Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Data Capture / Hệ Thống Thu Dữ Kiện

Data Capture có nghĩa là: Hệ thống thu dữ kiện.Hệ thống thu dữ kiện là hệ thống điện tử thu hồi phiếu bán thẻ ngân hàng thương mại nhận trực tiếp từ hệ thống chi trả mua bán lẻ của thương buôn hay máy đăng ký tiền mặt điện tử (Electronic cash register). Hệ thống thu dữ kiện của ngân hàng còn được gọi là Draft Capture (hệ thống thu hồi phiếu) làm tăng tốc độ thu quỹ cho các ngân hàng thương nghiệp xử lý thẻ và các tài khoản thương nghiệp của họ bằng cách loại bỏ thời gian trôi nổi của thư tín trong việc xử lý phiếu ghi thẻ ngân hàng.

Data / Số Liệu, Dữ Liệu

Các quan sát về độ lớn của các hiện tượng kinh tế như thu nhập quốc dân, thất nghiệp, mức giá bán lẻ…

Số Liệu, Dữ Liệu (Data) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Darvas Box Theory / Lý Thuyết Hộp Darvas

Đây là một chiến lược mua bán được phát triển vào năm 1956 bởi một vũ công có tên là Nicolas Darvas. Kĩ thuật mua bán Darvas chính là việc mua cổ phần khi nó được giao dịch với khối lượng lớn ở mức giá cao trong tuần thứ 52 liên tiếp. Thực chất đây là kĩ thuật phân tích có sử dụng đến các bảng biểu. Darvas theo dõi sự biến động của giá cả, các hành vi trên thị trường, số lượng giao dịch mỗi tuần, đồng thời phân tích các thông tin về giá trần, giá sàn, giá đóng của của cổ phiếu do người môi giới của ông ta cung cấp. Darvas tìm kiếm các cổ phiếu có sự biến động lớn về giá và giao dịch với khối lượng lớn. Khi tin rằng những người mua một loại cổ phiếu nào đó là người nắm chắc thông tin, ông ta cũng sẽ tiến hành mua vào loại cổ phiếu này. Ví dụ, khi đang khiêu vũ ở Calcutta, ông ta nghe thấy một vị bá tước nói rằng cổ phiếu của E. L. Bruce đang tăng mạnh. Giá tăng từ 16 tới 50 trên số lượng giao dịch là 35000 cổ phiếu. Ông ta mua một lượng ở giá 51 và bán khi giá lên tới 171 vào sáu tuần sau. Một chiếc hộp Darvas sẽ được làm khi giá cổ phiếu tăng cao hơn mức kỉ lục của 52 tuần trước, nhưng lại bị giảm về mức xấp xỉ giá kỉ lục ngay sau đó. Nếu như giá giảm nhiều, đây có thể là dấu hiệu bất ổn, ngược lại nếu giảm không nhiều, mức giá này sẽ được sử dụng làm đáy của chiếc hộp, mức giá cao sẽ đóng vai trò là nắp hộp. Thông qua những tính toán khéo léo, Davas đã tạo ra một chiếc hộp cho thấy phạm vi thay đổi và biên độ giao động của giá từ mức cao nhất tới mức thấp nhất, từ đó có thể thấy được loại cổ phiếu nào có thể đem lại mức lợi nhuận cao nhất. Vào năm 1956, Darvas có thể làm một khoản đầu tư trị giá 10.000 $ sinh sôi nảy nở lên tới 2triệu $ trong vòng 18 tháng. Trên đường đi tham dự buổi khiêu vũ của mình, Davas có thể mua một bản copy của tờ The Wall Street Journal and Barron's, tuy nhiên không cần nghiên cứu nhiều, chỉ đơn thuần nhìn vào giá cổ phiếu là ông ta đã có thể đưa ra quyết định đầu tư hay không. Người ta nói rằng việc Darvas kiếm được món hời như vậy không khiến ông ta hạnh phúc bằng việc giúp cho người khác không phải lo lắng nhiều khi tiến hành đầu tư dựa trên lý thuyết của mình. Những người nghi ngờ kĩ thuật mua bán của Darvas thì cho rằng sự thành công của ông ta là do ông ta tiến hành mua bán chứng khoán trong thị trường giá lên (bull market). Họ cũng lý luận rằng nếu như đầu tư trong thị trường giá xuống thì không thể đạt được khoản lợi nhuận lớn như vậy nếu sử dụng kĩ thuật Darvas.

Bankruptcy Risk / Rủi Ro Phá Sản

Là nguy cơ một công ty không thể trả hết các khoản nợ của mình. Thường được nhắc đến như "sự vỡ nợ" (default) hay "rủi ro không trả được nợ" (insolvency risk). Đây là một rủi ro mà cả vốn sở hữu và chủ sở hữu trái phiếu có thể gặp phải khi quyết định đầu tư vào một công ty. Bên cạnh việc nhìn vào lợi nhuận tổng thể, nhà đầu tư phải phân tích các nghĩa vụ nợ và khả năng trả nợ của công ty. Những công ty như Moody's và Standard & Poor's cố gắng xác định rủi ro bằng cách đưa ra đánh giá trái phiếu.

Là rủi ro một công ty có thể không thể đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ. Rủi ro này thường được nhắc với tên gọi "rủi ro vỡ nợ". ("insolvency risk.") Đây là rủi ro mà cả cổ đông và chủ nợ gặp phải khi quyết định đầu tư vào một công ty. Để đưa ra cái nhìn tổng quan về khả năng sinh lời, khả năng trả nợ và khả thanh toán của một công ty, các đại lý như Moody's và S&P's đã cố gắng để xác định rủi ro này bằng việc đưa ra xếp hạng tín dụng.

Damped Cycle / Chu Kỳ (Có Biên Độ) Giảm Dần; Chu Kỳ Tắt

Còn gọi là chu kỳ đồng quy. Một trong một loạt các biến động chu kỳ với một biên độ GIẢM DẦN theo thời gian

Damage Cost / Chi Phí Bồi Thường Thiệt Hại; Chi Phí Bù Đắp Thiệt Hại; Chi Phí Thiệt Hại

Là chi phí phải trả cho thiệt hại gây ra, thường là thiệt hại do ô nhiễm

Market / Thị Trường

Đầu tư: 1. Thường dùng để chỉ thị trường vốn sở hữu nơi mà các cổ phiếu được trao đổi, nhưng cũng có thể dùng để chỉ trái phiếu, hợp đồng quyền chọn, hoặc thị trường hàng hóa. 2. Những người với mong muốn và khả năng mua một loại hàng hóa nhất định. "Thị trường hôm nay giảm" ý chỉ giá trị thị trường chứng khoán đi xuống. Marketing: 1. Hệ thống kinh tế tập trung lực lượng cung và cầu của một loại hàng hóa hay dịch vụ cụ thể. Một thị trường bao gồm khách hàng, nhà cung cấp và các kênh phân phối, hệ thống thiết lập giá và các giao dịch đang có hiệu lực. Ví dụ: thị trường nước giải khát bao gồm nhà máy sản xuất, đóng chai, các nhà phân phối, người bán lẻ, các nhà hàng và khác hàng. 2. Chỉ việc bán hàng hóa hay dịch vụ.

Theo thuật ngữ Marketing, Thị trường được hiểu là nhóm khách hàng hoặc tổ chức, và những đối tượng quan tâm đến sản phẩm, có khả năng mua hàng, và được luật pháp và các quy định cho phép mua sản phẩm.  Thị trường được phân thành các mức sau:  Toàn bộ dân số (total population); Thị trường tiềm năng (potential market): Những người nằm trong toàn bộ dân số quan tâm đến việc mua sản phẩm Thị trường sẵn có (available market): Những người trong thị trường tiềm năng, có đủ tiền để mua sản phẩm Thị trường sẵn có đủ tiêu chuẩn (qualified available market): những người ở trong nhóm thị trường sẵn có được pháp luật cho phép mua sản phẩm Thị trường mục tiêu (target market): phân đoạn của thị trường sẵn có đủ tiêu chuẩn mà công ty đặt chiến lược phục vụ Thị trường thâm nhập (penetrated market): những người ở trong thị trường mục tiêu đã mua sản phẩm Sản phẩm được hiểu là sản phẩm hữu hình và dịch vụ. Độ lớn của thị trường không nhất thiết bị cố định. Ví dụ, độ lớn của thị trường sẵn có có thể trở nên lớn hơn nếu giá của sản phẩm giảm, và độ lớn của thị trường sẵn có đủ tiêu chuẩn có thể rộng hơn nếu luật pháp nới lỏng các quy định về đối tượng mua sản phẩm.

Thông thường, đó là bất kỳ khung cảnh nào trong đó diễn ra việc mua bán các loại hàng hoá và dịch vụ.

Sự hình thành cung và cầu nơi người mua và người bán nắm thông tin gặp nhau, và thiết lập giá cả công khai cho sản phẩm và dịch vụ. Ví dụ, thị trường tín dụng, thị trường ngoại hối, thị trường tiền tệ, thị trương thế chấp và thị trường thứ cấp. Địa điểm công cộng, như sàn giao dịch chứng khoán, hoặc giao dịch chứng khoán, hoặc giao dịch hợp đồng kỳ hạn ở đó diễn ra các giao dịch. nó ngụ ý sự hiện diện của những người tạo ra thị trường sẵn sàng mua hoặc bán tài sản của chính họ, hoặc cho khách hàng với mức giá niêm yết. Sàn giao dịch hợp đồng kỳ hạn là các thị trường ở đó giá được thiết lập bởi sự tương tác trực tiếp hay còn gọi là tín hiệu tay, bởi những thương nhân trên sàn giao dịch. Sàn giao dịch chứng khoán ở đó chứng khoán niêm yết được bán, gồm các giao dịch bởi nhà môi giới và thương nhân hành động thay mặt người mua và người bán, duy trì tiếp xúc với sàn giao dịch qua điện thoại. Bán bất kỳ thứ gì có giá trị cho bên muốn mua với mức giá do hai bên thương lượng.

Mark To Model / Hạch Toán Theo Mô Hình

Phương pháp hạch toán theo mô hình là việc định giá một khoản mục đầu tư cụ thể dựa trên giả định nội bộ hoặc các mô hình tài chính. Điều này trái ngược với phương pháp truyền thống là định giá theo giá trị thị trường, trong đó giá cả thị trường được sử dụng để tính toán giá trị cũng như lỗ lãi của danh mục đầu tư. Tài sản được định giá theo mô hình không cần một thị trường để thường xuyên cung cấp các mức giá chính xác, và cũng không định giá dựa trên tập hợp các biến tham chiếu và khung thời gian. Điều này tạo nên một tình huống mà sự phỏng đoán và giả định được sử dụng để gán giá trị cho tài sản. Những tài sản này thường là các hợp đồng phái sinh hoặc các công cụ chứng khoán hóa dòng tiền mặt, và hầu hết không có thị trường giao dịch mang tính thanh khoản. Chính vì lý do đó mà phương pháp này cũng gây ra những rủi ro cho nhà đầu tư. Trong cuộc khủng hoảng thế chấp cấp thấp năm 2007, hàng tỷ đô la tài sản thế chấp chứng khoán đã được đưa lên bảng cân đối kế toán của các công ty vì các giả định xác định giá trị sử dụng hóa ra không chính xác. Nhiều giá trị xác định theo mô hình đã giả định về tính thanh khoản, một thị trường thứ cấp có trật tự với mức mặc định đã có trong lịch sử. Các giả định này đã được chứng minh là sai lầm khi tính thanh khoản không còn và mức mặc định thế chấp cũng tăng vọt trên mức bình thường.

Daisy Chain / Mua Bán Giữa Người Đầu Cơ Giá Thị Trường

Daisy chain - tức mua bán giữa người đầu cơ giá thị trường (market manipulators) để tạo ra một nhu cầu giả tạo về số lượng mua bán như mồi nhử lôi cuốn nhà đầu tư hợp pháp. Khi những người mua bán này tăng giá lên, nhà đầu cơ giá tung những chứng khoán trái phiếu ra, sau đó bỏ mặc cho những nhà đầu tư thiếu cảnh giác ôm số chứng khoán khoán đó vì không có người mua lại.

Bankruptcy / Sự Phá Sản

Tình trạng không trả được nợ hay mất khả năng thanh toán nợ.  Các toàn xử phá sản giải quyết hai trường hợp lớn: phá sản tự nguyện bởi các con nợ muốn tìm kiếm khởi đầu mới, và phá sản không tự nguyện  được khởi kiện bởi đủ số chủ nợ, những người tin rằng con nợ phạm luật phá sản bằng cách giấu giếm tài sản hay thiên vị giữa các chủ nợ. Trong cả hau trường hợp, mục đích là công bằng và vô tư khi giải quyết các trái quyền và phân phối tài sản. Việc lập đơn xin phá sản sẽ tự động hoãn việ thu nợ cho đến khi nợ được giải quyết, đơn kiến nghị bị bác hay kế hoạch tái thanh toán được các chủ nợ chấp thuận. Sau khi hồ sơ xin phá sản được lập, vụ phá sản vẫn còn trên báo cáo của văn phòng tín dụng của con nợ trong 10 năm.  Bộ luật Cải cách Phá sản năm 1978, là sửa đổi lớn lần đầu tiên. Bộ luậ phá sản trong bốn thập kỷ đã đem lại những thay đổi quan trọng: luật mới đơn giản hóa các thủ tục cho việc lập đơn xin phá sản, bổ sung quy tắc ưu tiên tuyệt đối (absolute priority rule) giúp các chủ nợ lâu năm được bảo đảm so với các chủ nợ khác, giới hạn trái quyền của chủ nợ trong việc khấu trừ tài sản của con nợ, và mở rộng quyền thẩm phán liên bang khi quyết định các vụ phá sản. Các tu chính án của bộ luật năm 1984 trao cho tòa xử phá sản quyền bác bỏ các đơn xin phá sản gian dối do các con nợ giấu giếm tài sản. Các tu chính án có hiệu lực năm 2005 (luật ngăn cấm lạm dụng phá sản và bảo vệ khách hàng) bổ sung thêm luật phá sản nhằm ngăn chặn các đơn xin phá sản gian dối. Các cá nhân có đủ thu nhập để hoàn trả món nợ của họ (xác định bởi "kiểm định tài sản") buộc phải lập đơn xin phá sản theo Chương 13. Chương 7: được gọi là thanh lý, cho phép người nhận ủy thác do tòa chỉ định có các quyền tùy ý phân phối các tài sản giữa các chủ nợ, và dàn xếp tài chính tạm thời. Nói chung, người nhận ủy thác đại diện cho quyền lợi của các chủ nợ không được bảo đảm. Tuy nhiên, nếu không có tài sản, thì nợ được dỡ bỏ và các chủ nợ không nhận được gì cả.  Chương 9: phần bộ luật ít được sử dụng, được thiết kết cho việc điều chỉnh nợ đô thị. Cũng được gọi là tái tổ chức đô thị.  Chương 11: tái tổ chức, thông thường bởi một doanh nghiệp, cho phép con nợ (được gọi là con nợ thuộc quyền sở hữu nếu không có tên người nhận ủy thác) duy trì hoạt động kiểm soát, trong khi tái cơ cấu nợ và thực hiện thời biểu tái thanh toán có thể chấp nhận cho chủ nợ. Khoản vay của chủ nợ dành cho các con nợ theo Chương 11 thì được phép trong một số điều kiện nhất định. Chương 12: Khoản dự phòng mới để giải quyết các vụ phá sản nông nghiệp, cho phép các nông trại nhỏ sở hữu gia đình có số nợ dưới 1.5 triệu USD, được trả nợ dựa trên giá trị thị trường hợp lý của tài sản thế chấp tiền vay. Chương 13: Kế hoạch thanh toán nợ, được gọi là kế hoạch trả nợ dần theo tiền công, do các cá nhân có thu nhập đều đặn lập ra. Người nợ lập ngân sách trả nợ với tòa án, và đồng ý thanh toán từng phần (thấp hơn 100%) nghĩa vụ nợ cho các chủ nợ trong giai đoạn ba đến năm năm, thông thường trong vòng ba năm, Xem COMPOSITION; CRAM-DOWN; DISCHARGE OF BANKRUPCY; PREFERENCE; PRIORITY OF LIEN; REAFFIRMATION; REDEMPTION; VOIDABLE PREFERENCE.

Mark To Market - MTM / Hạch Toán Theo Giá Thị Trường

Hạch toán theo giá trị thị trường là phương thức đặt ra mức giá của tài sản trên bảng cân đối phản ánh giá trị của chúng khi bán trên thị trường tại thời điểm hạch toán. Cách này có vẻ thật hợp lý về mặt  lý thuyết, nhưng trong thực hành mọi chuyện có thể không như vậy. Bởi, không phải tất cả mã chứng khoán đều có khả năng thanh khoản tốt - ở bất kỳ lúc nào một nhà đầu tư cũng có thể xác định mức giá sẵn sàng giao dịch của chứng khoán đó. Các khoản cho vay và chứng khoán chiếm một lượng lớn tài sản tại các ngân hàng. Do đó, phương pháp sử dụng để định giá các tài sản này trong quá trình chuẩn bị các báo cáo tài chính sẽ ảnh hưởng tới giá trị vốn góp cổ phần của cổ đông. (Vốn góp cổ phần của cổ đông = tổng tài sản - các nghĩa vụ nợ => Ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của ngân hàng.) Trên thực thế, với mã chứng khoán bất động sản được rao bán mà không có lệnh đề nghị mua thì sẽ dựa trên mức độ thanh khoản để định giá theo 3 nhóm sau: Tài sản thanh khoản tốt, có giá giao dịch trên thị trường  Tài sản không có giá giao dịch trên thị trường, được xác định giá dựa trên một mô hình định giá đáng tin cậy. Đây là mô hình có vô vàn biến số đầu vào có giá trị được xác định dễ dàng trên thị trường như lãi suất, giá của các chứng khoán tương đương... Tài sản không thể nào xác định được giá hợp lý với các mô hình đầu vào đầy đủ. Nhóm này buộc những người chuẩn bị các báo cáo tài chính phải đưa ra giả thiết về các giá trị đầu vào. Và phương thức định giá tài sản của nhóm được gọi với là "định giá theo trí tưởng tượng" (Mark to Imagination)

Daily Trading Limit / Giới Hạn Mua Bán Hàng Ngày

Giới hạn mua bán hàng ngày là số tối đa mà thị trường hàng hoá và hợp đồng option được phép tăng hay giảm. Khi thị trường đạt đến mức giới hạn sớm và giữ như vậy suốt ngày, nó được nói là đang ở mức giới hạn cao nhất hay thấp nhất trong ngày. Thị trường thường áp đặt giới hạn mua hay bán hằng ngày trong mỗi hợp đồng. Ví dụ như: Chicago Board of Trade giới hạn bằng 2 điểm ($2000 cho mỗi hợp đồng) tăng hay giảm trong hợp đồng option của future về công phiếu.

Daily Interest / Lãi Hàng Ngày

Lãi hàng ngày - thuật ngữ chỉ lãi kiếm được từ thời điểm ký thác cho đến thời điểm rút ra. Ngoài ra, tiền lãi tài khoản ký thác được kết hợp hàng ngày và được ghi vào bên có tài khoản ký thác được kết hợp hàng ngày và được ghi vào tài khoản của người ký thác thời khoảng khác nhau. Ví dụ, ký thác $100 trong 1năm (365 ngày) sẽ kiếm được $ 0,84 tiền lãi kết hợp hàng ngày trong vòng 30 ngày, $2,53 trong 90 ngày, $5,13 trong 180 ngày và $10,67 sau khi tròn năm.

Bankruptcy / Phá Sản

Tình trạng không trả được nợ hay mất khả năng thanh toán nợ.  Các tòa xử phá sản giải quyết hai trường hợp: phá sản tự nguyện bởi các con nợ muốn tìm kiếm khởi đầu mới, và phá sản không tự nguyện được khởi kiện bởi đủ số chủ nợ, những người tin rằng con nợ phạm luật phá sản bằng cách giấu giếm tài sản hay thiên vị giữa các chủ nợ. Trong cả hai trường hợp, mục đích là công bằng và vô tư khi giải quyết các trái quyền và phân phối tài sản. Việc lập đơn xin phá sản sẽ tự động hoãn việc thu nợ cho đến khi nợ được giải quyết, đơn kiến nghị bị bác hay kế hoạch tái thanh toán được các chủ nợ chấp thuận. Sau khi hồ sơ xin phá sản được lập, vụ phá sản vẫn còn trên báo cáo của văn phòng tín dụng của con nợ trong 10 năm.  Bộ Luật Cải cách phá sản năm 1978 là sửa đổi lớn lần đầu tiên Bộ Luật phá sản trong bốn thập kỷ đã đem lại những thay đổi quan trọng: luật mới đơn giản hóa các thủ tục cho việc lập đơn xin phá sản, bổ sung quy tắc ưu tiên tuyệt đối (absolute priority rule) giúp các chủ nợ lâu năm được bảo đảm so các chủ nợ khacsm giới hạn trái quyền của chủ nợ trong việc khấu trừ tài sản của con nợ và mở rộng quyền thẩm phán liên bang khi quyết định các vụ phá sản. Các tu chính án của bộ luật năm 1984 trao cho tòa xử phá sản, quyền bác bỏ các đơn xin phá sản gian dối do các con nợ giấu diếm tài sản. Các tu chính án có hiệu lực từ năm 2005 (luật ngăn cấm lạm dụng luật phá sản và bảo vệ khách hàng) bổ sung thêm luật phá sản nhằm ngăn chặn các đơn xin phá sản gian dối. Các cá nhân có đủ thu nhập để hoàn trả một phần món nợ của họ (xác đinh bởi kiểm định tài sản) buộc phải lập đơn xin phá sản theo Chương 13. Các chương quan trọng trong bộ luật sửa đổi là các chương sau: Chương 7: Được gọi là Thanh lý, cho phép người nhận ủy thác do tòa chỉ định có các quyền tùy ý phân phối các tài sản giữa các chủ nợ, và dàn xếp tài chính tạm thời. Nói chung, người nhận ủy thác đại diện cho quyền lơi của các chủ nợ không được bảo đảm. Tuy nhiên, nếu không có tài sản, thì nợ được dỡ bỏ và các chủ nợ không nhận được gì cả.  Chương 9: Phần bộ luật ít được sử dụng, được thiết kế cho việc điều chỉnh nợ đô thị. Cũng được gọi là tái tổ chức đô thị.  Chương 11: Tái tổ chức thông thường bởi một doanh nghiệp, cho phép con nợ thuộc quyền sở hữu nếu không có tên người nhận ủy thác duy trì hoạt động kiểm soát, trong khi tái cơ cấu nợ và thực hiện thời biểu tái thanh toán có thể chấp nhận cho chủ nợ. Khoản vay của chủ nợ dành cho các con nợ theo Chương 11 thì được phép trong một số điều kiện nhất định. Chương 12: Khoản dự phòng mới để giải quyết các vụ phá sản nông nghiệp, cho phép các nông trại nhỏ sở hữu gia đình có số nợ dưới 1.5 triệu USD được trả nợ dựa trên giá trị thị trường hợp lý của tài sản thế chấp tiền vay. Chương 13: Kế hoạch thanh toán nợ, được gọi là kế hoạch trả nợ dần theo tiền công, do các cá nhân có thu nhập đều đặn lập ra. Người nợ lập ngân sách trả nợ cho với tòa án và đồng ý thanh toán từng phần (thấp hơn 100%) nghĩa vụ nợ cho các chủ nợ trong vòng ba năm Xem COMPOSITION; CRAM DOWN; DISCHARGE OF BANKRUPCY; PREFERENCE; PRIORITY OF LIEN; REAFFIRMATION; REDEMPTION; VOIDABLE PREFERENCE.

Tình trạng không trả được nợ hay mất khả năng thanh toán nợ.  Các tòa xử phá sản giải quyết hai trường hợp lớn: PHÁ SẢN TỰ NGUYỆN bởi các con nợ muốn tìm kiếm khởi đầu mới, và PHÁ SẢN KHÔNG TỰ NGUYỆN được khởi kiện bởi đủ số chủ nợ, những người tin rằng con nợ phạm LUẬT PHÁ SẢN bằng cách giấu giếm tài sản hay thiên vị giữa các chủ nợ. Trong cả hai trường hợp, mục đích là công bằng và vô tư khi giải quyết các trái quyền và phân phối tài sản. Việc lập đơn xin phá sản sẽ tự động hoãn việc thu nợ cho đến khi nợ được giải quyết, đơn kiến nghị bị bác hay kế hoạch thanh toán được các chủ nợ chấp thuận. Sau khi hồ sơ xin phá sản được lập, vụ phá sản vẫn còn trên báo cáo của văn phòng tín dụng của con nợ trong 10 năm. Bộ luật Cải cách Phá sản 1978, là sửa đổi lớn lần đầu tiên Bộ luật phá sản trong 4 thập kỷ đã đem lại những thay đổi quan trọng: luật mới đơn giản hóa các thủ tục cho việc lập đơn xin phá sản, bổ sung QUY TẮC ƯU TIÊN TUYỆT ĐỐI (ABSOLUTE PRIORITY RULE) giúp các chủ nợ lâu năm được bảo đảm so các chủ nợ khác, giới hạn trái quyền của chủ nợ trong việc khấu trừ tài sản của con nợ, và mở rộng quyền thẩm phán liên bang khi quyết định các vụ phá sản. Các tu chính của bộ luật năm 1984 trao cho tòa xử phá sản, quyền bác bỏ các đơn xin phá sản gian dối do các con nợ giấu giếm tài sản. Các tu chính án có hiệu lực năm 2005 (LUẬT NGĂN CẤM LẠM DỤNG PHÁ SẢN VÀ BẢO VỆ KHÁCH HÀNG) bổ sung thêm luật phá sản nhằm ngăn chặn các đơn xin phá sản gian dối. Các cá nhân có đủ thu nhập để hoàn trả một phần món nợ của họ (xác định bởi "kiểm định tài sản") buộc phải lập đơn xin phá sản theo Chương 13. Các chương quan trọng trong bộ luật sửa đổi là các chương sau: Chương 7: được gọi là THANH LÝ, cho phép người nhận ủy thác do tòa chỉ định có các quyền tùy ý phân phối các tài sản giữa các chủ nợ, và dàn xếp tài chính tạm thời. Nói chung, người nhận ủy thác đại diện quyền lợi của các chủ nợ không được bảo đảm. Tuy  nhiên, nếu không có tài sản thì nợ được dỡ bỏ và các chủ nợ không nhận được gì cả. Chương 9: phần bộ luật ít được sử dụng, được thiết kế cho việc điều chỉnh nợ đô thị. Cũng được gọi là tài tổ chức đô thị. Chương 11: TÁI TỔ CHỨC, thông thường bởi một doanh nghiệp cho phép con nợ (được gọi là CON NỢ THUỘC QUYỀN SỞ HỮU nếu không có tên người nhận ủy thác), duy trì hoạt động kiểm soát, trong khi tái cơ cấu nợ và thực hiện thời biểu tái thanh toán có thể chấp nhận cho chủ nợ. Khoản vay của chủ nợ dành cho các con nợ theo Chương 11 thì được phép trong một số điều kiện nhất định.  Chương 12: Khoản dự phòng mới để giải quyết các vụ phá sản nông nghiệp, cho phép các nông trại nhỏ sở hữu gia đình có số nợ dưới 1.5 triệu USD, được trả nợ dựa trên giá thị trường hợp lý của tài sản thế chấp tiền vay. Chương 13: Kế hoạch thanh toán nợ, được gọi là KẾ HOẠCH TRẢ NỢ DẦN THEO TIỀN CÔNG do các cá nhân có thu nhập đều đặn lập ra. Người nợ lập ngân sách trả nợ cho với tòa án, và đồng ý thanh toán từng phần (thấp hơn 100%) nghĩa vụ nợ cho các chủ nợ trong giai đoạn ba đến năm năm, thông thường trong vòng ba năm. Xem COMPOSITION; CRAM-DOWN, DISCHARGE OF BANKRUPTCY; PREFERENCE; PRIORITY OF LIEN; REAFFIRMATION; REDEMPTION, VOIDABLE PREFERENCE.

Phá sản là một quy trình pháp lý liên quan đến việc một cá nhân hay tổ chức không còn chi trả các khoản nợ. Phá sản bắt đầu bằng việc người mắc nợ hoặc đôi khi là chủ nợ đệ đơn đề nghị phá sản. Mọi tài sản của người mắc nợ sẽ được định giá để chi trả một phần cho các khoản nợ. Nhờ vào việc phá sản thành công, người mắc nợ sẽ được giải phóng khỏi nghĩa vụ nợ xảy ra trước khi điền đơn đề nghị phá sản.  Phá sản mang lại cho cá nhân hoặc tổ chức cơ hội để bắt đầu lại một công việc kinh doanh mới bằng việc được miễn trừ nợ trong khi chủ nợ vẫn có cơ hội được hoàn lại một phần cho vay từ việc thanh lý tài sản của người mắc nợ. Trên lý thuyết, việc đệ đơn phá sản có thể có lợi cho toàn nền kinh tế bằng việc mở ra cho các cá nhân, tổ chức một cơ hội kinh doanh khác và cung cấp cho các chủ nợ một phương pháp để nhận lại một phần khoản tiền cho vay. Phá sản ở Mỹ có thể là một trường hợp thuộc một số chương của Đạo luật Phá sản, như là Chương 7 (quy định về thanh lý tài sản), Chương 11 (tái cấu trúc) và Chương 13 (hoàn nợ với điều khoản nợ dưới chuẩn hoặc kế hoạch trả nợ). Điều kiện để được phá sản khác nhau giữa các quốc gia dẫn đến tỷ lệ đệ đơn phá sản thấp hay cao khác nhau phụ thuộc vào việc một cá nhân hay doanh nghiệp có dễ dàng hoàn thành quy trình phá sản hay không.

Mark To Market / Điều Chỉnh Theo Thị Trường, MTM

1. Việc ghi lại thị giá hoặc giá trị của một chứng khoán, danh mục đầu tư hoặc một tài khoản phản ánh giá trị thị trường hiện tại của nó chứ không phải giá trị trong sổ sách. 2. Khi nhắc đến quỹ tương hỗ, MTM là khi chỉ số giá trị tài sản thuần của quỹ được đánh giá cao hơn hầu hết các giá trị thị trường hiện tại. 1. Được thực hiện nhiều nhất với các tài khoản tương lai để đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu kí quỹ. Nếu giá trị thị trường hiện tại khiến cho tài khoản ký quỹ bị giảm xuống dưới mức yêu cầu, người giao dịch sẽ phải đối mặt với yêu cầu tăng đặt cọc. 2. Các quỹ tương hỗ được điều chỉnh theo thị trường hàng ngày tại phiên đóng cửa thị trường, như thế các nhà đầu tư sẽ có ý niệm về chỉ số giá trị tài sản thuần của quỹ.

D Bond / Trái Phiếu D

Thuộc loại trái phiếu tiết kiệm. Trái phiếu D được chính phủ Mỹ phát hành và bán năm 1939 đến tháng 4 năm 1941.

Banking Services / Dịch Vụ Ngân Hàng

Các hoạt động chính của ngân hàng bao gồm: Giữ tiền được an toàn trong khi vẫn cho phép rút tiền khi cần thiết. Phát hành sổ séc mà nhờ đó các hóa đơn được thanh toán, và các dạng thanh toán khác có thể được chuyển phát bằng bưu điện. Cung cấp các khoản vay và vay thế chấp (chủ yếu là các khoản vay để mua nhà, tài sản hoặc kinh doanh). Phát hành thẻ tín dụng. Cho phép giao dịch tài chính tại các chi nhánh hoặc sử dụng máy ATM. Tạo điều kiện thuận lợi cho lệnh duy trì* và các món nợ trực tiếp, nhờ đó việc thanh toán hóa đơn có thể thực hiện tự động. Dàn xếp số tiền chi trội bằng tiền của chính Ngân hàng để đáp ứng mức chi tiêu hàng tháng của khách hàng trong tài khoản hiện hành của họ. Cung cấp thẻ thanh toán tiêu dùng. Cung cấp thẻ séc được đảm bảo bởi chính ngân hàng và được trả trước bởi khách hàng. (*)Lệnh duy trì (standing order): Một lệnh hay điều luật được giữ cho có hiệu lực cho đến khi được thay đổi hay rút lại, đặc biệt các thủ tục trong nghị viện hay trong quân đội.

Marginal Utitily Of Money / Độ Thỏa Dụng Cận Biên Của Tiền

Là tỷ lệ gia tăng thoả dụng của một cá nhân khi ngân sách của riêng người đó (thu nhập) tăng thêm 1 đơn vị.

Banking School / Trường Phái Ngân Hàng

Một tập hợp các ý kiến liên quan đến cuộc tranh luận về quy tắc điều tiết phát hành giấy bạc của ngân hàng Anh trong nửa đầu thế kỷ XIX.

Marginal Utility / Độ Thỏa Dụng Biên

Độ thỏa dụng biên là độ thỏa dụng phụ thêm có được từ việc có thêm một đơn vị của bất kỳ loại hàng hóa nào. Về mặt toán học, có thể biểu thị như sau:  MU = ∆U/∆X  Trong đó U là độ thỏa dụng, X là số lượng hàng hóa và ∆ là lượng thay đổi.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55