của 3 năm trước Tính toán hệ số ROA của doanh nghiệp. Tính toán hệ số ROA bình quân ngành trong khoảng thời gian ba năm (như ở bước 2) Tính toán mức thu nhập vượt mức bằng cách: lấy ROA bình quân ngành nhân với giá trị tài sản vô hình bình quân như đã tính ở bước 2, sau đó lấy kết quả thu nhập trước thuế tại bước 1 trừ đi số liệu vừa tính được. Tính tỉ suất thuế thu nhập doanh nghiệp bình quân trong ba năm, lấy số liệu này nhân với thu nhập vượt mức đã tính ở trên. Lấy thu nhập vượt mức trừ đi số liệu này. Tính toán giá trị hiện tại thuần của thu nhập vượt mức sau thuế, sử dụng chi phí vốn làm tỉ lệ chiết khấu.
Bear Bond / Trái Phiếu Tăng Giá Trị Khi Thị Trường Giá Xuống
Trái phiếu được xem như là có thể tăng giá trị khi thị trường giá xuống, ví dụ như lúc lãi suất thị trường đang tăng. Trái phiếu điển hình trả cho nhà đầu tư các khoản tiền mặt cố định theo trị giá đồng dollar và theo thời điểm chi trả, đồng thời giá của nó cũng giảm khi lãi suất thị trường tăng. Ví dụ, một vài loại trái phiếu nhất định như trái phiếu có lãi suất tách riêng (interest-only strip) hay chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp - chỉ trả duy nhất lãi suất, là có khả năng tăng giá trị khi thị trường giá xuống bởi vì các khoản trả trước của thế chấp cơ sở đã bị chậm lại. Việc làm chậm lại các khoản trả trước làm tăng tổng số tiền mặt mà nhà đầu tư mong nhận được trong khoảng thời gian đầu tư có hiệu lực.
Debt Signaling / Tác Động Tín Hiệu Của Nợ
Đây là một lý thuyết phát biểu rằng thị trường thường có những phản ứng tích cực đối với các thông báo về việc vay nợ của doanh nghiệp. Một thông báo về sự phát hành thêm nợ được xem là một thông tin tín hiệu tốt cho nhà đầu tư. Nhà đầu tư tin tưởng, khi công ty đồng ý gia tăng nợ đồng nghĩa với việc gia tăng các khoản lãi vay phải trả thì chắc chắn tình hình tài chính của doanh nghiệp đó phải rất ổn định. Và ngược lại một thông báo cắt giảm nợ trong tương lai sẽ tạo ra một tác động tín hiệu xấu cho nhà đầu tư. Nhà đầu tư bắt đầu nghi ngờ doanh nghiệp không còn đủ khả năng để trả lãi vay nữa và chắc hẳn doanh nghiệp đang rơi vào vị thế tài chính yếu. Nhiều kết quả nghiên cứu thống kê cho thấy, các thông báo về việc gia tăng nợ và các tác động tín hiệu của nó ra thị trường thật sự đã chứng minh được sự tồn tại hợp lý của lý thuyết trên trong thực tế. Về sau lý thuyết này đã được các nhà khởi xướng về lý thuyết thị trường không hiệu quả sử dụng. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một điều: các nhà đầu tư không phải luôn khôn ngoan và sáng suốt, không phải lúc nào họ cũng nhìn nhận vấn đề một cách thấu đáo. Một chính sách gia tăng nợ của công ty có thể lại tạo tác động tín hiệu xấu nếu các nhà đầu tư lo ngại doanh nghiệp đang mắc nợ quá nhiều và có thể mất khả năng thanh toán. Thực hiện một cấu trúc vốn tối ưu trong từng giai đoạn ra sao, quyết định tỷ trọng nợ như thế nào cho hợp lý, làm sao để tác động tín hiệu nợ ra thị trường là tích cực như mong đợi vẫn luôn là một bài toán đau đầu các nhà quản trị.
New Economic Historians / Trường Phái Các Nhà Lịch Sử Kinh Tế Mới
New Economic Historians là các nhà lịch sử kinh tế mới xem lịch sử như một phòng thí nghiệm, nơi các lý thuyết kinh tế liên tục được kiểm định. Các đại lượng kinh tế quan sát được ở những thời điểm khác nhau là những dữ liệu thực nghiệm đồng nhất được tạo ra bởi các thử nghiệm có kiểm soát và lặp lại nhiều lần. Các dữ liệu này được sử dụng làm số liệu thống kê, phục vụ kiểm định các giả thiết về nguyên nhân của các lớp hiện tượng như lạm phát hay khủng hoảng tài chính, vẫn lặp đi lặp lại trong lịch sử kinh tế nhân loại. Giả thiết phù hợp nhất với các dữ liệu thường sẽ được chấp nhận rộng rãi và cung cấp luận giải có giá trị về nguồn gốc của lớp hiện tượng đang xem xét. Giả thiết dù đã được chấp nhận vẫn tiếp tục được kiểm định với các dữ kiện lịch sử trong tương lai để khẳng định lại hoặc loại bỏ giả thiết trong tiến trình lịch sử. Douglass C. North, nhận giải thưởng Nobel kinh tế năm 1993, là nhà khoa học tiên phong của trường phái lịch sử kinh tế mới. Nỗ lực của ông và nhiều nhà kinh tế khác trong việc mở rộng một cách thận trọng các chương trình thực chứng với lịch sử kinh tế đã ngay lập tức đối diện với hai vấn đề. Thứ nhất, như North nhấn mạnh, cách tiếp cận này thu hẹp giới hạn các dạng câu hỏi có thể đặt ra với lịch sử kinh tế. Các vấn đề này không sẵn sàng để trình bày bằng các đại lượng có thể đo lường cụ thể hoặc số liệu thống kê không thể tập hợp đầy đủ, hoặc cả hai. Do đó, các nhà lịch sử kinh tế mới sẽ thường xuyên đặt ra câu hỏi kiểu như: Ngành đường sắt đã đóng góp bao nhiêu cho tăng trưởng GNP thực tế tại Hoa Kỳ? hay, tác động của việc ra đời Cục dữ trữ liên bang tới ổn định giá cả và sản lượng và giá cả ra sao? Chúng không giống như những câu hỏi có nhiều ý nghĩa hơn: điều gì đã thúc đẩy chính phủ trao một lượng lớn đất đai cho các công ty đường sắt? và bộ luật Cục dự trữ liên bang đã được thông qua như thế nào? Nhìn chung, câu hỏi "Cui bono?- hay "Ai được lợi" từ những biến động chính sách và cấu trúc thượng tầng nhận được rất ít quan tâm. Do thực tế luôn cần có một ai đó trả lời, nhận trách nhiệm tìm lời giải là một động lực tự thân của các nhà nghiên cứu dù rằng phải đối diện với vấn đề về khả năng đo lường và lượng hóa các thông số. Điều này không bác bỏ rằng các nhà lịch sử kinh tế mới tìm kiếm lời giải thích kết quả phân phối thu nhập hậu nghiệm bắt nguồn từ thay đổi nhất định trong cơ chế chính sách hoặc cấu trúc của nền kinh tế. Cản trở lớn đối với những nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế mới là việc xác định các nguyên nhân trong quá khứ thúc đẩy cá nhân/hoặc nhóm cá nhân vận động hay đề xuất một thay đổi có tác động tới phân phối thu nhập. Tuy vậy, việc lảng tránh các câu hỏi này để lại khoảng trống mà các dữ liệu định tính sẽ mãi không thể tự giải thích. Lý do là sự hình thành của một tổ chức, ví dụ như các công ty đường sắt hay FED, luôn là kết quả kết hợp phức tạp của cá nhân/nhóm cá nhân cùng chung mục tiêu và sử dụng cùng phương tiện. Do vậy, lịch sử kinh tế mới không bao hàm tính lịch sử theo cách hiểu và cảm nhận truyền thống, trong nỗ lực "hiểu" động cơ thực sự thúc đẩy hình thành và phát triển của các tổ chức và quá trình kinh tế. Vấn đề thứ hai, sâu sắc hơn, với trường phái lịch sử kinh tế mới là vị trí mà nó tự đặt mình vào trong mối quan hệ giữa lý thuyết kinh tế và lịch sử. Với North, lịch sử là nguồn gốc của "các bằng chứng thực nghiệm," nghĩa là "hoàn hảo và đầy đủ dữ liệu thống kê," và nhờ đó các lý thuyết có thể được kiểm định. Điều này có nghĩa là mức độ vững vàng của một lý thuyết cụ thể luôn lung lay và có thể bị phủ nhận, dẫu rằng trước đó nó đã được kiểm định bởi các căn cứ đáng tin cậy. Tuy nhiên, đây cũng là điểm chứng minh lịch sử kinh tế luôn được điều chỉnh không ngừng, do một học thuyết kinh tế vốn được sử dụng để xác định quan hệ giữa các sự kiện lịch sử luôn có thể trở nên vô căn cứ với những dữ kiện lịch sử mới. Nói cách khác, trường phái lịch sử kinh tế mới đặc trưng bởi quan hệ chặt chẽ giữa phép đo và lý thuyết trên thực tế là vòng xoáy vô hạn và "bẫy" những nỗ lực viện dẫn các qui tắc thực chứng trong việc luận giải các biến cố lịch sử kinh tế. Một học thuyết kinh tế được sử dụng để giải thích hiện tượng kinh tế trong quá khứ hoàn toàn có thể không đúng với các hiện tượng sắp xảy ra, do vậy, trong cách tiếp cận lịch sử, vai trò giải thích hay được giải thích của lý thuyết kinh tế trở nên không rõ ràng. Điều này có thể hiểu rằng, biến cố lịch sử có thể tạo ra lý thuyết kinh tế hoặc các lý thuyết kinh tế (biểu hiện của động lực lợi ích cá nhân/nhóm cá nhân) tạo ra biến cố lịch sử.
Bayesian Techniques / Kỹ Thuật Bayes
Các phương pháp phân tích thống kê (bao gồm ƯỚC LƯỢNG và SUY LUẬN THỐNG KÊ) trong đó thông tin trước đây được kết hợp với số liệu mẫu để đưa ra những ước tính hay các giả thuyết kiểm nghiệm.
Debt Servicing Capacity / Khả Năng Thanh Toán
Khả năng thanh toán, khả năng chi trả: là khả năng của người đi vay có thể hoàn trả cả gốc lẫn lãi của một khoản nợ. Đây là một trong những tiêu chí rất quan trọng được sử dụng để đánh giá rủi ro tài chính của một công ty. Liên quan đên trái phiếu đô thị (municipal bond), khả năng thanh toán được hiểu là khả năng của người phát hành (chính quyền bang, thành phố, địa phương) tạo ra đủ nguồn thu thuế để thanh toán tất cả các nghĩa vụ cam kết (toàn bộ số tiền phải trả cho người mua trái phiếu khi đến hạn, gồm cả trái tức). Để đánh giá khả năng thanh toán trong hoàn cảnh này người ta thường xem xét tất cả các yếu tố liên quan đến giá trị tài sản và nguồn thu nhập của người phát hành trái phiếu. Trong lĩnh vực thuế khóa, khả năng thanh toán liên quan trực đến thu nhập của một cá nhân. Trong hoàn cảnh này khả năng thanh toán chính là căn cứ đánh thuế, hay nói cách khác, ai có thu nhập cao hơn thì đóng thuế nhiều hơn. Nguyên lý này được phát triển bởi nhà triết học người Thụy Sĩ Jean-Jacques Rousseau (1712 - 1778), nhà kinh tế chính trị học người Pháp Jean-Baptiste Say (1767-1832) và nhà kinh tế học người Anh John Stuart Mill (1806-1873). Nguyên lý đánh thuế theo khả năng thanh toán (Ability to pay principle) được coi là nguyên lý đánh thuế công bằng nhất, là đặc trưng của CNXH, và được sử dụng ở hầu hết các nước phát triển.
Batch / Nhóm, Đợt
Nhóm các chi phiếu, hối phiếu hay công cụ tài chính, được quản lý như một đơn vị xử lý tại văn phòng hỗ trợ trong ngày. Cũng được gọi là lô (block). Ngược với việc xử lý trực tuyến.
Nhóm các chi phiếu, hối phiếu, hay công cụ tài chính, được quản lý như một đơn vị xử lý tại văn phòng hỗ trợ trong ngày. Cũng được gọi là lô (block). Ngược với việc xử lý trực tuyến.
Basic Risk / Rủi Ro Basis
Là rủi ro mà các khoản đầu tư bù đắp vị thế trong một chiến lược phòng ngừa rủi ro không thay đổi theo các hướng đối ngược nhau. Mối tương quan không hoàn hảo giữa các khoản đầu tư bù đắp vị thế đã tạo ra các khoản lỗ hoặc lãi tiền tiêm ẩn trong một chiến lược phòng ngừa rủi ro và do đó đã làm gia tăng thêm rủi ro cho vị thế của nhà đầu tư (nhà phòng ngừa rủi ro)Các phương tiện bù đắp thường tương tự nhau trong cấu trúc của các khoản đầu tư được sử dụng để phòng ngừa rủi ro nhưng chúng vẫn khác nhau đủ để gây ra sự lo lắng cho các nhà phòng ngừa rủi ro. Ví dụ, trong nỗ lực cố gắng phòng ngừa rủi ro trái phiếu 2 năm với việc mua giao sau T-bill, sẽ có một rủi ro vì giữa T-bill và trái phiếu 2 năm đó không biến động hoàn toàn giống nhau.
Basis Rate Swap / Swap Lãi Suất Cơ Bản
Swap lãi suất cơ bản là một loại swap mà 2 bên thực hiện swap lãi suất thả nổi dựa trên cácthị trường tiền tệ khác nhau. Điều này thường được làm để hạn chế rủi ro lãi suất mà một công ty phải đối mặt do việc cho vay và đi vay với các lãi suất khác nhau.Ví dụ, một công ty cho các cá nhân vay tiền với lãi suất thả nổi theo lãi suất liên ngân hàng Luân Đôn (LIBOR) nhưng họ lại đi vay tiền với lãi suất T- bill. Sự khác nhau giữa lãi suất đi vay và lãi suất cho vay đặt công ty vào vị thế có rủi ro lãi suất. Bằng việc tham gia vào hợp đồng swap lãi suất cơ bản, nơi mà họ có thể trao đổi lãi suất T-Bill cho lãi suất LIBOR, họ có thể hạn chế được rủi ro lãi suất.
Basis Point(S) - BPS / Điểm Cơ Bản
Đơn vị lãi suất tương đương với 1/100 của 1%, và được sử dụng thường xuyên, thông dụng để thông báo thay đổi lãi suất của một công cụ tài chính. Điểm cơ bản được dùng phổ biến khi tính lãi suất, các chỉ số cổ phiếu và lợi suất của chứng khoán thu nhập cố định (fixed-income). 1% lãi suất được hiểu là 100 bps (100 điểm cơ bản). Một trái phiếu có mức lợi suất từ 5% tăng lên 5.5% được gọi là mức tăng 50 bps. Nếu ngân hàng tăng lãi suất thêm +1% thì có nghĩa là lãi suất tăng thêm 100 bps.
Neutrality Of Money / Tính Chất Trung Lập Của Tiền
Định lý này cho rằng nhờ các tác động SỐ DƯ THỰC TẾ TRÊN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ mà cứ mỗi khi cung tiền tệ tăng lên một mức bao nhiêu thì giá tiền tệ tại điểm cân bằng cũng tăng lên một mức bấy nhiêu.
Basis / Basis
1. Basis được định nghĩa là sự khác biệt giữa giá giao ngay của hàng hóa giao nhận và giá của hợp đồng giao sau tương ứng cho cùng khoảng thời gian sống ngắn nhất cho đến khi đáo hạn. Bởi vì luôn có sự khác biệt giữa giá giao ngay và giá giao sau tương ứng cho đếnngày đáo hạn của hợp đồng gần nhất, basis không thật sự cần thiết phải chính xác. Thêm vào đó, sự khác biệt còn được tạo ra bởi các khoảng thời gian đáo hạn khác nhau giữa hợp đồng giao sau và hàng hóa giao ngay, chất lượng sản phẩm, địa điểm giao hàng… cũng có thể rất khác nhau. Nói chung, basis được các nhà đầu tư sử dụng để đánh giá khả năng sinh lợi giao nhận tiền mặt hoặc hàng hóa thực và các nhà đầu tư cũng sử dụng basis để tìm kiếm các cơ hội kinh doanh chênh lệch.2. Basis của một chứng khoán là giá mua sau khi đã trừ đi chi phí môi giới và các chi phí khác. Nó cũng được gọi là” basis chi phí” hoặc “ basis thuế”. Các số liệu này được sử dụng để tính toán lãi vốn hoặc lỗ vốn khi chứng khoán đó được bán đi.
Debt Rescheduling / Giãn Nợ
Giãn nợ là việc hoãn lại các khoản nợ phải trả và áp dụng thời gian đáo hạn mới (kéo dài hơn) đối với khoản nợ được hoãn. Giãn nợ là một biện pháp giúp đỡ người vay nợ thoát khỏi gánh nặng nợ trước mắt bằng cách hoãn đòi nợ và trong nhiều trường hợp nghĩa vụ trả nợ cũng sẽ được chủ nợ giảm bớt.
Basing-Point System / Hệ Thống Điểm Định Vị Cơ Sở
Một cách định giá trong đó những người bán hàng khác nhau trong một thị trường thống nhất rằng mức giá đối với một hàng hoá sẽ được tính bằng tổng giá cố định và mức phí vận chuyển đã được thống nhất liên quan đến khoảng cách giữa người tiêu dùng và điểm gần nhất trong một số các địa điểm đã được thoả thuận gọi là "các điểm định vị cơ sở".
Debt Management / Quản Lý Nợ
Cụm thuật ngữ này được sử dụng thường liên quan đến công nợ, để chỉ các hoạt động của cơ quan cho vay nợ của NGÂN HÀNG trung ương, thay mặt cho cơ quan vay nợ, để điều chỉnh quy mô và cơ cấu các khoản nợ chưa trả.
Marketing / Marketing
Là một thuật ngữ dùng để chỉ những hoạt động của các doanh nghiệp liên quan đến việc bán và phân phối sản phẩm. Hiện nay trong các tác phẩm về marketing trên thế giới, có trên 2000 định nghĩa về Marketing. Tuy nhiên các định nghĩa ấy về thực chất không giống nhau lắm và điều lý thú là chưa có định nghĩa nào được coi là duy nhất đúng. Hãy tham khảo một vài định nghĩa về Marketing. 1. Định nghĩa của Hiệp hội Marketing Mỹ: Marketing là tiến hành các hoạt động kinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng vận chuyển hàng hoá và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng. 2. Việt Marketing của Anh: Marketing là quá trình tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động sản xuất-kinh doanh, từ việc phát hiện ra và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể, đến việc sản xuất và đưa các hàng hoá đến người tiêu dùng cuối cùng, nhằm đảm bảo cho Công ty thu được lợi nhuận dự kiến. 3. Định nghĩa của học việc quản lý Malaysia: Marketing là nghệ thuật kết hợp, vận dụng các nguồn lực thiết yếu nhằm khám phá, sáng tạo, thoả mãn và gợi lên những nhu cầu của khách hàng để tạo ra lợi nhuận. 4. Định nghĩa của giáo sư Philip Kotler: Marketing- đó là một hình thức hoạt động cuủacon người hướng vào việc đáp ứng nhu cầu thông qua trao đổi. 5. Công ty General Electric (Mỹ) đã coi Marketing như một triết lý kinh doanh mà tiêu điểm của nó là người tiêu dùng và lợi nhuận. Tóm lại, Marketing là tổng thể các hoạt động của doanh nghiệp hướng tới thoả mãn, gợi mở những nhu cầu của người tiêu dùng trên trị trường để đạt được mục tiêu lợi nhuận.
Mortgage / Thế Chấp
Là một sự thu xếp về mặt pháp lý theo đó một hình thức sở hữu một loại tài sản nào đó được người đi vay chuyển cho người cho vay như một sự bảo đảm đối với khoản vay đó.
Market Value-Weighted Index / Chỉ Số Giá Trị Thị Trường Gia Quyền
Market value-weighted index có nghĩa là: chỉ số giá trị thị trường gia quyền, hay chỉ số nghiêng về trị giá thị trường. Chỉ số chứng khoán có những thành tố hướng theo tổng trị giá thị trường của các cổ phần hiện hành (do cổ đông và người mua giữ). Nó cũng còn được gọi là chỉ số nghiêng về tư bản hoá (capitalization-weighted index). Sự thay đổi giá cả của một thành tố có tác động tương ứng đối với toàn thể trị giá thị trường của chứng khoán trái phiếu. Thí dụ, chỉ số kỹ thuật vi tính được mua bán trên thị trường AMEX (American Stock Exchange) có 30 chứng khoán thành tố. Tỷ trọng của mỗi chứng khoán chuyển biến liên tục dùng với những thay đổi giá cả chứng khoán và số lượng cổ phần hiện hành. Chỉ số biến chuyển cùng với giá chứng khoán thay đổi.
Debt For Equity Swaps / Hoán Chuyển Nợ Thành Cổ Phần
Kỹ thuật được đề ra để giúp các nước thuộc khối phía Đông và các nước kém phát triển giảm bớt gánh nặng nợ nần bằng cách chuyển đổi các khoản nợ của một hãng hay chính phủ thành vốn cổ phần.






