Capacity Untilization / Mức Sử Dụng Công Năng
Là tỷ lệ sản lượng thực tế so với sản lượng tiền năng. Xem EXCESS CAPACITY.
New-New Microeconomics / Kinh Tế Học Vi Mô Mới-Mới
Là tên gọi được đặt cho những phương pháp xây dựng mô hình trong đó tìm cách giải thích những hợp đồng về lương và giá trên cơ sở xem xét hành vi tối ưu hoá của kinh tế học vi mô.
Capacity Model / Mô Hình Công Năng
Mô hình giải thích sự tỷ lệ đầu tư có quan hệ mật thiết với mô hình GIA TỐC và đặc biệt với mô hình ĐIỀU CHỈNH LƯỢNG VỐN.
Capacity / Công Suất
Công suất là khái niệm để chỉ sản lượng tối đa mà một doanh nghiệp hoặc một ngành công nghiệp sản xuất một cách hiệu quả nhất và đầy đủ nhất so với năng lực sản xuất hiện có - lực toàn dụng. Xét về lý thuyết kinh tế vi mô, lực toàn dụng được lý giải là đặc trưng cơ bản liên quan đến cấu trúc chi phí của doanh nghiệp hoặc các ngành công nghiệp. Khi sản lượng công nghiệp được tối đa hoá, tất cả các doanh nghiệp tiến hành sản xuất tại điểm tối thiểu trên đường cong tổng chi phí trung bình dài hạn thì có nghĩa là khả năng toàn dụng được đạt tới; ngược lại, nếu không sản xuất ở điểm này nghĩa là lực còn thừa. Xét về lý thuyết kinh tế vĩ mô, năng lực phản ánh GDP tiềm năng. Tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng thực tế trong nền kinh tế so với thu nhập quốc dân tiềm năng phản ánh tính hữu dụng của công suất (khả năng).
Công suất là khái niệm để chỉ sản lượng tối đa mà một doanh nghiệp hoặc một ngành công nghiệp sản xuất một cách hiệu quả nhất và đầy đủ nhất trong khoảng thời gian nhất định. Trong hầu hết các trường hợp, không thể chắc chắn rằng hệ thống sẽ hoạt động hết công suất trong thời gian dài, bởi ảnh hưởng của tự nhiên và các yếu tố khác sẽ làm giảm sản lượng tiềm năng. Các nhà sản xuất phụ tùng có thể sản xuất 150.000 vật dụng trong một tháng. Tuy nhiên, do thời gian vì bảo trì thiết bị và nhân viên bị ốm, chỉ có khoảng 130.000 vật dụng có thể thực sự được sản xuất mỗi tháng. Về lâu dài, một doanh nghiệp có thể tăng công suất và sản lượng bằng cách mua lại các yếu tố chi tiết của sản phẩm. Ví dụ, nếu nhu cầu thị trường cho các vật dụng tăng đột biến, các nhà sản xuất phụ tùng có thể mua thêm thiết bị và thuê thêm lao động, và do đó tăng công suất lên 175.000 vật dụng mỗi tháng.
ICC: International Chamber Of Commerce / Phòng Thương Mại Và Công Nghiệp Quốc Tế
I-bond là trái phiếu tiết kiệm điều chỉnh lãi suất theo chỉ số lạm phát được phát hành bởi chính phủ Mỹ. Trái phiếu I-bond trả một mức lãi suất cố định thấp hơn lãi suất của những loại trái phiếu tiết kiệm thông thường, nhưng mức lãi suất có thể được điều chỉnh tăng cùng với chỉ số lạm phát (Consumer Price Index) và được tính toán lại nửa năm một lần. Trái phiếu I-bond trả lãi suất tối đa là 30 năm, nhưng người sở hữu trái phiếu nào mà thu hồi trái phiếu trước thời hạn 5 năm sẽ bị phạt một khoảng tương đương với lãi suất thu được của 3 tháng.
Hastc-Index / Chỉ Số Hastc
Chỉ số Hastc-Index được tính toán bắt đầu từ ngày chính thức mở cửa phiên giao dịch đầu tiên của thị trường (ngày 14/7/2005). Chỉ số này tính toán mức biến động giá của tất cả các cổ phiếu giao dịch trên Trung tâm GDCK Hà Nội. Phương pháp tính chỉ số: Chỉ số Hastc-Index được tính bằng cách so sánh tổng giá trị thị trường hiện tại với tổng giá trị thị trường của các cổ phiếu niêm yết tại thời điểm gốc (Ngày mở cửa phiên giao dịch đầu tiên). Do vậy, tại thời điểm phiên giao dịch đầu tiên của thị trường, chỉ số có giá trị = 100. Công thức tính chỉ số thị trường: Tổng giá trị thị trường hiện tại (GTn) HASTC-Index = --------------------------------------------------------------- x 100 Tổng giá trị thị trường gốc (GTo) Hoặc: ∑ Pit x Qit HASTC-Index = -------------------------------------- x 100 ∑ Pio x Qit Trong đó, Pit: Giá thị trường của cổ phiếu i vào thời điểm hiện tại Qit: Số lượng cổ phiếu niêm yết của cổ phiếu i vào thời điểm hiện tại Pio:Giá thị trường của cổ phiếu i vào ngày cơ sở i : 1,……, n
I-Bonds / Trái Phiếu Lạm Phát
Trái phiếu tiết kiệm điều chỉnh lãi suất theo chỉ số lạm phát được phát hành bởi chính phủ Mỹ. Trái phiếu lạm phát có tám mệnh giá từ $50 đến $10000 và thu tiền lãi lên đến 30 năm. Tiền lãi trả cho những trái phiếu này được xác định bởi một tổ hợp hai lãi suất: lãi suất cố định (từ 3% đến 3.5%) do Bộ tài chính quy định, và lãi suất lạm phát nửa năm do Cục Thống kê Lao động xác định, từ điều chỉnh chỉ số giá tiêu dùng. Trái phiếu lạm phát khác với các trái phiếu tiết kiệm khác, đem đến cho nhà đầu tư lợi ích thuế đặc biệt. Nhà đầu tư có thể hoãn nộp thuế liên bang trên lợi nhuận, được tự động tái đầu tư miễn là họ sở hữu trái phiếu. Trái phiếu lạm phát cũng thường được miễn các loại thuế thu nhập địa phương và tiểu bang. Nếu được sử dụng vào mục đích đóng học phí hoặc lệ phí tại trường đại học, thì nhà đầu tư có thể loại trừ toàn bộ hoặc một phần thu nhập trái phiếu lạm phát không bị tính thuế liên bang. Xem INFLATION - INDEXED SECURITIES.
Cambridge School Of Economics / Trường Phái Kinh Tế Học Cambridge
Một nhóm các nhà kinh tế học bị ảnh hưởng của những bài viết và mối liên hệ với A.MARSHALL.
New York Stock Exchange (NYSE) / Sàn Giao Dịch Chứng Khoán New York
Sàn giao dịch chứng khoán New York, có biệt hiệu là "Big Board" - Chiếc bảng lớn, là sàn giao dịch chứng khoán đặt tại thành phố New York, thuộc sở hữu của tập đoàn NYSE (NYX). Đây là sàn giao dịch chứng khoán lớn nhất thế giới tính theo giá trị giao dịch và đứng thứ hai tính theo số lượng công ty niêm yết. Trong suốt thập niên 1990, dù bị NASDAQ vượt mặt về khối lượng cổ phiếu giao dịch song tổng giá trị vốn hoá thị trường của các công ty niêm yết trên NYSE vẫn gấp 5 lần các công ty niêm yết trên NASDAQ. Tổng giá trị vốn hoá thị trường của NYSE đạt 17,400 tỷ USD, trong đó có 7,100 tỉ là của các công ty nước ngoài. NYSE được điều hành bởi tập đoàn NYSE, gần đây mới sáp nhập thêm sàn giao dịch điện tử Archipelago Holdings. Sàn giao dịch của NYSE đặt tại 11 Wall Street, gồm có 5 phòng giao dịch, hỗ trợ tối đa cho việc tiến hành các giao dịch. NYSE đang sắp sửa sáp nhập thêm Euronext - sàn giao dịch chứng khoán lớn thứ 2 châu Âu để trở thành sàn giao dịch chứng khoán toàn cầu đầu tiên trên thế giới, sau khi NASDAQ có ý định sáp nhập với London Stock Exchange. Các vụ giao dịch trên NYSE được thực hiện theo phương thức đấu giá liên tục. Mỗi loại cổ phiếu có một địa điểm giao dịch nhất định trên sàn. Những thành viên của sàn nào muốn mua bán một loại cổ phiếu nào đó cho nhà đầu tư sẽ tập trung quanh địa điểm của một người môi giới, đại diện cho một công ty niêm yết trên NYSE. Người môi giới này đóng vai trò như một nhà đấu giá trong một cuộc đấu giá mở (open outcry auction) để liên kết người mua với người bán. Để kích thích giao dịch những người môi giới này tung ra nhiều thông tin cho những người môi giới khác, và thi thoảng họ còn sẵn sàng cam kết bằng số vốn riêng của mình. Phương thức đấu giá mở này đem lại hiệu quả cao nhất, đồng thời giúp các nhà đầu tư có được mức giá công bằng nhất. Chính đặc điểm xuất hiện sự tương tác trực tiếp giữa các nhà môi giới và sử dụng nhận định của các chuyên gia trong việc đặt lệnh đã làm cho NYSE khác hẳn với các sàn giao dịch chứng khoán điện tử khác. Gần đây đã có ý kiến cho rằng nên đưa ra một cấu trúc giao dịch lai giữa cấu trúc đấu giá mở với sàn giao dịch điện tử. Chỉ số chứng khoán tổng hợp NYSE (NYA) - NYSE Composite được xây dựng vào thập niên 1960 với giá trị cơ bản là 50 điểm, tương đương với chỉ số đóng cửa năm 1965, phản ánh giá trị của tất cả các cổ phiếu giao dịch trên sàn, thay vì chỉ có 30 cổ phiếu trong chỉ số công nghiệp Dow Jones. Trong lịch sử của NYSE, mức cao kỉ lục của chỉ số tổng hợp NYSE từng đạt 9,345.25 điểm vào 7/2/2007, mức thấp kỉ lục là 347.77 điểm vào 10/1974. Giờ giao dịch của NYSE là từ 9:30 đến 16:00. Chỉ những người môi giới nào có "chỗ" (seat) trong NYSE mới được phép giao dịch trực tiếp các loại cổ phiếu trên sàn. Hiện NYSE có 1366 "chỗ" như vậy, và con số này vẫn chưa hề thay đổi kể từ năm 1953. Chỗ đứng trong NYSE hay gọi chính xác hơn là tư cách thành viên, là một hàng hoá được nhiều công ty tài chính săn lùng, vì nó cho phép họ trực tiếp giao dịch trên NYSE. Giá của một chỗ đứng như vậy thay đổi tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế, giảm đi khi có suy thoái và tăng lên khi kinh tế tăng trưởng mạnh. Chỗ đứng được bán theo thời hạn 1 năm, với giá cao nhất từng đạt được là $625,000 vào năm 1929, tương đương với khoảng hơn 6 triệu USD theo hiện giá, giá này vào năm 2005 là 3.25 triệu.
Harrod-Domar Growth Model / Mô Hình Tăng Trưởng Harrod - Domar
Mô hình tăng trưởng một khu vực do R.F.Harrod và E.Domar phát triển vào những năm 1940, về cơ bản xuất phát từ các cuộc cách mạng Keynes, vì nó có liên quan tới sự ổn định kinh tế và thất nghiệp cũng như những giả thiết cứng nhắc dùng cho phân tích ngắn hạn.
Callable Bond / Redeemable Bond / Trái Phiếu Có Thể Thu Hồi Trước Thời Hạn
Đây là loại trái phiếu mà người phát hành có quyền thu hồi trước ngày đáo hạn, với một số điều kiện nhất định. Khi phát hành, người mua sẽ được giải thích rằng khi nào trái phiếu có thể bị thu hồi và mức giá vào lúc đó. Trong hầu hết các trường hợp, giá sẽ cao hơn mệnh giá của trái phiếu và giá sẽ tăng lên trước khi trái phiếu bị thu hồi. Một công ty thường thu hồi trái phiếu nếu trái phiếu đó đang được trả lợi suất cao hơn lãi suất trên thị trường. Về cơ bản, công ty có thể tái phát hành những trái phiếu tương tự với mức lợi suất thấp hơn để tiết kiệm chi phí. Thật không may, những tình huống tương tự cũng xảy ra khi giá trái phiếu tăng lên mức cao nhất; lãi suất ngân hàng giảm từ khi phát hành trái phiếu khiến giá của trái phiếu tăng lên. Trong nhiều trường hợp, công ty sẽ có quyền thu hồi trái phiếu với giá thấp hơn mức giá thị trường. Nếu trái phiếu bị thu hồi, người giữ trái phiếu sẽ được thông báo bằng email và không có quyền nào khác. Trái phiếu sẽ không còn lợi suất ngay sau khi bị thu hồi. Các công ty cũng có thể thông báo trên các ấn ẩm phẩm tài chính để nhà đầu tư trái phiếu được biết. Nhìn chung, các trái phiếu có thể thu hồi sẽ mang theo cả quyền bảo vệ thu hồi. Điều này có nghĩa là trong một khoảng thời gian nào đó trái phiếu sẽ không thể bị thu hồi.
Harrod, Sir Roy, F / (1900-1978)
Sau khi dạy ở trường dòng Oxford từ năm 1922, ông được bổ nhiệm làm phó giáo sư Viện Kinh Tế Quốc Tế năm 1952. Ông là biên tập tờ Economic Journal từ năm 1945-1961. Các sách đã xuất bản của ông bao gồm: Chu kỳ thương mại (1936), Tiến tới kinh tế học động (1948), Cuộc đời của John Maynard Keynes (1951), Một bổ sung vào thuyết kinh tế động (1952), Chính sách chống lạm phát (1958), Tham luận thứ hai về lý thuyết kinh tế động (1961) và Động lực kinh tế (1973).
New York Mercantile Exchange / Thị Trường Giao Dịch Kỳ Hạn New York
Xem FUTURES EXCHANGE. NYBOT hiện là một công ty con sở hữu hoàn toàn bởi Sàn giao dịch liên lục địa(IntercontinentalExchange - ICE). Sàn giao dịch chứng khoán New York có nguồn gốc từ năm 1870 với tên gọi Sàn giao dịch bông New York (NYCE). Vào năm 1998, Sàn giao dịch hàng hóa New York trở thành công ty mẹ của cả Sàn giao dịch bông New York và Sàn giao dịch cà phê, đường, ca cao (CSCE) (thành lập năm 1882), và ngày nay các sàn giao dịch này làm chức năng bộ phận cho NYBOT. Trước vụ sáp nhập, NYBOT là một công ty tư nhân được thành lập bởi Tom Green và Alfredo Wiliams. Hiện tại, tầng sàn của NYBOT được giám sát bởi Ủy ban giao dịch futures về hàng hóa, một cơ quan độc lập của chính phủ Hoa Kỳ. Mỗi công ty hoạt động trên sàn giao dịch phải cử người môi giới riêng của mình, vì vậy có rất ít nhân viên trên sàn làm đại điện cho những tạp đoàn lớn và các nhân viên chỉ ghi lại các giao dịch, không liên quan đến hoạt động mua bán. Tháng 2 năm 2003, NYBOT đã kí hợp đồng thuê tài chính với Sàn giao dịch thương nghiệp New York (NYMEX) để chuyển đến Trung tâm tài chính thế giới (World financial center) sau khi sàn giao dịch của NYBOT bị phá huỷ sau vụ khủng bố 11 tháng 9 năm 2001.
Callable Bond / Trái Phiếu Có Thể Mua Lại
Trái phiếu có thể mua lại là loại trái phiếu có kèm điều khoản được nhà phát hành mua lại trước thời gian đáo hạn. Nói như vậy có nghĩa là nhà phát hành có quyền nhưng không bắt buộc phải mua lại loại trái phiếu này. Khi phát hành, trái phiếu này sẽ ghi rõ khi nào nó có thể được mua lại và giá mua lại là bao nhiêu. Trong hầu hết các trường hợp, giá mua lại thường cao hơn mệnh giá và nó càng tăng cao đối với những trái phiếu được mua lại sớm hơn. Đối với những thị trường trái phiếu có tỷ suất sinh lợi cao, người ta có thể đòi hỏi một phần bù rất lớn. Một công ty thường mua lại trái phiếu nếu nó trả lãi cao hơn lãi suất thị trường. Về nguyên tắc, công ty có thể tái phát hành cùng loại trái phiếu đó với lãi suất thấp hơn để tiết kiệm khoản lãi phải trả. Không may, điều này cũng giống như trường hợp trái phiếu có giá cao nhất và lãi suất giảm dần kể từ lúc trái phiếu được phát hành, trong khi đó giá thị trường của nó lại tăng dần. Trong nhiều trường hợp, công ty có quyền mua lại trái phiếu với giá thấp hơn giá thị trường. Nếu một trái phiếu được mua lại, nhà đầu tư sẽ được thông báo bằng email cũng như nhà đầu tư sẽ không có sự lựa chọn nào khác. Trái phiếu sẽ ngừng trả lãi ngay sau khi nó được mua lại. Các công ty cũng thường thông báo cho nhà đầu tư biết thông qua các trang báo tài chính lớn. Nói chung thì những” trái phiếu có thể mua lại “sẽ có kèm theo một số điều gọi là “điều khoản bảo vệ mua lại”. Nó có nghĩa là trái phiếu có thể sẽ không được mua lại trong khoảng thời gian ban đầu xác định, thường là khoảng hai đến ba năm. Để hiểu rõ hơn chúng ta xem xét một số điều dưới đây: Đối với những gì phải trả cho một” trái phiếu có thể mua lại “, là loại trái phiếu có lãi suất cao, nhà phát hành có một quyền chọn: Nếu ngay tại thời điểm mua lại, lãi suất thị trường đang đi xuống, anh ta sẽ có khả năng vay tiền với mức lãi suất thấp hơn để mua lại trái phiếu, và vì thế anh ta sẽ quyết định mua lại trái phiếu. Về phía nhà đầu tư, nếu so với việc mua một trái phiếu không thể mua lại thì nhà đầu tư sẽ được lợi nhiều hơn khi mua” trái phiếu có thể mua lại” vì được trả lãi cao. Tuy nhiên mặt khác , nếu lãi suất đi xuống, trái phiếu sẽ được mua lại và do đó anh ta chỉ có thể đầu tư với mức lãi suất thấp hơn. Sự so sánh này cho thấy nếu bạn bán một quyền chọn, bạn sẽ nhận trước một phần bù, nhưng nếu thực hiện quyền chọn thì có khả năng là gía trái phiếu của bạn bị giảm.
Đây là loại trái phiếu mà người phát hành có quyền thu hồi trước ngày đáo hạn, với một số điều kiện nhất định. Thông thường, sẽ có 1 khoản phí bảo hiểm trả cho chủ sở hữu khi trái phiếu bị mua lại. Thuật ngữ này cũng có thể được gói là " Trái phiếu hoàn lại" Lý do chính của việc thu hồi trái phiếu là do lãi suất thấp . Nếu lãi suất giảm so với lần đầu tiên công ty phát hành trái phiếu, nó đồng nghĩa với việc công ty có thể tái phát hành cùng loại trái phiếu đó với lãi suất thấp hơn để tiết kiệm khoản lãi phải trả.
New York Board Of Trade (NYBOT) / Sàn Giao Dịch Hàng Hóa New York
Là một sàn giao dịch hàng hóa ở New York chuyên để giao dịch các hợp đồng futures và options về đường, bông, cà phê, ca cao, cam, lãi suất, tiền tệ, và các chỉ số. NYBOT hiện là một công ty con sở hữu hoàn toàn bởi Sàn giao dịch liên lục địa(IntercontinentalExchange - ICE). Sàn giao dịch chứng khoán New York có nguồn gốc từ năm 1870 với tên gọi Sàn giao dịch bông New York (NYCE). Vào năm 1998, Sàn giao dịch hàng hóa New York trở thành công ty mẹ của cả Sàn giao dịch bông New York và Sàn giao dịch cà phê, đường, ca cao (CSCE) (thành lập năm 1882), và ngày nay các sàn giao dịch này làm chức năng bộ phận cho NYBOT. Trước vụ sáp nhập, NYBOT là một công ty tư nhân được thành lập bởi Tom Green và Alfredo Wiliams. Hiện tại, tầng sàn của NYBOT được giám sát bởi Ủy ban giao dịch futures về hàng hóa, một cơ quan độc lập của chính phủ Hoa Kỳ. Mỗi công ty hoạt động trên sàn giao dịch phải cử người môi giới riêng của mình, vì vậy có rất ít nhân viên trên sàn làm đại điện cho những tạp đoàn lớn và các nhân viên chỉ ghi lại các giao dịch, không liên quan đến hoạt động mua bán. Tháng 2 năm 2003, NYBOT đã kí hợp đồng thuê tài chính với Sàn giao dịch thương nghiệp New York (NYMEX) để chuyển đến Trung tâm tài chính thế giới (World financial center) sau khi sàn giao dịch của NYBOT bị phá huỷ sau vụ khủng bố 11 tháng 9 năm 2001.
Harrod Neutral Technical Progress / Tiến Bộ Kỹ Thuật Trung Tính Của Harrod
Một loại tiến bộ kỹ thuật độc lập so sánh các điểm trong quá trình tăng trưởng ở đó tỷ lệ sản lượng so với vốn không thay đổi.
Call Report / Báo Cáo Theo Yêu Cầu
1. Báo cáo theo quý về thu nhập và tình hình hoạt động theo yêu cầu của cơ quan giám sát của các định chế tài chính: Tổng Kiểm toán của Ngân hàng Quốc gia; các Ngân hàng Dự trữ Liên bang đối với các ngân hàng tiểu bang thành viên; hay các Công ty Bảo hiểm Tiền gởi Liên bang, đối với các ngân hàng được bảo hiểm không phải ngân hàng thành viên; hay các chi nhánh ngân hàng tiểu bang báo cáo cho các ngân hàng tiểu bang và công ty ủy thác. Báo cáo thu hồi được công bố bởi FDIC (www.fdic.gov) khoảng một tháng sau thời hạn lập hồ sơ hàng quý. 2. Báo cáo bằng văn bản của bên cho vay về sự phát triển các doanh nghiệp mới.
Call Ratio Backspread / Sai Biệt Về Hệ Số Quyền Chọn Mua
Là một chiến lược đầu tư trong thị trường giá tăng khi kết hợp các quyền chọn để tạo ra sự chênh lệch giữa khoản lỗ giới hạn và mức lợi nhuận tổng cộng. Thông thường điều này được tạo ra bằng cách bán một quyền chọn mua và sau đó sử dụng số tiền bán quyền thu được để mua lại nhiều quyền chọn mua hơn với giá thực hiện cao hơn. Chiến lược này tạo ra lợi nhuận không giới hạn vì nhà đầu tư đã mua nhiều quyền chọn mua hơn so với việc bán quyền chọn mua ban đầu. Một nhà đầu tư sử dụng chiến lược này có thể sẽ bán ít quyền chọn mua hơn với giá thấp hơn giá thực hiện và mua vào nhiều quyền chọn mua hơn với giá cao hơn giá thực hiện. Các hệ số phổ biến nhất được sử dụng trong chiến lược này là 1 quyền chọn mua ngắn hạn được kết hợp với 2 quyền chọn mua dài hạn, hay 2 quyền chọn mua ngắn hạn được kết hợp với 3 quyền chọn mua dài hạn. Nếu chiến lược này được thiết lập theo hình thức tín dụng thì nhà đầu tư lời rất ít trong trường hợp giá của chứng khoán cơ sở giảm một cách đột ngột.
Call Provision / Điều Khoản Về Lệnh Thu Hồi
Call Provision tức: Điều khoản về lệnh thu hồi. Thuật ngữ này dùng để nói về Điều khoản thoả thuận giữa công ty phát hành trái phiếu và cổ phần ưu đãi với người mua về việc thu hồi lại trái phiếu và cổ phần trước ngày đáo hạn với giá đặc biệt trong trường hợp đặc biệt.
Hard-Core Unemployed / Những Người Thất Nghiệp Khó Tìm Việc Làm
Những người thất nghiệp có đăng ký cảm thấy do các điều kiện về thể chất và tinh thần, do thái độ đối với công việc hoặc do tuổi tác nên rất khó tìm việc làm.






