Demand For Inflation / Cầu Đối Với Lạm Phát
Một khái niệm cho rằng có những khoản thu lợi tiềm tàng đối với một số nhóm người nào đó nhờ các chính sách tăng lạm phát.
Bid / Đấu Thầu
Đấu thầu là một quá trình chủ đầu tư lựa chọn được một nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của mình. Trong nền kinh tế thị trường, người mua tổ chức đấu thầu để người bán (các nhà thầu) cạnh tranh nhau. Mục tiêu của người mua là có được hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng và chi phí thấp nhất. Mục đích của nhà thầu là giành được quyền cung cấp hàng hóa dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể. Có nhiều hình thức lựa chọn nhà thầu - Đấu thầu rộng rãi: Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia. Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thời gian dự thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng trước khi phát hành hồ sơ mời thầu. Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu được áp dụng trong đấu thầu. - Đấu thầu hạn chế: Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà thầu (tối thiểu là 5) có đủ năng lực tham dự. Danh sách nhà thầu tham dự phải được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền chấp thuận. - Chỉ định thầu: Chỉ định thầu là hình thức chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu để thương thảo hợp đồng. - Chào hàng cạnh tranh: Hình thức này được áp dụng cho những gói thầu mua sắm hàng hóa có giá trị dưới 2 tỷ đồng. Mỗi gói thầu phải có ít nhất 3 chào hàng của 3 nhà thầu khác nhau trên cơ sở yêu cầu chào hàng của Bên mời thầu. Việc gửi chào hàng có thể được thực hiện bằng cách gửi trực tiếp, bằng fax, bằng đường bưu điện hoặc bằng các phương tiện khác. Gói thầu áp dụng hình thức này thường có sản phẩm cụ thể, đơn vị trúng thầu thường là đơn vị đưa ra giá có giá trị thấp nhất, không thương thảo về giá. - Mua sắm trực tiếp: Được áp dụng trong trường hợp bổ sung hợp đồng cũ đã thực hiện xong (dưới một năm) hoặc hợp đồng đang thực hiện với điều kiện chủ đầu tư có nhu cầu tăng thêm số lượng hàng hóa hoặc khối lượng công việc mà trước đó đã được tiến hành đấu thầu, nhưng phải đảm bảo không được vượt mức giá hoặc đơn giá trong hợp đồng đã ký trước đó. Trước khi ký hợp đồng, nhà thầu phải chứng minh có đủ năng lực về kỹ thuật và tài chính để thực hiện gói thầu. - Tự thực hiện: Hình thức này chỉ được áp dụng đối với các gói thầu mà chủ đầu tư có đủ năng lực thực hiện trên cơ sở tuân thủ quy định Quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng. - Mua sắm đặc biệt: Hình thức này được áp dụng đối với các ngành hết sức đặc biệt mà nếu không có những quy định riêng thì không thể đấu thầu được.
Một đề nghị trả mà một cá nhân hay tổ chức đưa ra để sở hữu hoăc kiểm soát tài sản, các đầu vào, hàng hoá hay dịch vụ.
Bias / Độ Lệch
Mức độ mà giá trị kỳ vọng của một ĐOÁN SỐ (ƯỚC LƯỢNG SỐ) khác so với giá trị tham số thực của nó. Xem (BEST LINEAR UNBIASED ESTIMATOR).
Demand Curve / Đường Cầu
Demand Curve biểu diễn đồ thị các số lượng của một hàng hoá hay nguồn lực sẽ được mua trong một phạm vi các mức giá ở một thời điểm cụ thể khi giá các hàng hoá khác cũng như thu nhập không đổi, là tổ hợp đường cầu của mọi người thể hiện tổng hàng hoá mà người tiêu dùng sẵn lòng mua ở mỗi mức giá. Mối quan hệ giữa giá và lượng hàng hóa con người muốn mua được các nhà kinh tế gọi là đường cầu. Mối quan hệ này nghịch chiều bởi vì trong hầu hết trường hợp khi giá tăng, lượng hàng hóa được bán ra sẽ giảm đi. Có rất nhiều các khác nhau để miêu tả mối quan hệ giữa giá và lượng hàng hóa người ta muốn mua. Theo toán học, có thể biểu hiện mối quan hệ giữa lượng hàng bán và cầu theo hàm sau: Qd = f (giá, và các nhân tố bất biến khác) Để hình dung rõ hơn mối quan hệ giữa giá và cầu, hãy xem xét bảng dưới đây (widget là một sản phẩm tưởng tượng) A Demand Curve Price ofWidgets Number of WidgetsPeople Want to Buy $1.00 100 $2.00 90 $3.00 70 $4.00 40 Giá và cầu được minh họa bởi đồ thị dưới đây. Nhìn vào đồ thị minh họa dễ thấy đường cầu dốc xuống, muốn bán được nhiều sản phẩm thì giá phải hạ, và ngược lại khi giá tăng số sản phẩm bán được sẽ ít đi.
Đường Cầu (Demand Curve) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Đường Cầu (Demand Curve) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Hedge Clause / Điều Khoản Bảo Hộ
Đây là điều không được khẳng định thường thấy trong văn kiện thị trường, các bản báo cáo nghiên cứu chứng khoán hay văn bản khác phải làm để đánh giá đầu tư, nó có ý miễn cho người viết trách nhiệm về tính chính xác của thông tin có được từ nguồn đáng tin cậy. Bất chấp các điều khoản này có thể làm giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý, người viết vẫn có thể chịu trách nhiệm vì tính cẩu thả khi sử dụng thông tin. Ngôn ngữ điển hình cho điều khoản bảo hộ là thông tin được cung cấp ở đây là thông tin lấy được từ các nguồn đáng tin cậy nhưng tính xác thực thì không được đảm bảo.
Beveridge Report / Báo Cáo Beveridge
Bản báo cáo về chính sách xã hội của Anh có nhan đề "Bảo hiểm xã hội và các dịch vụ liên kết" do Huân tước William Beveridge chuẩn bị cho chính quyền liên minh thời chiến năm 1942.
Kalman Filtering / Phép Lọc Kalman
Đây là phương pháp tối ưu để dự đoán CÁC BIẾN SỐ NỘI SINH và cập nhật những THÔNG SỐ ƯỚC LƯỢNG trong các phương trình dự đoán.
Beveridge / (1879-1963)
Beveridge là người sáng lập ra trường phái an sinh xã hội Lord Beveridge: Theo trường phái này, hệ thống an sinh xã hội hoạt động dựa trên ba nguyên tắc: Bao phủ toàn diện (mọi người lần đầu được hưởng an sinh xã hội); mức chi trả tương đương và quản lý tập trung, thống nhất.
Hedge - Hedging / Phòng Hộ Giá - Bảo Hộ Giá
Chiến lược dùng để bù đắp lại rủi ro đầu tư. Một bảo hộ toàn hảo là một bảo hộ loại bỏ khả năng kiếm lời lẫn thua lỗ trong tương lai. Thí dụ cổ đông rất lo âu về giá chứng khoán sụt, họ có thể lập rào cản bảo hộ các chứng khoán bằng cách mua Put Option về chứng khoán hay bán call option. Một người nào đó có 100 cổ phần chứng khoán XYZ đang bán với giá $70 cổ phần, có thể bảo hộ vị thế của mình bằng cách mua put option cho phép ông ta quyền được bán 100 cổ phần với giá $70 vào bất cứ thời điểm nào trong vòng vài tháng kế tiếp. Nhà đầu tư này có thể phải trả một số tiền nào đó gọi là phí mua option để có quyền này. Nếu chứng khoán XYZ trong thời gian này bị rớt giá, nhà đầu tư có thể thực hiện option, có nghĩa là bán chứng khoán với giá $70 theo đó bảo vệ được giá $70 cho các chứng khoán XYZ. Các cổ đông cùng có chứng khoán XYZ cũng có thề bảo hộ vị thế của họ bằng cách bán Call Option. Trong việc mua bán này, ông ta bán quyền để mua chứng khoán XYZ với giá $70 cổ phần cho vài tháng tới . Đổi lại ông ta nhận được phí mua bán option. Nếu chứng khoán XYZ rớt giá, lợi tức có từ phí option sẽ bù lại khoảng rớt giá của chứng khoán. Bán khống (bán chứng khoán vay mượn) là cách khác được sử dụng rộng rãi trong kỹ thuật bảo hộ giá. Nhà đầu tư thường cố gắng bảo hộ giá chống lại lạm phát bằng mua tài sản vì nó tăng giá nhanh hơn lạm phát. Các công ty thương mại lớn muốn bảo đảm giá họ sẽ nhận hay chi trả một loại hàng hoá, sẽ bảo hộ vị thế của họ bằng cách mua và bán trong thị trường hợp đồng futures. Thí dụ Hershay's công ty socola sẽ bảo hộ nguồn cung cấp cacao trong thị trường hợp đồng futures để giới hạn rủi ro do giá cacao tăng lên.
Demand - Pull Inflation / Lạm Phát Do Cầu Kéo
Sự gia tăng bền vững của tổng cầu dẫn đến sự gia tăng bền vững của mức giá chung.
Beta / Chỉ Số Beta
Chỉ số tính sự biến động lợi tức của một cổ phiếu cùng với sự biến động lợi tức của toàn bộ thị trường chứng khoán.
Kaldor - Hicks Test / Kiểm Định Kaldor - Hicks
Kiểm định này được Kaldor và Hicks đưa ra trong các bài báo được in ở Tạp chí Kinh tế năm 1939. Xem COMPENSATION TESTS.
Hedge / Bảo Đảm
Trong tài chính, Hedge (bảo đảm) là một loại đầu tư được thực hiện để làm giảm hoặc loại trừ rủi ro xảy đến với một loại đầu tư khác. Nghiệp vụ bảo đảm (Hedging) là một chiến lược tài chính được tạo ra để làm giảm thiểu tới mức thấp nhất rủi ro xảy đến đối với loại chứng khoán nào đó, trong khi vẫn đảm bảo được lợi nhuận khi thực hiện thương vụ. Thông thường một người thực hiện việc bảo đảm được gọi là Hedger sẽ đầu tư vào loại chứng khoán mà anh ta tin rằng giá trên thị trường của nó tương đối thấp so với giá thực tế lẽ ra phải trả, và kết hợp với việc thực hiện mua bán theo kiểu Short Sales (tra cứu thêm trong danh mục thuật ngữ) đối với một loại hay các loại chứng khoán khác. Việc thực hiện đồng thời cả 2 nghiệp vụ sẽ giúp anh ta cân bằng nếu có 1 trong 2 nghiệp vụ gặp phải rủi ro do giá chứng khoán tăng lên hay giảm xuống. Từ đó hedger không cần quan tâm xem giá cả của toàn bộ thị trường lên xuống ra sao, anh ta chỉ quan tâm đến loại chứng khoán anh ta đã mua lên hay xuống bao nhiêu thôi. Người đi tiên phong trong lý thuyết Hedging là Holbrook Working, ông gọi đây là chiến lược "đầu cơ vào cơ sở". Cơ sở hay là "basis" là mức chênh lệch giữa giá lý thuyết và giá thực tế của chứng khoán (hoặc giữa giá giao ngay và giá kỳ hạn). Một vài loại rủi ro là đặc tính vốn có của ngành kinh doanh. Ví dụ giá dầu lên xuống là rất tự nhiên đối với ngành khai thác và lọc dầu. Một số ngành nghề cũng có thể gặp rủi ro do đối thủ cạnh tranh, do thị trường, hoặc do thiên tai. Một cách đảm bảo Hedging khá phổ biến là mua bảo hiểm. Cách Hedge này là cách khá cổ điển, còn được gọi là "pairs trade" (Thương mại cặp đôi) vì đây là việc buôn bán dựa trên một cặp chứng khoán có liên quan. Khi các nhà đầu tư ngày càng trở nên tinh vi hơn với các công cụ tính toán đa dạng trong tay thì các loại Hedge cũng ngày càng tăng. Nói chung tất cả các chiến lược nhằm bảo đảm theo cách Hedge đều tìm kiếm phần chênh lệch giữa giá thị trường và giá lí thuyết của tài sản và cố gắng tăng lợi nhuận khi giá cả thay đổi.
Demand - Deficient Unemployment / Thất Nghiệp Do Thiếu Cầu
Trường hợp trong đó tổng cầu quá thấp không đủ để tạo việc làm cho tất cả những ai muốn làm việc tại mức lương thực tế hiện hành bất kể trình độ đào tạo hoặc bố trí như thế nào đi nữa.
Beta / Hệ Số Beta
Beta hay còn gọi là hệ số beta, đây là hệ số đo lường mức độ biến động hay còn gọi là thước đo rủi ro hệ thống của một chứng khoán hay một danh mục đầu tư trong tương quan với toàn bộ thị trường Hệ số beta là một tham số quan trọng trong mô hình định giá tài sản vốn (CAPM). Beta được tính toán dựa trên phân tích hồi quy, và bạn có thể nghĩ về beta giống như khuynh hướng và mức độ phản ứng của chứng khoán đối với sự biến động của thị trường. Một chứng khoán có beta bằng 1, muốn ám chỉ rằng giá chứng khoán đó sẽ di chuyển cùng bước đi với thị trường. Một chứng khoán có beta nhỏ hơn 1 có nghĩa là chứng khoán đó sẽ có mức thay đổi ít hơn mức thay đổi của thị trường. Và ngược lại, beta lớn hơn 1 sẽ chúng ra biết giá chứng khoán sẽ thay đổi nhiều hơn mức dao động của thị trường. Ví dụ, nếu beta của một chứng khoán là 1.2, điều đó có nghĩa là nó có biên độ dao động nhiều hơn thị trường 20%. Nhiều cổ phiếu thuộc các ngành cung cấp dịch vụ công ích có beta nhỏ hơn 1. Ngược lại, hầu hết các cổ phiếu dựa trên kỹ thuật công nghệ cao có beta lớn hơn 2. Thể hiện khả năng tạo được một tỷ suất sinh lợi cao hơn, những cũng đồng thời tiềm ẩn rủi ro cao hơn.
Đo lường sự biến động về giá của các quỹ hỗ tương và các công cụ tài chính. Hệ số Beta thường được thể hiện như một phương sai; đối với các quỹ hỗ tương nó đo lường một quỹ đầu tư đáp ứng thế nào đối với thị trường tổng thể. Một quỹ có hệ số beta 1.10 được kỳ vọng có hiệu quả tốt hơn 10% Chỉ số Standard&Poor's 500 khi thị trường đang lên, và kém hơn 10% khi thị trường đi xuống.
Heckscher - Ohlin Approach To International Trade / Phương Pháp Heckscher - Ohlin Về Thương Mại Quốc Tế
Nghiên cứu này do nhà kinh tế người Thuỵ Điển Heckcher khởi xướng, sau đó được người đồng hương của ông là Ohlin phát triển (trong Thương Mại Quốc Tế và giữa các vùng, 1935), công nhận rằng Thương Mại Quốc Tế dựa trên sự khác nhau của chi phí tương đối nhưng cố gắng giải thích các yếu tố tạo ra sự khác nhau trong giá tương đối này.
Best Linear Unbiased Estimator / Blue - Ước Lượng Tuyến Tính Không Chệch Tốt Nhất
ĐOÁN SỐ (ƯỚC LƯỢNG SỐ) này có PHƯƠNG SAI nhỏ nhất trong tất cả các ước lượng TUYẾN TÍNH và cũng không chệch (nghĩa là giá trị kỳ vọng của nó bằng với giá trị tham số thực). Xem GAUSS-MARKOV THEOREM, ORDINARY LEAST SQUARES.
Bertrand's Duopoly Model / Mô Hình Lưỡng Quyền Của Bertrand
Mô hình về một thị trường có hai hãng do J.Bertrand đưa ra năm 1883.
Bernoulli Hypothesis / Giả Thuyết Bernoulli
Daniel Bernoulli là một nhà toán học thế kỷ XIX đã đưa ra một lời giải cho một nghịch lý được ca ngợi. Bài toán này là một trong số các bài toán giải thích tại sao các cá nhân sẽ không trả một khoản cực lớn để chơi trò chơi xấp ngửa của một đồng xu.
Heavy Market / Thị Trường Nặng Nề
Thị trường chứng khoán, trái phiếu, hàng hóa bị rớt giá do cung ứng ồ ạt. Lệnh bán áp đảo lệnh mua.






