Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Basic Principles Of Insurance / Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Bảo Hiểm

Có thể chia các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm thành 5 nguyên tắc sau: 1. Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (Fortuity not certainty) 2. Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (utmost good faith) 3. Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm (insurable interest) 4. Nguyên tắc bồi thường (indemnity) 5. Nguyên tắc thế quyền (subrobgation)

Debt Finance / Tài Trợ Bằng Vay Nợ

Khái niệm này có hai nghĩa riêng biệt nhưng đều liên quan đến việc vay mượn. Khái niệm này để chỉ các công ty đi vay để tài trợ cho các nghiệp vụ của mình. Các chính phủ cũng đi vay để tài trợ cho các hoạt động của mình và để điều chỉnh các hoạt động tổngt thể của nền kinh tế.

Tài Trợ Bằng Vay Nợ (Debt Finance) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Tài Trợ Bằng Vay Nợ (Debt Finance) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Basic Need Philosophy / Triết Lý Nhu Cầu Cơ Bản

Là chiến lược phát triển được thảo luận nhiều trong những năm gần đây. Khác với các lý thuyết tích luỹ cổ điển, nó nhấn mạnh rằng có một số mục cần phải ưu tiên. Đó là (1) Cung cấp các hàng tiêu dùng cơ bản như thức ăn, quần áo và chỗ ở, (2) Các dịch vụ cần thiết như nước, giáo dục, y tế, (3) Quyền có việc làm với thu nhập đủ đảm bảo các nhu cầu cơ bản, (4) Cơ sở hạ tầng đáp ứng cho nhu cầu cơ bản về hàng hoá và dịch vụ và (5) Tham gia vào quá trình ra quyết định. Chiến lược này hướng vào sản xuất. Triết lý này được cả các triết gia bảo thủ và các triết gia cấp tiến ủng hộ. Nó cũng vấp phải các chỉ trích là không đầy đủ và không có gì thực sự là mới mẻ.

Debt Crisis / Khủng Hoảng Nợ

Khủng hoảng nợ nhằm ám chỉ cuộc khủng hoảng nợ ở Châu Mỹ Latinh thời kì đầu những năm 1980 (và một số nước còn bắt đầu từ những năm 1970), thường được biết đến cái tên Thế Kỉ Mất Mát (Lost Decade), khi đó các quốc gia trong khu vực này rơi vào cảnh nợ nước ngoài vượt quá khả năng kiếm tiền và không còn khả năng trả nợ. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nợ này là do vào những năm 60, 70, các nước Châu Mỹ Latinh như Brazil, Argentina và Mexico vay mượn một số tiền lớn từ các nhà cho vay tín dụng quốc tế để thực hiện công nghiệp hóa, đặc biệt là đầu tư vào các chương trình cải thiện và xây dựng cơ sở hạ tầng. Những nước này thời đó có tốc độ tăng trưởng kinh tế rất nhanh vì vậy các nhà cho vay tín dụng rất tin tưởng vào khả năng trả nợ. Giữa năm 1975 và 1982, Châu Mỹ Latinh nợ các ngân hàng thương mại tăng với tốc độ tích lũy 20,4%/năm. Vay mượn tràn lan khiến Mỹ latinh bị nợ nhiều gấp 4 lần từ 75 tỉ đôla vào 1975 đến hơn 315 tỉ đôla vào năm 1983, chiếm tới 50% tổng thu nhập quốc nội của khu vực. Khi nền kinh tế thế giới bước vào thời kì suy thoái thập kỉ 70 và 80, giá dầu tăng đột biến, tạo ra một điểm phá đối với hầu hết các nền kinh tế trong khu vực. Các nước đang phát triển còn nhận thấy việc thiếu trầm trọng về tính lỏng. Các nước xuất khẩu dầu lửa - có lượng tiền mặt dồi dào sau khi giá dầu tăng năm 73-74 - đã đầu tư tiền của mình vào các ngân hàng quốc tế, điều đó tạo ra một phần vốn mà các ngân hàng sử dụng để cho các nước Mỹ Latinh vay. Khi lãi suất gia tăng ở Mỹ và Châu Âu năm 1979, các khoản nợ phải trả cũng tăng cao hơn khiến việc trả nợ đối với các nước vay mượn trở nên khó khăn. Trong khi tổng số nợ tích lũy dâng lên ngập đầu qua các năm, cuộc khủng hoảng bắt đầu khi các thị trường vốn quốc tế nhận ra rằng Châu Mỹ Latinh không có khả năng trả nợ. Điều này xảy ra vào tháng 8 năm 1982 khi Bộ trưởng tài chính Mexico Jesus Silva-Herzog tuyên bố rằng nước này không có khả năng trả nợ. Bị tỉnh giấc bởi tuyên bố vỡ nợ của Mexico, hầu hết các ngân hàng thương mại giảm mạnh hoặc ngừng hẳn việc cho các nước Mỹ Latinh vay. Bởi vì hầu hết các khoản vay của Mỹ Latin và vay ngắn hạn, cuộc khủng hoảng xảy ra khi các khoản vay tiếp tục của họ bị từ chối. Hàng tỉ đôla được vay trước đó giờ đã đến hạn, và các nước này có lẽ đã trả được nếu họ tiếp tục được vay thêm để đập vào. Để đối phó với cuộc khủng hoảng, hầu hết các nước Mỹ Latinh đã từ bỏ chiến lược Công Nghiệp Hóa Thay Thế Nhập Khẩu và thay vào đó bằng chiến lược Công Nghiệp Hóa Hướng Ra Xuất Khẩu. Các nguồn vốn rất khổng lồ chảy ra bên ngoài đặc biệt là chảy sang Mỹ, đã được sử dụng để làm tỉ giá hối đoái giảm, từ đó làm tăng tỉ suất lợi nhuận thực tế.

Basic Exports / Hàng Xuất Khẩu Cơ Bản

Tên gọi của các hàng xuất khẩu sơ chế của các nước kém phát triển.

Market Value Ratios / Các Chỉ Số Giá Trị Thị Trường

Có thể rút ra nhiều kết luận có ý nghĩa từ việc phân tích kỹ bảng cân đối kế toán và kết quả kinh doanh. Tuy nhiên, có một đặc tính rất quan trọng của doanh nghiệp lại không thể tìm thấy trong các báo cáo kế toán: giá trị thị trường của doanh nghiệp. Giá thị trường. Giá thị trường của một cổ phiếu phổ thông là mức giá mà người mua và người bán xác lập khi thực hiện giao dịch cổ phiếu đó. Giá trị thị trường của một doanh nghiệp được tính bằng giá thị trường một cổ phiếu nhân với tổng số cổ phiếu của doanh nghiệp. Đôi khi, cụm từ ``giá thị trường hợp lý'' được sử dụng để mô tả giá thị trường. Giá thị trường hợp lý là mức tại đó cổ phần phổ thông được chuyển từ người sẵn sàng mua sang người sẵn sàng bán, và cả hai đều có đầy đủ các thông tin liên quan cần thiết. Trong một thị trường chứng khoán hiệu quả, giá thị trường phản ánh đầy đủ mọi yếu tố liên quan tới doanh nghiệp. Bởi vậy, giá thị trường thể hiện giá trị thực của các tài sản cơ sở của doanh nghiệp. Người phân tích tài chính xây dựng các chỉ số để lọc thông tin độc lập với qui mô của doanh nghiệp.   Chỉ số giá-thu nhập (P/E). Chỉ số P/E được tính bằng cách chia giá thị trường hiện tại cho thu nhập với một cổ phiếu phổ thông trong năm gần nhất.   Thu nhập cổ tức. Thu nhập cổ tức được tính qui đổi mức thanh toán cổ tức lần gần nhất về thu nhập cổ tức thường niên và chia cho giá thị trường hiện tại. Thu nhập cổ tức liên quan tới nhận định của thị trường về tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng cao về cơ bản sẽ có thu nhập cổ tức thấp.   Giá trị thị trường-ghi sổ (M/B) và chỉ số Q. Chỉ số giá trị thị trường-ghi sổ được tính bằng cách chia giá thị trường một cổ phiếu cho giá trị ghi sổ của một cổ phiếu. Còn có một chỉ số khác, gọi là Tobin's Q, rất giống với chỉ số M/B. Chỉ số Q chia giá trị thị trường của tất cả các khoản nợ và vốn cổ phần của doanh nghiệp cho giá trị thay thế toàn bộ tài sản. Khác biệt giữa chỉ số Q và chỉ số M/B nằm ở chỗ chỉ số Q sử dụng giá trị thị trường của các khoản nợ và vốn cổ phần. Chỉ số này cũng thường sử dụng giá trị thay thế tài sản chứ không phải giá trị chi phí quá khứ. Doanh nghiệp có chỉ số Q lớn hơn 1 sẽ có động lực đầu tư cao hơn doanh nghiệp có chỉ số Q nhỏ hơn 1. Doanh nghiệp có chỉ số Q cao thường là doanh nghiệp hấp dẫn nhà đầu tư và có năng lực cạnh tranh tốt.

Basic Concepts About Securities Market / Khái Niệm Cơ Bản Thị Trường Chứng Khoán

1. Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán. 2. Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. 3. Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành.  4. Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng. 5. Quyền mua cổ phần là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành kèm theo đợt phát hành cổ phiếu bổ sung nhằm bảo đảm cho cổ đông hiện hữu quyền mua cổ phiếu mới theo những điều kiện đã được xác định. 6. Chứng quyền là loại chứng khoán được phát hành cùng với việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người sở hữu chứng khoán được quyền mua một số cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong thời kỳ nhất định. 7. Quyền chọn mua, quyền chọn bán là quyền được ghi trong hợp đồng cho phép người mua lựa chọn quyền mua hoặc quyền bán một số lượng chứng khoán được xác định trước trong khoảng thời gian nhất định với mức giá được xác định trước. 8. Hợp đồng tương lai là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán nhất định với một số lượng và mức giá nhất định vào ngày xác định trước trong tương lai. 9. Cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ năm phần trăm trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành. 10. Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán. 11. Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán. 12. Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức sau đây:a) Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet;b) Chào bán chứng khoán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp;c) Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định. 13. Tổ chức phát hành là tổ chức thực hiện phát hành chứng khoán ra công chúng. 14. Tổ chức bảo lãnh phát hành là công ty chứng khoán được phép hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán và ngân hàng thương mại được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận bảo lãnh phát hành trái phiếu theo điều kiện do Bộ Tài chính quy định. 15. Tổ chức kiểm toán được chấp thuận là công ty kiểm toán độc lập thuộc danh mục các công ty kiểm toán được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận kiểm toán theo điều kiện do Bộ Tài chính quy định. 16. Bản cáo bạch là tài liệu hoặc dữ liệu điện tử công khai những thông tin chính xác, trung thực, khách quan liên quan đến việc chào bán hoặc niêm yết chứng khoán của tổ chức phát hành. 17. Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán. 18. Thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán.  19. Kinh doanh chứng khoán là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán. 20. Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng. 21. Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình. 22. Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng. 23. Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán. 24. Lưu ký chứng khoán là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứng khoán. 25. Đăng ký chứng khoán là việc ghi nhận quyền sở hữu và các quyền khác của người sở hữu chứng khoán. 26. Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là việc công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện quản lý theo uỷ thác của từng nhà đầu tư trong mua, bán, nắm giữ chứng khoán. 27. Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ. 28. Quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng. 29. Quỹ thành viên là quỹ đầu tư chứng khoán có số thành viên tham gia góp vốn không vượt quá ba mươi thành viên và chỉ bao gồm thành viên là pháp nhân. 30. Quỹ mở là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng phải được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư. 31. Quỹ đóng là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư. 32. Thông tin nội bộ là thông tin liên quan đến công ty đại chúng hoặc quỹ đại chúng chưa được công bố mà nếu được công bố có thể ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán của công ty đại chúng hoặc quỹ đại chúng đó. 33. Người biết thông tin nội bộ là:a) Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc của công ty đại chúng; thành viên Ban đại diện quỹ đại chúng;b) Cổ đông lớn của công ty đại chúng, quỹ đại chúng;c) Người kiểm toán báo cáo tài chính của công ty đại chúng, quỹ đại chúng;d) Người khác tiếp cận được thông tin nội bộ trong công ty đại chúng, quỹ đại chúng;đ) Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và người hành nghề chứng khoán của công ty;e) Tổ chức, cá nhân có quan hệ hợp tác kinh doanh, cung cấp dịch vụ với công ty đại chúng, quỹ đại chúng và cá nhân làm việc trong tổ chức đó;g) Tổ chức, cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp có được thông tin nội bộ từ những đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản này. 34. Người có liên quan là cá nhân hoặc tổ chức có quan hệ với nhau trong các trường hợp sau đây:a) Cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, vợ, chồng, con, con nuôi, anh, chị em ruột của cá nhân;b) Tổ chức mà trong đó có cá nhân là nhân viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, chủ sở hữu trên mười phần trăm số cổ phiếu lưu hành có quyền biểu quyết;c) Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác của tổ chức đó;d) Người mà trong mối quan hệ với người khác trực tiếp, gián tiếp kiểm soát hoặc bị kiểm soát bởi người đó hoặc cùng với người đó chịu chung một sự kiểm soát; đ) Công ty mẹ, công ty con;e) Quan hệ hợp đồng trong đó một người là đại diện cho người kia.

Debt / Nợ

Trách nhiệm hoặc khoản tiền nợ nảy sinh do vay mượn về tài chính hay nhận các hàng hoá hoặc dịch vụ dưới dạng tín dụng tức là sẽ trả sau.

Market Value / Giá Trị Thị Trường

Giá trị thị trường có thể được hiểu như sau: 1. Giá niêm yết tại đó nhà đầu tư mua và bán cổ phiếu phổ thông hoặc trái phiếu tại một thời điểm định sẵn. Còn được gọi là "giá thị trường." 2. Giá trị vốn hóa thị trường cộng với giá trị thị trường của các khoản nợ. Đôi khi còn được hiểu là "tổng giá trị thị trường." Đối với chứng khoán, giá trị thị trường thường khác so với giá trị ghi sổ bởi vì thị trường tính cả tiềm tăng phát triển trong tương lai của chứng khoán. Hầu hết các nhà đầu tư sử dụng kĩ thuật phân tích cơ bản để lựa chọn loại cổ phiếu tốt đều xem xét giá trị thị trường của công ty và sau đó quyết định xem giá trị thị trường là hợp lí hay nó đang có giá trị thấp so với giá trị ghi sổ, so với giá trị tài sản thuần hoặc so với một số cách đo khác.

Basel Accord / Thoả Ước Basel

Thoả ước Basel (hay Basle) là thoả ước về quản lý ngân hàng, bao gồm các đề xuất về luật là qui định quản chế ngân hàng. Basel I và Basel II do uỷ ban Quản chế ngân hàng Basel (BCBS) - Thuỵ Sĩ ban hành. Thoả ước này có tên là thoả ước Basel vì BCBS là tổ chức giữ vai trò thư ký ngân hàng thanh toán quốc tế Basel và uỷ ban này thường xuyên nhóm họp tại đó. Thoả ước này phần lớn được áp dụng tại Châu Âu, nhưng nó còn được nhiều nước khác trên thế giới sử dụng với vai trò như một chuẩn mực quốc tế cho ngành tài chính - ngân hàng. Gần đây, ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng bắt đầu có những bước đi cụ thể để áp dụng chuẩn mực này vào hệ thống ngân hàng Việt Nam, ví dụ như việc yêu cầu các ngân hàng thương mại phải đảm bảo được tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%. Uỷ ban Basel bao gồm thành viên đến từ ngân hàng trung ương và các cơ quan quản chế ngân hàng của các nước G10, thêm một số nước khác (thường có Luxembourg và Tây Ban Nha). Uỷ ban này không có thẩm quyền thực thi các đề xuất của mình, dù cho các quốc gia thành viên (và rất nhiều nước khác) có xu hướng thi hành chính sách của Ủy ban. Điều này có nghĩa là các đề xuất của Uỷ ban này được thực thi một cách gián tiếp thông qua luật pháp và các qui định quản lý của từng quốc gia, vì vậy đôi khi, giữa thời điểm đưa ra đề xuất cho đến khi nó được thực hiện thường có độ chênh về thời gian. Vấn đề trọng tâm trong Thoả ước Basel liên quan đến mức độ an toàn vốn - nhằm đảm bảo rằng các định chế tài chính luôn duy trì một số vốn cần thiết (vốn cấp I và vốn cấp II) để tự bảo vệ mình trước những rủi ro không lường trước được. Basel I được ban hành năm 1988, đưa ra những nguyên tắc cơ bản, ví dụ như về rủi ro tín dụng. Thoả ước này sau đó được cập nhật lại năm 1996, bao quát thêm cả rủi ro thị trường và được làm rõ cũng như mở rộng thêm ở một số khía cạnh khác. Basel I đã được hoàn thiện vào 2004 sau một quá trình bàn bạc, tham vấn kéo dài. Mục tiêu của nó là làm cho những thước đo tài chính trở nên nhạy cảm hơn với rủi ro, phân mục cũng như định lượng một vài nhóm rủi ro. Thoả ước Basel được đặt tên theo thành phố Basel của Thuỵ Sĩ. Trong những ấn bản đầu tiên, đôi khi người ta dùng từ tiếng Anh "Basle", hoặc từ tiếng Pháp "Bâle", những tên này vẫn còn được sử dụng trong nhiều ấn bản hiện nay. Gần đây, uỷ ban này đã lấy lại tên ban đầu khá phổ biến trong tiếng Đức là Basel. Đó là lý do vì sao chúng ta có thể bắt gặp nhiều tên gọi khác nhau của thoả ước này.a

Một bộ các thỏa ước do uỷ ban Quản chế ngân hàng Basel (BCBS) ban hành, đưa ra các đề xuất về các quy định ngân hàng liên quan đến rủi ro vốn, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Mục đích của các hiệp định là đảm bảo rằng các tổ chức tài chính có đủ vốn trong tài khoản để đáp ứng các nghĩa vụ và hấp thụ các khoản lỗ bất ngờ. Hiệp định Basel đầu tiên, được gọi là Basel I, được ban hành năm 1988 và tập trung vào sự an toàn vốn của các tổ chức tài chính. Rủi ro an toàn vốn, (rủi ro mà một tổ chức tài chính sẽ bị tổn thất nếu thua lỗ bất ngờ), phân loại tài sản của tổ chức tài chính thành năm loại rủi ro (0%, 10%, 20%, 50%, 100%). Các ngân hàng hoạt động quốc tế được yêu cầu có hệ số rủi ro từ 8% trở xuống. Hiệp định Basel thứ hai, được gọi là Basel II, được hoàn thiện vào năm 2015. Nó tập trung vào ba lĩnh vực chính, bao gồm yêu cầu vốn tối thiểu, đánh giá giám sát và kỷ luật thị trường, được gọi là ba trụ cột. Trọng tâm của thỏa thuận này là tăng cường các yêu cầu ngân hàng quốc tế cũng như giám sát và thực thi các yêu cầu này.

Market Socialism / Chủ Nghĩa Xã Hội Theo Cơ Chế Thị Trường

Là một hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa nhưng lại nhường quyền điều hành các hoạt động hàng ngày của nền kinh tế cho cơ chế thị trường.

Debt / Khoản Nợ

Là lượng tiền mà một cá nhân hoặc một công ty nợ một cá nhân hoặc một tổ chức khác. Các khoản nợ phát sinh từ việc vay tiền để mua hàng hóa dịch vụ hoặc các tài sản tài chính khác. Một khoản nợ được tạo ra khi một người cho vay đồng ý cho người đi vay vay một lượng tài sản nhất định. Trong xã hội ngày nay người cho vay thường yêu cầu người đi vay trả lãi trong thời gian vay. Có rất nhiều loại nợ khác nhau trong đó bao gồm khoản nợ bằng tiền, bằng trái phiếu hoặc bằng kì phiếu. Nợ, đặc biệt là các khoản nợ lớn có thể được thực hiện thông qua thế chấp hoặc bảo đảm bằng chính tài sản của người đi vay và do vậy mà chủ nợ sẽ có quyền đối với tài sản đó trong trường hợp người đi vay không có khả năng trả nợ. Nợ tiền là hình thức nợ phổ biến nhất trong đó người cho vay cam kết sẽ cho vay một lượng tiền nhất định trong một khoảng thời gian cố đinh, và sẽ được hoàn trả vào một ngày xác định. Lãi đối với các khoản vay được tính bằng tỉ lệ phần trăm của khoản nợ ban đầu, thời gian tính là theo năm. Trái phiếu là một loại chứng khoán nợ được phát hành bởi một số cơ quan nhất định như là các công ty hoặc chính phủ. Người nắm giữ trái phiếu sẽ được nhận lại số tiền ban đầu cho vay cũng như tiền lãi trong khoản thời gian cho vay. Khi một công ty cần vay tiền họ sẽ phát hành trái phiếu cho các nhà đầu tư tại các thị trường. Trái phiếu thường có một thời hạn nhất định, thường tính bằng năm. Đến ngày trái phiếu đáo hạn thì người nắm giữ trái phiếu sẽ đựơc hoàn trả đầy đủ số tiền. Lãi suất có thể được trả vào cuối kì hạn hoặc trả theo định kì cho tới khi trái phiếu đáo hạn. Trái phiếu thường được mua bán ở thị trường trái phiếu và được sử dụng rộng rãi như là một công cụ an toàn hơn so với cổ phiếu.

Market Share / Thị Phần

Thị phần là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp chiếm lĩnh. Thị phần = doanh số bán hàng của doanh nghiệp / Tổng doanh số của thị trường hay Thị phần = Số sản phẩm bán ra của doanh nghiệp / Tổng sản phẩm tiêu thụ của thị trường. Thị phần nói rõ phần sản phẩm tiêu thụ của riêng doanh nghiệp so với tổng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường. Để giành giật mục tiêu thị phần trước đối thủ, doanh nghiệp thường phải có chính sách giá phù hợp thông qua mức giảm giá cần thiết, nhất là khi bắt đầu thâm nhập thị trường mới. Bên cạnh đó, còn xem xét tới thị phần tương đối ( Relative market share ) Thị phần tương đối = Phần doanh số của doanh nghiệp / Phần doanh số của đối thủ cạnh tranh hay Thị phần tương đối = Số sản phẩm bán ra của doanh nghiệp / Số sản phẩm bán ra của đối thủ cạnh tranh. Nếu thị phần tương đối lớn hơn 1, thì lợi thế cạnh tranh thuộc về doanh nghiệp Nếu thị phần tương đối nhỏ hơn 1, thì lợi thế cạnh tranh thuộc về đối thủ Nếu thị phần tương đối bằng 1, thì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp và của đối thủ như nhau.

Base Rate / Lãi Suất Gốc

Sau khi bãi bỏ những hiệp định về tiền gửi và tiền vay năm 1971, CÁC NGÂN HÀNG THANH TOÁN BÙ TRỪ CỦA ANH đã áp dụng tập quán xác định và thông báo "lãi suất gốc". Xem COMPETITION AND CREDIT CONTROL.

Market Segmentation / Phân Đoạn Thị Trường

Market Segmentation - Phân đoạn thị trường hay phân khúc thị trường. Phân đoạn thị trường dùng để chỉ một nhóm người hoặc tổ chức có những đặc điểm chung nhất định, từ đó có nhu cầu tiêu dùng giống nhau. Việc phân đoạn thị trường chính là việc phân chia thị trường thành những phân khúc riêng biệt và đối xử như nhau đối với phân khúc đó. Đối với một phân đoạn thị trường thực sự đồng nhất về nhu cầu và  thái độ, quan điểm, nhà kinh doanh có thể áp dụng 1 chiến lược Marketing Mix (bao gồm: Sản phẩm, dịch vụ - Product, Giá – Price, Phân phối – Place và các biện pháp xúc tiến hỗ trợ - Promotion) một cách cụ thể và chính xác nhất. Các yêu cầu cần có để phân đoạn thị trường thành công: Tính đồng nhất: Các đối tượng khách hàng trong cùng một phân đoạn thị trường có sự đồng nhất về nhu cầu và nhận định Tính riêng biệt: Các phân đoạn thị trường khác nhau có những đặc điểm khác nhau Có thể nhận biết được: Các phân đoạn thị trường phải đo lường được và nhận biết được Có thể thâm nhập và hoạt động hiệu quả: Sau khi chọn được phân đoạn thị trường thích hợp, nhà kinh doanh áp dụng các biện pháp marketing và có thể thâm nhập và kinh doanh hiệu quả trong đoạn thị trường đó Phân đoạn thị trường phải đủ lớn để sinh lợi nhuận. Những tiêu chuẩn này có thể tổng kết bằng từ DAMAS: D – Differential, A – Actionable, M – Measurable, A – Accessible, S - Substantial

Base Period / Giai Đoạn Gốc

Một thời điểm được dùng để tham khảo khi so sánh với giai đoạn sau.

Debreu Gerard / (1921- 2004)

Nhà kinh tế toán học người Mỹ gốc, Pháp, người giành giải Nobel về kinh tế học năm 1983 nhờ công trình nghiên cứu về thuyết "Cân bằng tổng thể". Debreu đã xem xét chi tiết vấn đề mà SMITH và WALRAS nêu ra, cụ thể là một hệ thống thị trường phi tập trung có thể đem lại sự phối hợp mong muốn của các kế hoạch cá nhân như thếnào. Trong nghiên cứu cùng với ARROW, ông đã chứng minh được sự tồn tại của các giá cả tạo ra cân bằng, bằng cách đó khẳng định logic trong quan điểm của SMITH - WALRAS. Debreu đã trả lưòi được 2 vấn đề tiếp theo trong lĩnh vực này. Thứ nhấtt ông xác định được các điều kiện mà BÀN TAY VÔ HÌNH của NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG sẽ đảm bảo HIỆU QUẢ PHÂN PHỐI. Thứ hai, ông đã phân tích vấn đề ổn định cân bằng của một nền kinh tế thị trường để chỉ ra rằng trong các nền kinh tế lớn có nhiều tác nhân thị trường thì cân bằng thị trường có thể ổn định được. Cuốn sách chính của ông HỌC THUYẾT VỀ GIÁ TRỊ (1959) gây được tiếng vang lớn vì tính toàn thể và cách tiếp cận phân tích vấn đề. Đối với Debreu, một mô hình cân bằng tổng thể như thế có thể hoà nhập với lý thuyết phân bổ, lý thuyết về vốn và lý thuyết hành vi trong điều kiện không chắc chắn.

Debit Card / Thẻ Ghi Nợ

Thẻ ghi nợ là thẻ điện tử do một ngân hàng phát hành cho phép khách hàng có thể rút tiền từ tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc có thể vay với một hạn mức nhất định để chi trả cho các hàng hoá và dịch vụ mà anh ta mua. Về mặt hình thức thì đây là một tấm thẻ bằng nhựa tương tự giống như thẻ tín dụng tuy nhiên chức năng của nó thì lại giống như việc kí một tờ séc vì chủ thẻ có thể rút tiền trực tiếp từ tài khoản của họ. Một số thẻ ghi nợ kiểu này còn được gọi là thẻ séc. Về quy trình sử dụng thẻ như sau : Thẻ ghi nợ của khách hàng sẽ được đưa qua bộ phận đọc thẻ và chủ thẻ thường phải nhập số lượng giao dịch trước khi nhập mã số pin. Thường thì sẽ phải chờ để dịch vụ chuyển tiền điện tử tại điểm bán hàng (Electronic Funds Transfer at Point of Sale) kết nối với hệ thống máy tính ( thường qua đường điện thoại hoặc mobile) để chứng nhận và cho phép thực hiện giao dịch. Lợi ích lớn nhất của loại thẻ này là nó mang tới sự thuận lợi và an toàn. Cùng với việc giúp cho khách hàng có thể rút tiền vào bất cứ lúc nào, thẻ này còn giảm các thủ tục có liên quan đến việc ký séc như phải xuất trình chứng minh thư hay là trả các loại phí có liên quan. Thẻ ghi nợ cũng là một cách thanh toán an toàn hơn do tài khoản của bạn bị mã khoá và chỉ có thể tiếp cận tài khoản này nếu nhập đúng mã số pin, trong khi đó thì séc thì rất dễ bị mất.  Ở nhiều quốc gia thì thẻ ghi nợ được sử dụng rất phổ biến với nhiều mục đích khác nhau. Giống như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ thường được sử dụng vào mục đích mua hàng qua điện thoại hoặc qua mạng. Vào các dịp mua sắm lớn như giáng sinh, vì khối lượng giao dịch rất lớn nên việc sử dụng thẻ ghi nợ là tối ưu để tránh phải xếp hàng chờ quá lâu.

Market Price Of Risk / Lợi Tức Bù Rủi Ro Thị Trường

Đây là mức lợi tức chênh lệch giữa kỳ vọng lợi suất của danh mục thị trường so với kỳ vọng lợi suất của tài sản phi rủi ro. Lợi tức bù rủi ro thị trường = E(rM) - rf Mức chênh lệch lợi tức này là một phần nội dung của mô hình CAPM.

Barter Economy / Nền Kinh Tế Hàng Đổi Hàng

Nền kinh tế mà hàng hoá và dịch vụ được thực hiện thông qua việc ĐỔI HÀNG, điều đó dẫn tới rất ít chuyên môn hoá hoặc phân công lực lượng lao động do yêu cầu của sự trùng lặp ý muốn.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55