Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Bifurcation Hypothesis / Giả Thuyết Lưỡng Cực

Giả thuyết cho rằng trong khi mức độ dồi dào và chi phí TÀI CHÍNH NGOẠI HỐI là yếu tố quyết định quan trọng tới đầu tư trong thời kỳ bùng nổ tăng trưởng, còn thu nhập giữ vai trò quan trọng nhất khi suy thoái.

Bid-To-Conver Ratio / Tỷ Lệ Giá Đặt Mua Trúng Thầu

Bid-To-Conver Ratio tức: Tỷ lệ giá đặt mua trúng thầu. Thuật ngữ này dùng để chỉ số giá đặt mua đạt được trong cuộc đấu giá công trái khi so sánh với số giá đặt mua được chấp nhận. Tỷ lệ cao (trên 2,0) cho biết là việc đặt giá mua rất năng nổ và cuộc đấu giá coi như thành công. Còn tỷ lệ thấp cho biết Nhà nước có khó khăn trong việc bán trái phiếu. Và thông thường tỷ lệ thấp kéo theo cái đuôi "Tail" dài. Điều này có nghĩa là có chênh lệch lớn giữa hoa lợi trung bình và hoa lợi cao (giá đặt mua trung bình và giá đặt mua thấp nhất được chấp nhận).

Keynes Effect / Hiệu Ứng Keynes

Một thay đổi của cầu đối với hàng hoá là kết quả của sự thay đổi trong mức giá chung.

Một thay đổi của cầu đối với hàng hoá là kết quả của sự thay đổi trong mức giá chung.

Hiệu ứng Keynes (Keynes Effect) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Hiệu ứng Keynes (Keynes Effect) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Key Rates / Các Mức Lương Then Chốt

Các mức lương của nghề nghiệp trong thị trường LAO ĐỘNG NỘI BỘ làm điểm tiếp xúc với thị trường bên ngoài.

Hedgers / Các Nhà Phòng Ngừa Rủi Ro

Nông dân, nhà sản xuất, nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu đểu có thể là các nhà phòng ngừa rủi ro. Một nhà phòng ngừa rủi ro mua hoặc bán trong thị trường giao sau để bảo đảm cho giá cả của hàng hóa trong tương lai mà họ dự định bán hoặc mua vào một ngày trong tương lai trên thị trường tiền mặt. Điều này sẽ giúp bảo vệ chống lại rủi ro giá cả.Những người nắm giữ vị thế mua trong hợp đồng giao sau (những người mua hàng hóa) đang cố gắng để bảo vệ giá càng thấp chừng nào càng tốt chừng đó. Ngược lại những ai nắm giữ vị thế bán trong hợp đồng giao sau (người bán hàng hóa) sẽ muốn giữ cho giá cao chừng nào tốt chừng đó. Tuy nhiên, hợp đồng giao sau cung cấp một mức giá xác định rõ ràng cho cả hai bên đối tác, nó sẽ làm giảm rủi ro liên quan đến biến động giá. Phòng ngừa rủi ro bằng các hợp đồng giao sau có cũng có thể được sử dụng nhưng một phương tiện để chốt một mức giá biên có thể chấp nhận được giữa chi phí của nguyên liệu thô và chi phí bán lẻ của sản phẩm được sản xuất cuối cùng.Ví dụ:Một thợ bác phải bảo đảm một lượng bạc nhất định trong thời gian 6 tháng để làm bông tai và lắc tay theo như các mẫu đã quảng cáo trong một catolog sắp tới với mức giá xác định. Nhưng nếu giá của bạc tăng lên trong 6 tháng tiếp theo? Bởi vì giá của bông tai và lắc tay (bằng bạc) đều đã được thiết lập trước rồi, chi phí tăng thêm của nguyên liệu bạc không thể tính cho người mua lẻ cuối cùng, có nghĩa là thợ bạc phải chịu phần chi phí tăng thêm đó. Người thợ bạc cần phải được phòng ngừa rủi ro, hoặc ít nhất là họ cần được tối thiểu hóa rủi ro chống lại khả năng tăng giá bạc. Nhưng bằng cách nào?Người thợ bạc có thể tham gia vào thị trường giao sau và mua một hợp đồng bạc để thanh toán trong thời gian  6 tháng (ví dụ là tháng 6) với mức giá $5 một ounce. Tại thời điểm cuối của kỳ hạn  6 tháng, giá của bạc trên thị trường tiền mặt thực sự là $6 một ounce, so đó người thợ bạc đã có lợi từ hợp đồng giao sau và thoát được việc phải mua với giá cao hơn. Cuối cùng nếu giá của bạc trên thị trường tiền mặt giảm thì người thợ bạc không tham gia vào thị trường giao sau sẽ tốt hơn. Tuy nhiên, Tại cùng một thời điểm, bởi vì thị trường bạc rất biến động, các nhà tạo lập bạc cũng vẫn muốn bảo vệ họ tránh khỏi các rủi ro bằng việc tham gia vào các hợp đồng giao sauDo đó, nguyên tắc cơ bản của việc phòng ngừa rủi ro là: cố gắng để tối thiểu hóa rủi ro nhiều nhất có thể bằng cách chốt trước các mức giá mua và khối lượng mua trong tương lai.

Hedged Tender / Đặt Giá Thầu Có Bảo Hộ

Thuật ngữ này được dùng trong trường hợp bán khống (Selling short - bán chứng khoán vay mượn) một số lượng cổ phần đang được đặt giá thầu để bảo vệ giá không rớt trong trường hợp tất cả cổ phần này không được chấp nhận (chấp nhận theo giá đặt mua thầu). Ví dụ, công ty ABC hay công ty khác muốn mua công ty ABC tuyên bố giá đặt thầu là $52/cổ phần khi cổ phần ABC đang bán với giá thị trường là $40. Bây giờ giá thị trường cổ phần - ABC tăng dần bằng giá đặt thầu (giá đặt mua cao hơn giá thị trường - Tender offer) là $52. Nhà đầu tư muốn bán tất cả 2000 cổ phần với giá $52 nhưng không thể chắc chắn bán được 2000 cổ phần. Với giá đề nghị $52/cổ phần, nhà đầu tư nghĩ rằng chắc chỉ bán được 1.000 cổ phần do đó ông ta sẽ bán khống 1.000 cổ phần được chấp nhận theo giá đó và khi giá đặt thầu hết hiệu lực (hết hạn) và giá thị trường cổ phần ABC bắt đầu rớt giá thì nhà đầu tư vẫn bán được hết 2.000 cổ phần với giá $52 hoặc là sát với giá đó. Một nửa cho người đã đặt giá thầu và một nửa thì đã bán khống.

Hedge Ratio / Tỷ Lệ Bảo Hộ Giá

Thuật ngữ này dùng để chỉ tỷ lệ hợp đồng option so với hợp đồng Futures mà người mua đã mua để loại trừ rủi ro trong giao dịch mua bán. Tỷ lệ dựa trên hệ số delta của hợp đồng option. Ví dụ, nếu hợp đồng Future thay đổi $1 thì sẽ làm thay đổi phí option là $0,5; tỷ lệ sẽ là 2 hợp đồng option cho mỗi hợp đồng futures.

Bid-Rent Function / Hàm Giá Thầu Thuê Đất

Mối quan hệ chỉ ra khoản tiền mà một gia đình hoặc hãng có thể trả để sử dụng một mảnh đất nhất định với các khoảng khác nhau so với trung tâm của một vùng đô thị trong khi vẫn duy trì mức không đổi ĐỘ THOẢ DỤNG hay LƠỊ NHUẬN.

Key Management / Quản Lý Bộ Khoá (Mã Số)

Key Management có nghĩa là: Quản lý bộ khoá (mã số).Đây là thuật ngữ dùng để chỉ việc kiểm soát mã số nhận dạng độc nhất cho mỗi tổ chức tài chánh trong mạng lưới trong tiến trình xử lý dữ kiện và chuyển ngân quỹ bằng điện tử. Ngân hàng không bao giờ chuyển bộ khoá rõ ràng - vì như vậy thì coi như không được mã hoá, nên sẽ dùng công thức mã hoá được chấp nhận chung để ngăn ngừa những việc không được giao cho thẩm quyền. Các ngân hàng thay đổi mã số từng thời kỳ gọi là bộ khoá của nhà phát hành (keys) vì lý do an toàn.

Bidding Up / Giá Đặt Mua Tăng

Bidding Up tức: Giá đặt mua tăng.  Thuật ngữ này dùng để chỉ giá đặt mua chứng khoán liên tiếp được nâng lên, giá tăng vọt sẽ làm cho các lệnh mua bán không thể thực hiện được. Trong khi đó Nhà đầu tư muốn mua một số lượng lớn cổ phần trong thị trường đang tăng giá, lúc đó người này đang dùng lệnh có giới hạn (lệnh mua theo giá ấn định hoặc thấp hơn) để đảm bảo được giá có lợi nhất.  Tuy nhiên vì lệnh đặt bán đang tăng trên thị trường nên nhà đầu tư phải tăng mức giới hạn trong lệnh mua lên để tiếp tục tích luỹ cổ phần. Đến một mức độ nào đó người mua tạo ra giá mua tăng gây áp lực trên chứng khoán, nhưng lúc đó hầu hết giá đã tăng ngoài vòng kiểm soát của người này.

Hedge Fund / Self-Insurance Fund / Quỹ Tự Bảo Hiểm Rủi Ro

Quỹ tự bảo hiểm rủi ro là một thể chế tài chính có thể đạt được những lợi thế an toàn trong ngắn hạn hoặc dài hạn bằng cách mua bán các cổ phiếu kể cả các cổ phiếu được định giá thấp, mua bán cácquyền chọn mua bán hoặc trái phiếu. Quỹ tự bảo hiểm rủi ro được đầu tư vào bất cứ cơ hội nào, tại bất cứ thị trường nào có khả năng sinh lời và rủi ro thấp. Nó có nhiều chiến lược khác nhau như chiến lược chống lại sự sụt giảm của thị trường chứng khoán trong điều kiện bất ổn và suy giảm của những thị trường chứng khoán quá nóng. Mục đích chính của hầu hết các quỹ tự bảo hiểm rủi ro là giảm thiểu sự bất ổn và rủi ro để bảo toàn vốn và thu lợi trong mọi điều kiện thị trường. Quỹ tự bảo hiểm rủi ro hiện có khoảng 14 chiến lược đầu tư riêng biệt, mỗi chiến lược có mức độ thu nhập và rủi ro khác nhau. Ví dụ một quỹ tự bảo hiểm rủi ro vĩ mô đầu tư vào thị trường cổ phiếu hoặc trái phiếu hoặc thị trường tiền tệ với hy vọng vào sự thay đổi tích cực của tỷ lệ lãi suất quốc tế hay sự thay đổi của chính sách tiền tệ quốc gia. Quỹ tự bảo hiểm rủi ro đầu tư cổ phiếu có thể đầu tư trong phạm vi quốc gia hoặc toàn cầu, quỹ này chống lại sự suy giảm trên thị trường chứng khoán bằng cách phân loại ra những cổ phiếu được định giá cao hoặc phân loại theo chỉ số cổ phiếu. Hiểu về đặc điểm của các chiến lược quỹ tự bảo hiểm rủi ro khác nhau là điều kiện cần thiết để phân bổ vốn cho các cơ hội đầu tư một cách hiệu quả. Vì tất cả các quỹ tự bảo hiểm rủi ro không giống nhau nên cần phải hiểu sự khác biệt giữa các chiến lược quỹ tự bảo hiểm rủi ro. Thu nhập từ đầu tư, sự bất ổn định và rủi ro là các yếu tố có sự khác nhau đối với mỗi chiến lược. Một vài chiến lược không liên quan trực tiếp đến thị trường chứng khoán có thể tạo ra nguồn thu nhập ổn định với độ rủi ro và thua lỗ thấp so với quỹ tương hỗ. Một quỹ đầu tư thành công sẽ nhận ra được sự khác biệt, biết kết hợp các chiến lược và các loại tài sản khác nhau để tạo ra thu nhập ổn định và lâu dài hơn các quỹ đầu tư tư nhân. Đặc điểm của các quỹ tự bảo hiểm rủi ro Các quỹ tự bảo hiểm rủi ro sử dụng nhiều biện pháp tài chính khác nhau để giảm thiểu rủi ro, gia tăng thu nhập và tối thiểu sự liên hệ trực tiếp với thì trường chứng khoán và cổ phiếu. Rất nhiều quỹ tự bảo hiểm rủi ro linh động trong lựa chọn đầu tư (có thể sử dụng bán ngắn hạn, đầu cơ vay nợ, chứng khoán phái sinh). Các quỹ tự bảo hiểm rủi ro có thu nhập đầu tư khác nhau, tính không ổn định khác nhau và rủi ro khác nhau. Không phải tất cả nhưng rất nhiều chiến lược quỹ tự bảo hiểm rủi ro có xu hướng chống lại sự suy giảm trên các thị trường giao dịch. Nhiều quỹ tự bảo hiểm rủi ro có khả năng tạo ra những thu nhập không xuất phát từ thị trường. Nhiều quỹ tự bảo hiểm rủi ro đặt mục tiêu rõ ràng về thu nhập đi đối với bảo toàn vốn hơn là chỉ đặt tầm quan trọng về thu nhập. Hầu hết các quỹ tự bảo hiểm rủi ro được quản lý bởi các chuyên gia có kinh nghiệm về đầu tư với tính nguyên tắc cao và sự cần mẫn. Các quỹ hưu trí, các công ty bảo hiểm, các ngân hàng tư nhân và các gia đình hoặc cá nhân giàu có đầu tư vào quỹ tự bảo hiểm rủi ro để giảm thiểu sự bất ổn định trong đầu tư và gia tăng lợi nhuận. Các nhà quản lý quỹ có tính chuyên biệt cao, mỗi người chỉ hoạt động mua bán, giao dịch trong lĩnh vực mình am hiểu và có lợi thế cạnh tranh. Hedge fund là loại quỹ đầu tư có tính đại chúng thấp và không bị quản chế quá chặt. Khái niệm "Hedge Fund" không nhằm ám chỉ tới một loại pháp nhân riêng biệt của thị trường vốn, mà chỉ là cách người ta gọi nhằm phân biệt các quỹ ít bị quản chế chặt chẽ (do các điều luật nới lỏng hơn). Thường các quỹ loại này chỉ giao dịch với một số lượng hạn chế các nhà đầu tư vào quỹ, vì thế thường mỗi nhà đầu tư phải bỏ ra những khoản tiền đầu tư rất lớn đóng theo phương thức "gọi vốn không đại chúng" (private placement). Ngược với các quỹ Hedge Fund là các quỹ có tính đại chúng cao, phần đông dân cư đều có thể tham gia đầu tư và thường được xếp vào nhóm các Quỹ hỗ tương (Mutual Funds). Do ít không bị quản chế ngặt nghèo, Hedge Fund thường rất linh hoạt trong các chiến lược đầu tư. Hedge fund có thể bỏ tiền vào đầu tư những loại phái sinh chứng khoán (như cổ phiếu) và chỉ bị chế tài bởi các điều khoản do hợp đồng kiểm soát quỹ. Tùy thuộc vào "Chỉ dẫn đầu tư" và "Phương thức", Hedge Fund có thể mua hay bán trên thị trường và tham gia các hợp đồng futures, swaps hoặc các phái sinh chứng khoán khác. Như vậy, Hedge Fund có thể tiến hành các chiến lược đầu tư phức hợp, nhiều khi hưởng lợi từ các khoảnh khắc dao động lớn của thị trường, hoặc khi thị trường đang bán tháo tài sản tài chính. Do hạn chế số nhà đầu tư tham gia, Hedge Fund thường "mở" cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp, tổ chức hoặc có trình độ cao. Vậy Hedge Fund khác gì các quỹ đầu tư không đại chúng Private Equity?Chúng khá giống các quỹ Private Equity, có nhiều điểm chung. Cả 2 loại này đều ít bị chế tài ngặt nghèo, và là các "rổ tiền riêng" đầu tư vào chứng khoán và đều kích thích bộ máy quản lý quỹ bằng lợi nhuận do quỹ sinh ra. Nhưng hầu hết các quỹ Hedge fund đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản rất cao, và cho phép các nhà đầu tư góp vốn hoặc rút vốn khỏi quỹ khá dễ dàng. Các quỹ Private equity lại hầu hết là đầu tư vào các tài sản vốn không thanh khoản như các công ty ở giai đoạn trước khi trở thành đại chúng. Như vậy, nhà đầu tư vào Private Equity Fund thường bị "giam tiền" trong suốt đời hoạt động của quỹ (thường từ 7-10 năm). Hedge fund thường đầu tư vào các quỹ mua bán các công ty chưa đại chúng, chứ không đầu tư trực tiếp lên tài sản vốn của những công ty này. Hedge Fund khác gì Mutual FundMặc dù cùng là các "rổ tiền" thu hút từ các nhà đầu tư, cấu trúc 2 loại quỹ này rất khác nhau. Quỹ đầu tư Mutual Fund có tính đại chúng cao và bị quản chế ngặt nghèo bởi cơ quan quản lý giao dịch chứng khoán (ví dụ SEC), nhưng Hedge fund thì không. Nhà đầu tư vào Hedge fund bắt buộc phải là người có trình độ chuyên môn cao, có hiểu biết thấu đáo về thị trường và giao dịch. Quỹ Mutual Funds được yết giá và cổ phiếu phải có tính thanh khoản cao hàng ngày. Mutual fund bắt buộc phải có các bản cáo bạch đầy đủ, chi tiết và sẵn sàng cung cấp cho bất kỳ ai yêu cầu được xem, mà yêu cầu này có thể qua bưu điện hoặc thư điện tử. Hoạt động phải được công bố rõ ràng hàng quý, nhất là về các khoản đầu tư. Hedge Fund không phải tuân thủ các yêu cầu khắt khe này. Hedge Fund cũng không cần có tính thanh khoản giao dịch hàng ngày, ngược lại thường "khóa chặt" các khoảng thời gian rút vốn để hoạt động có thể sinh lợi. Họ chỉ trả lợi tức cho nhà đầu tư khi khoảng thời gian qui định đó kết thúc, thông qua các kiểm chứng của kế toán hành nghề chính thức và các biểu mẫu thuế công khai. Mặc dù vậy, nhiều người chấp nhận cách thức của Hedge Fund vì nó có thể sinh lợi nhiều hơn Mutual Fund cho họ. Để cạnh tranh, gần đây một số Mutual Fund đã tung ra sản phẩm mới có các đặc tính mà trước đó chỉ có Hedge Fund cung cấp cho thị trường.

Bid/Ask Spread / Chênh Lệch Giá Đặt Mua/Bán

Chênh lệch giá đặt mua/đặt bán là mức chênh lệch giữa giá mua và giá bán của cùng một giao dịch (cổ phiếu, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, tiền tệ). Giá chào bán là giá thực hiện dành cho những người muốn mua ngay, giá chào mua là giá thực hiện dành cho người muốn bán ngay. Thông thường thì giá chào bán bao giờ cũng cao hơn giá chào mua. Nếu nhà đầu tư thực hiện một giao dịch ở giá thị trường rồi sau đó thực hiện giao dịch đối ứng(ngược lại) ngay thì thường anh ta sẽ chịu mất 1 khoản chênh lệch giữa giá mua/giá bán. Nhìn chung chênh lệch giá đặt mua/bán hoàn toàn do thị trường quyết định. Nếu đặt giá bán quá cao thì không có người mua, ngược lại, giá đặt mua quá thấp thì sẽ không có người bán. Bao giờ trên bảng báo giá 1 chứng khoánnào đó cũng có nhiều mức giá đặt mua đặt bán được niêm yết, tương ứng với số lượng chứng khoán sẵn có tại mỗi mức giá. Chênh lệch giá đặt mua/đặt bán được tính giữa giá đặt mua cao nhất và giá đặt bán thấp nhất. Trước 2001, trên thị trường chứng khoán Mỹ, mức chênh lệch giá đặt mua/đăt bán tối thiểu với nhiều loại cổ phiếu là 12.5 cent=1/8 USD. Khi thị trường chứng khoán chuyển từ kiểu yết giá theo phân số (1/32 usd) sang kiểu yết giá thập phân, thì mức chênh lệch giá đặt mua/đặt bán có thể giảm xuống chỉ còn 1 cent. Sự thay đổi đó do Ủy ban chứng khoán và giao dịch Mỹ qui định, giúp tạo lập thị trường công bằng hơn cho các nhà đầu tư cá nhân.

Key Bargain / Thương Lượng Chủ Chốt

Một hình thức chỉ đạo tiền lương cụ thể mà trong đó một khoản thanh toán tiền lương được dùng làm tham chiếu cho toàn bộ những khoản lương phải trả sau đó.

Demand Management / Quản Lý Cầu

Việc kiểm soát mức tổng cầu trong một nền kinh tế thông qua việc sử dụng chính sách tiền tệ, chính sách tài chính.

Bid Wanted - BW / Bố Cáo Đấu Giá

Bố cáo đấu giá được hiểu là thông báo của người có chứng khoán, trái phiếu muốn bán và sẵn sàng xem xét các giá đặt mua. Bởi vì giá cuối cùng tuỳ thuộc vào thương lượng nên giá đặt mua theo bố cáo đấu giá không cần phải ấn định trước.  Bố cáo đấu giá thường có trên các tờ niêm yết giá được phát ở các thị trường.

Kenedy Round / Vòng Đàm Phán Kenedy

Vòng thương thuyết mậu dịch đa phương lần thứ sáu, tiến hành dưới sự bảo trợ của HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ QUAN VÀ MẬU DỊCH diễn ra ở Geneva từ 1964-1967. Không giống các vòng thương thuyết mậu dịch trước đó thường khuyến khích giảm hàng rào mậu dịch đa phương, vòng Kenedy đã dẫn tới việc thương lượng giảm thuế quan đối với những nhóm hàng hoá cụ thể chứ không thương lượng về một mặt hàng.

Bid Bond / Cam Kết Của Bên Đấu Thầu

Thuật ngữ này dùng để chỉ cam kết thực hiện của bên đấu thầu về một hợp đồng dự án quốc tế. Sự cam kết được coi như là bằng chứng về khả năng của người đấu thầu có thể thực hiện các điều khoản trong hợp đồng. Tín dụng thư hỗ trợ là một phương pháp thông thường để thông báo cam kết của bên đấu thầu.

Demand Function / Hàm Cầu

Một biểu thức đại số của BIỂU ĐỒ CẦU được diễn đạt bằng các số hạng tổng quát hoặc với các giá trị bằng các con số cụ thể cho các tham số khác nhau và thường bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến cầu.

Kano Model / Mô Hình Kano

Mô hình Kano là 1 học thuyết về phát triển sản phẩm được phát triển trong những năm 80 bởi Giáo sư Noriaki Kano, theo đó sắp xếp sự ưa thích của khách hàng theo 5 hạng mục: Hấp dẫn (Attractive) Một chiều (One-Dimentional) Phải có (Must-be) Trung lập (Indifferent) Đối lập (Reverse) Do bất đồng về ngôn ngữ, 5 hạng mục này được dịch sang tiếng Anh cũng như những thứ tiếng khác với những cái tên khác nhau, nhưng tất cả đều xuất phát từ những bài báo ban đầu viết bởi Kano. Mô hình Kano giúp ta hiểu rõ những đặc tính của sản phẩm được xem là quan trọng với khách hàng. Mục đích của mô hình này nhằm hỗ trợ việc đặc định hóa và thảo luận về sản phẩm. Mô hình Kano tập trung vào việc phân biệt các tính năng của sản phẩm, trái ngược với việc tập trung ban đầu vào những nhu cầu của khách hàng (như trong mô hình lưới Klein- Klein grid model). Kano cũng đưa ra phương pháp sắp xếp phản hồi của khách hàng với bản câu hỏi thăm dò vào trong mô hình của mình.Phương pháp Triển khai chức năng chất lượng (Quality Function Deployment- QFD) sử dụng mô hình Kano trong việc cấu trúc những ma trận QFD toàn diện. Pha trộn những dạng Kano vào trong ma trận QFD có thể bóp méo đánh giá của khách hàng với các đặc tính sản phẩm.

Hedge Fund / Quỹ Đầu Tư Thanh Khoản - Linh Hoạt

Hedge fund là loại quỹ đầu tư có tính đại chúng thấp và không bị quản chế quá chặt. Khái niệm "Hedge Fund" không nhằm ám chỉ tới một loại pháp nhân riêng biệt của thị trường vốn, mà chỉ là cách người ta gọi nhằm phân biệt các quỹ ít bị quản chế chặt chẽ (do các điều luật nới lỏng hơn). Thường các quỹ loại này chỉ giao dịch với một số lượng hạn chế các nhà đầu tư vào quỹ, vì thế thường mỗi nhà đầu tư phải bỏ ra những khoản tiền đầu tư rất lớn đóng theo phương thức "gọi vốn không đại chúng" (private placement). Ngược với các quỹ Hedge Fund là các quỹ có tính đại chúng cao, phần đông dân cư đều có thể tham gia đầu tư và thường được xếp vào nhóm các Quỹ hỗ tương (Mutual Funds). Do ít không bị quản chế ngặt nghèo, Hedge Fund thường rất linh hoạt trong các chiến lược đầu tư. Hedge fund có thể bỏ tiền vào đầu tư những loại phái sinh chứng khoán (như cổ phiếu) và chỉ bị chế tài bởi các điều khoản do hợp đồng kiểm soát quỹ. Tùy thuộc vào "Chỉ dẫn đầu tư" và "Phương thức", Hedge Fund có thể mua hay bán trên thị trường và tham gia các hợp đồng futures, swaps hoặc các phái sinh chứng khoán khác. Như vậy, Hedge Fund có thể tiến hành các chiến lược đầu tư phức hợp, nhiều khi hưởng lợi từ các khoảnh khắc dao động lớn của thị trường, hoặc khi thị trường đang bán tháo tài sản tài chính. Do hạn chế số nhà đầu tư tham gia, Hedge Fund thường "mở" cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp, tổ chức hoặc có trình độ cao. Vậy Hedge Fund khác gì các quỹ đầu tư không đại chúng Private Equity?Chúng khá giống các quỹ Private Equity, có nhiều điểm chung. Cả 2 loại này đều ít bị chế tài ngặt nghèo, và là các "rổ tiền riêng" đầu tư vào chứng khoán và đều kích thích bộ máy quản lý quỹ bằng lợi nhuận do quỹ sinh ra. Nhưng hầu hết các quỹ Hedge fund đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản rất cao, và cho phép các nhà đầu tư góp vốn hoặc rút vốn khỏi quỹ khá dễ dàng. Các quỹ Private equity lại hầu hết là đầu tư vào các tài sản vốn không thanh khoản như các công ty ở giai đoạn trước khi trở thành đại chúng. Như vậy, nhà đầu tư vào Private Equity Fund thường bị "giam tiền" trong suốt đời hoạt động của quỹ (thường từ 7-10 năm). Hedge fund thường đầu tư vào các quỹ mua bán các công ty chưa đại chúng, chứ không đầu tư trực tiếp lên tài sản vốn của những công ty này. Hedge Fund khác gì Mutual FundMặc dù cùng là các "rổ tiền" thu hút từ các nhà đầu tư, cấu trúc 2 loại quỹ này rất khác nhau. Quỹ đầu tư Mutual Fund có tính đại chúng cao và bị quản chế ngặt nghèo bởi cơ quan quản lý giao dịch chứng khoán (ví dụ SEC), nhưng Hedge fund thì không. Nhà đầu tư vào Hedge fund bắt buộc phải là người có trình độ chuyên môn cao, có hiểu biết thấu đáo về thị trường và giao dịch. Quỹ Mutual Funds được yết giá và cổ phiếu phải có tính thanh khoản cao hàng ngày. Mutual fund bắt buộc phải có các bản cáo bạch đầy đủ, chi tiết và sẵn sàng cung cấp cho bất kỳ ai yêu cầu được xem, mà yêu cầu này có thể qua bưu điện hoặc thư điện tử. Hoạt động phải được công bố rõ ràng hàng quý, nhất là về các khoản đầu tư. Hedge Fund không phải tuân thủ các yêu cầu khắt khe này. Hedge Fund cũng không cần có tính thanh khoản giao dịch hàng ngày, ngược lại thường "khóa chặt" các khoảng thời gian rút vốn để hoạt động có thể sinh lợi. Họ chỉ trả lợi tức cho nhà đầu tư khi khoảng thời gian qui định đó kết thúc, thông qua các kiểm chứng của kế toán hành nghề chính thức và các biểu mẫu thuế công khai. Mặc dù vậy, nhiều người chấp nhận cách thức của Hedge Fund vì nó có thể sinh lợi nhiều hơn Mutual Fund cho họ. Để cạnh tranh, gần đây một số Mutual Fund đã tung ra sản phẩm mới có các đặc tính mà trước đó chỉ có Hedge Fund cung cấp cho thị trường.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55