Big Push / Cú Hích Tăng Trưởng
Big push có nghĩa là: Cú hích tăng trưởng.Thuật ngữ này chỉ một trong những đóng góp vào cuộc tranh luận diễn ra vào thập kỷ 1950 và 1960 về việc tăng trưởng cân đối hay không cân đối là chiến lược phát triển phù hợp nhất cho các nước phát triển. Khái niệm "cú hích" do Rosenstein-Rodan đưa ra, ủng hộ triết lý tăng trưởng cân đối và gợi ý rằng một chương trình đầu tư lớn vào nhiều dự án sẽ khắc phục được tính không thể chia được của cung và cầu. Có những cản trở về phía cầu ở các nước đang phát triển do thị trường nhỏ. Nếu một số ngành đồng thời được tạo lập, mỗi ngành có thể tạo ra cầu đối với sản phẩm của ngành khác. Tổng cầu sẽ tăng và các ngành có thể không kinh tế sẽ trở nên có hiệu quả kinh tế. Sự chênh lệch giữa sản phẩm biên tư nhân và xã hội sẽ giảm hoặc bị loại bỏ. Các nhà phê bình cho rằng chiến lược như vậy sẽ dẫn tới lạm phát nhanh chóng và sẽ không thực tế khi mong chờ một chương trình đầu tư rộng lớn sẽ diễn ra đồng thời trong nhiều ngành ở các nước đang phát triển.
Kicker / Tác Nhân Khuyến Khích
Kicker có nghĩa là: Tác nhân khuyến khích. Tác nhân khuyến khích là lợi ích hay quyền lợi do người cho vay yêu cầu, hay người vay cung cấp để hợp đồng cho vay tiến hành thuận lợi hơn. Chẳng hạn như đối với các khoản vay bất động sản, bên cạnh lãi suất cho vay, người cho vay có thể được hưởng thêm số cổ phần trong tổng số thu nhập từ số dự án bất động sản đã được đầu tư (nếu vượt quá một khoản tiền nhất định nào đó). Theo luật cho vay tiêu dùng, thường người cho vay phải công nhận tác nhân khuyến thích là một phần của chi phí tài trợ vốn nhưng trong một số bộ luật khác điều này là không hợp lệ. Trong việc phát hành chứng khoán, một “tác nhân khuyến khích cổ phiếu” cho phép trái chủ chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu phổ thông (còn gọi là cổ phiếu thường) nếu giá trị cổ phiếu vượt quá một mức độ xác định nào đó. Vì thế, trái chủ nhận được một chứng khoán góp vốn cổ phần bên cạnh lãi suất của trái phiếu.
Capital Asset Pricing Model / Mô Hình Xác Định Giá Trị Của Tài Sản Vốn
Công thức toán học so sánh rủi ro kỳ vọng với lợi ích kỳ vọng. Các nhà đầu tư các loại tài sản có rủi ro cao sẽ mang lại lợi nhuận cao. Ví dụ các nhà đầu tư kỳ vọng cổ phiếu thường mang lại tiền lãi đầu tư cao (phần bù rủi ro) hơn tín phiếu Kho bạc ba tháng, một chứng khoán không có rủi ro. Lý thuyết này giả định các nhà đầu tư thị trường cổ phiếu được lợi đối với rủi ro thị trường, được gọi là rủi ro BETA.
Kickback / Tiền Cò
Kickback có nghĩa là Tiền cò.Thuật nghữ này được hiểu là cách thực hiện theo đó các công ty thương vụ tài chính thưởng cho những người buôn bán bằng tiền mặt, những người đã giảm giá chứng từ mua trả góp thông qua họ. Nhà nước và các hợp đồng tư người bán chi trả bí mật cho một người nào đó có công trong việc đưa cho hợp đồng hay thực hiện một thương vụ - đây là tiền đút lót bất hợp pháp. Cách hiểu khác: Quan hệ lao động việc làm bất hợp pháp theo đó người chủ đòi chi lại phần trăm tiền lương đã được luật pháp hay hợp đồng công đoàn lao động quy định, nếu công nhân còn muốn tiếp tục làm việc.
Keynesism / Trường Phái Kinh Tế Keynes
Vào những năm 30 của thế kỷ 20, khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp diễn ra thường xuyên và nghiêm trọng tại các nền kinh tế Tây Âu và Hoa Kỳ. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 cho thấy học thuyết "tự điều tiết" của trường phái cổ điển và cổ điển mới thiếu xác đáng. Lý thuyết "bàn tay vô hình" của A. Smith, học thuyết "cân bằng tổng quát" của L. Walras cũng không phát huy được hiệu quả và bảo đảm nền kinh tế phát triển khỏe mạnh. Đồng thời, sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất đòi hỏi Nhà nước can thiệp nhiều hơn vào nền kinh tế. Đây chính là các cơ sở hình thành và phát triển lý thuyết kinh tế của John Maynard Keynes. John Maynard Keynes (1884-1946) là nhà kinh tế học người Anh, giáo sư Đại học tổng hợp Cambridge, chuyên gia trong lĩnh vực tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ, cố vấn ngân khố quốc gia, thành viên Ban giám đốc ngân hàng Anh, chủ bút một tạp chí kinh tế. Tác phẩm nổi tiếng nhất của J.M Keynes là "Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ" (1936). Ông kịch liệt phê phán chính sách kinh tế của chủ nghĩa bảo thủ. Tính chất không ổn định của nền kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng lên là điều khiến Keynes lo lắng. Song, ông cho rằng, khủng hoảng và thất nghiệp không phải hiện tượng nội sinh của nền kinh tế, mà do chính sách kinh tế lỗi thời, bảo thủ và thiếu sự can thiệp của Nhà nước gây ra. Ông không đồng ý với quan điểm của trường phái kinh tế cổ điển và cổ điển mới về sự cân bằng kinh tế dựa trên cơ sở tự điều tiết của thị trường. Theo Keynes, muốn có cân bằng, Nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế. Vấn đề quan trọng nhất, nguy hiểm nhất với nền kinh tế là thất nghiệp và việc làm. Vì vậy, vị trí trung tâm trong lý thuyết Keynes là "việc làm." Lý thuyết kinh tế của J.M. Keynes đã mở ra một giai đoạn mới trong tiến trình phát triển lý luận kinh tế (cả về chức năng tư tưởng lẫn thực tiễn). Đặc trưng nổi bật của học thuyết Keynes là đưa ra phương pháp phân tích vĩ mô. Theo ông, việc phân tích kinh tế phải xuất phát từ các tổng lượng lớn để nghiên cứu mối liên hệ giữa các tổng lượng và khuynh hướng biến chuyển của chúng để tìm ra công cụ, tác động và khuynh hướng, làm thay đổi tổng lượng. J.M Keynes đưa ra mô hình kinh tế vĩ mô với ba đại lượng: 1) Đại lượng xuất phát. Đại lượng này được coi là không thay đổi hoặc thay đổi chậm. Đó là các nguồn vật chất như tư liệu sản xuất, số lượng sức lao động, mức độ trang bị kỹ thuật của sản xuất, trình độ chuyên môn hóa của người lao động, cơ cấu của thể chế kinh tế. 2) Đại lượng khả biến độc lập. Đó là những khuynh hướng tâm lý như khuynh hướng tiêu dùng, khuynh hướng tiết kiệm, ưa chuộng tiền mặt... Nhóm này là cơ sở hoạt động của mô hình, là đòn bẩy đảm bảo cho sự hoạt động của tổ chức kinh tế. 3) Đại lượng khả biến phụ thuộc. Đại lượng này cụ thể hóa tình trạng nền kinh tế như khối lượng việc làm, thu nhập quốc dân tính bằng đơn vị tiền công. Đó là các tiêu chí quan trọng cấu thành nền kinh tế. Các đại lượng này thay đổi theo sự tác động của các biến cố độc lập. Giữa các đại lượng khả biến độc lập và khả biến phụ thuộc có mỗi liên hệ với nhau. Nếu ký hiệu C là tiêu dùng, I là đầu tư, S là tiết kiệm, R là thu nhập và Q là giá trị sản lượng hiện tại thì: R = Q = C + I (1) S = R - C (2) Từ hai phương trình (1) và (2) suy ra đầu tư bằng tiết kiệm (I = S). J. M. Keynes cho rằng việc điều tiết vĩ mô nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập đòi hỏi phải khuyến khích tăng đầu tư và giảm tiết kiệm. Có như vậy, mới giải quyết được tình trạng khủng hoảng và thất nghiệp. Cũng như các đại biểu của trường phái cổ điển mới, phương pháp nghiên cứu của J. M. Keynes dựa trên cơ sở tâm lý chủ quan. Song, chỗ khác nhau là, trước đây các nhà kinh tế học của trường phái cổ điển mới dựa vào tâm lý cá biệt, còn Keynes dựa vào tâm lý xã hội. Trong lý thuyết của ông, phạm trù khuynh hướng tiêu dùng, tiết kiệm được xem là phạm trù tâm lý chung của toàn xã hội. Lý thuyết Keynes đánh giá cao vai trò của tiêu dùng và trao đổi. Keynes coi tiêu dùng và trao đổi là nhiệm vụ số một mà kinh tế học phải giải quyết. Theo ông, cùng với sự tăng lên của việc làm, thì cũng phải có sự tăng lên của thu nhập, do đó, có sự tăng lên của tiêu dùng. Nhưng mức tăng tiêu dùng chậm hơn mức tăng thu nhập, nên cầu tiêu dùng, và do dó cầu có hiệu quả, giảm xuống. Đây là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, thất nghiệp, trì trệ trong nền kinh tế. Vì vậy, để đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm cân đối cung-cầu thì cần phải nâng cầu tiêu dùng, tìm biện pháp kích thích cầu có hiệu quả. Lý thuyết Keynes bởi vậy còn có tên gọi "lý thuyết trọng cầu."
Capital Asset Pricing Model / Mô Hình Định Giá Tài Sản Vốn
Công thức toán học so sánh rủi ro kỳ vọng với lợi ích kỳ vọng. Các nhà đầu tư các loại tài sản có rủi ro cao sẽ mang lại lợi nhuận cao. Ví dụ các nhà đầu tư kỳ vọng cổ phiếu thường mang lại tiền lãi đầu tư cao (phần bù rủi ro) hơn tín phiếu Kho bạc ba tháng, một chứng khoán không có rủi ro. Lý thuyết này giả định các nhà đầu tư thị trường cổ phiếu được lợi đối với rủi ro thị trường, được gọi là rủi ro BETA.
Công thức toán học so sánh rủi ro kỳ vọng với lợi ích kỳ vọng. Các nhà đầu tư các loại tài sản rủi ro cao sẽ mang lại lợi nhuận cao. Ví dụ các nhà đầu tư kỳ vọng cổ phiếu thường mang lại tiền lãi đầu tư cao (phần bù rủi ro) hơn tín phiếu Kho bạc ba tháng, một chứng khoán không có rủi ro. Lý thuyết này giả định các nhà đầu tư thị trường cổ phiếu được lợi đối với rủi ro thị trường, được gọi là rủi ro BETA.
Công thức toán học so sánh rủi ro kỳ vọng với lợi ích kỳ vọng. Các nhà đầu tư các loại tài sản có rủi ro cao sẽ mang lại lợi nhuận cao. Ví dụ các nhà đầu tư kỳ vọng cổ phiếu thường mang lại tiền lãi đầu tư cao (phần bù rủi ro) hơn tín phiếu Kho bạc ba tháng, một chứng khoán không có rủi ro. Lý thuyết này giả định các nhà đầu tư thị trường cổ phiếu được lợi đối với rủi ro thị trường, được gọi là rủi ro BETA.
Hemline Theory / Lý Thuyết Gấu Váy Cho Thị Trường
Có ý kiến kỳ quặc cho rằng giá chứng khoán biến chuyển cùng chiều hướng tổng quát như hemlines (gấu váy) của váy dài phụ nữ. Váy ngắn trong thập niên 1920 và thập niên 1960 được xem là dấu hiệu của chứng khoán tăng giá, trong khi đó váy dài trong thập niên 1930 và 1940 được xem là biểu thị giá hạ. Dù đôi lúc nó kỳ lạ như lời tiên tri, lý thuyết gấu váy phiếu như thế được lập ra cho danh mục đầu tư thiên về trái phiếu (bond-oriented portfolios) với Kicker - phần lợi thêm - của việc chuyển đổi ra chứng khoán, dự trù để bảo hộ chống lại lạm phát.
Big Mac / Chỉ Số Big Mac
Lý thuyết "Burger" dựa trên thuyết ngang giá sức mua của tiền tệ, tin rằng một Đô la mỹ cần phải mua được một lượng hàng hóa như nhau trên tất cả các quốc gia. Bởi vậy trong dài hạn tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền hai nước bất kỳ sẽ dịch chuyển theo hướng cân bằng giá của một rổ hàng hóa và dịch vụ ở mỗi quốc gia. Và "rổ" hàng hóa mà chúng ta thường nghiên cứu có tên gọi Big Mac của McDonald được áp dụng trên 120 quốc gia. Chỉ số ngang giá sức mua Big Mac chính là tỷ giá hối đoái mà khi đó giá của một chiếc Hamburger ở Hoa Kỳ bằng với giá ở quốc gia khác. So sánh tỷ giá hối đoái thực tế với chỉ số ngang giá sức mua Big Mac có thể giúp nhà nghiên cứu đánh giá xem đồng tiền của một quốc gia được đánh giá cao hơn hay thấp hơn giá trị thực của nó. Người ta còn sử dụng chỉ số này để so sánh giá trị của một đồng tiền tại những thời điểm khác nhau Chỉ số Big Mac lần đầu tiên được đưa ra là tháng chín năm 1986 như là phương thức đơn giản nhất để đánh giá đồng tiền của một quốc gia. Và nó dần trở nên phổ biến và hiện đang là một trong những nét nổi bật nhất của tạp chí kinh tế nổi tiếng "The Economist". Hình ảnh chiếc bánh hamburger quen thuộc khiến người ta cảm thấy những con số khô khan này trở nên thật "dễ tiêu hóa". Rổ hàng hóa dùng để đánh giá sức mua của tiền tệ ở đây chỉ là một chiếc bánh sandwich Big Mac bán ở tất cả các cửa hàng McDonald's. Người ta chọn món ăn Big Mac này bởi tính phổ biến của nó trên toàn thế giới và những cửa hàng franchisee ở các địa phương thường có vai trò lớn trong việc đàm phán giá đầu vào. Do vậy giá của món ăn này có thể dùng để so sánh giá trị của hai đồng tiền. Ví dụ, giả sự giá của một chiếc bánh Big Mac ở Mỹ là 2,5 đô la còn ở Anh là 2 bảng Anh, như vậy tỷ số PPP (tỷ số ngang giá sức mua) sẽ là 2,5/2=1,25. Vậy nếu trên thực tế 1 đô la Mỹ ăn 0.55 bảng Anh (hoặc 1 bảng ăn 1,81 đô la) thì đồng bảng Anh đã được đánh giá quá cao, cao hơn 44,8% so với chỉ số Big Mac ở cả hai quốc gia. (Số liệu năm 2005) Đôi khi để đa dạng hóa và đổi mới phong cách, tạp chí The Economist thay thế chỉ số Big Mac bằng chỉ số Coca - cola năm 1997 hay chỉ số Cafe Starbuck năm 2004. Tuy nhiên chỉ số Big Mac vẫn là biểu tượng của tờ tạp chí nổi tiếng này.
Keynesian Economics / Kinh Tế Học Trường Phái Keynes
Một cụm thuật ngữ dùng để miêu tả các lý thuyết kinh tế vĩ mô về mức độ hoạt động kinh tế sử dụng các kỹ thuật do J.M.Keynes đưa ra.
Big Board / Chiếc Bảng Lớn
Big Board là tên hiệu (nickname) cho Sàn giao dịch Chứng khoán New York (NYSE).NYSE là sàn giao dịch lâu đời nhất của Mỹ, thành lập vào năm 1792. Vào khoảng những năm 1792 "sàn" giao dịch được diễn ra dưới gốc cây sung dâu (trong tiếng Mỹ gọi là cây sycamore hay buttonwood). Ngày nay khu vực này chính là phố Wall
Hedonism / Chủ Nghĩa Khoái Lạc
Triết lý cho rằng hành vi của con người bị chi phối bởi sựu tìm kiếm thú vui. Tuy nhiên, với tư cách là một triết lý, chủ nghĩa khoái lạc bị thay đổi rất nhiều bởi khái niệm về nghĩa vụ, trách nhiệm…
Keynesian Economics / Kinh Tế Theo Phái Keyne
Keynesian economics có nghĩa là: Kinh tế theo phái Keynes. Nội dung tư tưởng kinh tế xuất phát từ nhà kinh tế học người Anh và là nhà cố vấn nhà nước John Maynard Keynes (1883-1946), tác phẩm đánh dấu một bước ngoặt, The General Theory of Employment Interest anh Money, được xuất bản năm 1935. Viết suốt thời kỳ đại khủng khoảng, Keynes tin rằng sự can thiệp tích cực của nhà nước trong thị trường là phương pháp duy nhất để bảo đảm kinh tế phát triển và ổn định. Ông ta giữ lập luận cơ bản là số cầu không đủ sẽ gây ra nạn thất nghiệp và số cầu quá mức gây ra lạm phát. Vì thế nhà nước sẽ phải tác động lôi kéo mức độ của toàn thể số cầu bằng cách điều chỉnh mức chi tiêu của nhà nước và thuế khoá. Thí dụ, để tránh giảm phát Keynes ủng hộ gia tăng chi phí nhà nước và có chính sách tháo khoán tiền tệ (easy money) sẽ đưa đến kết quả là có nhiều đầu tư hơn, công ăn việc làm nhiều hơn và gia tăng tiêu thụ. Kinh tế theo phái Keynes đã có ảnh hưởng rất lớn đối với các chính sách kinh tế chung của các quốc gia công nghiệp, kể cả Mỹ. Tuy nhiên trong thập niên 1980 sau các giai đoạn suy thoái liên tục, phát triển chậm, tỷ lệ lạm phát cao tại Mỹ, người ta có một quan điểm ngược lại, các nhà chủ trương chính sách tiền tệ và phái cung cấp (supply siders) đã buộc tội việc can thiệp quá mức của nhà nước đã gây ra những rắc rối cho nền kinh tế.
Big Blue / Người Khổng Lồ Xanh
Tên hiệu (nickname) của hãng máy tính IBM (International Business Machines Corporation). Tên này bắt nguồn từ logo có hai màu xanh và trắng được in trên hầu hết các sản phẩm của họ. Sản phẩm của IBM là Máy chủ, phần mềm, các thiết bị và phần mềm lưu trữ, dụng cụ bán dẫn, các thiết bị nâng cấp và đi kèm máy tính, hệ thống máy in, Máy tính cá nhân, máy trạm, máy xách tay, v.v. Dạng công ty: Công ty đại chúngSố lượng nhân công: 366,345Tốc độ tăng nhân công: 0,8%Thu nhập ròng trong năm tài khóa 2005: 7 934 triệu Đôla
Đây là một thuật ngữ tiếng lóng đôi khi được sử dụng để chỉ Tập đoàn công nghệ máy tính đa quốc gia (IBM). Theo trang web của IBM, thuật ngữ này không bắt nguồn từ bên trong công ty. Thay vào đó, thuật ngữ này xuất hiện lần đầu tiên trên các phương tiện truyền thông vào những năm 1980. Trang web của công ty suy đoán rằng thuật ngữ này có thể được bắt nguồn từ các tờ hướng dẫn sử dụng có màu xanh đi kèm với một số sản phẩm của IBM. Một giả thuyết khác là thuật ngữ này chỉ đơn giản đề cập đến logo màu xanh của công ty. Theo Fortune, IBM là công ty lớn thứ 20 tại Hoa Kỳ vào năm 2010, trong đó công ty có khoảng 400.000 nhân viên. Công ty cũng được chú ý vì văn hóa đặc biệt của nó, bao gồm một quy định về đồng phục mà chỉ được nới lỏng vào đầu những năm 1990. Mặc dù cạnh tranh ngày càng tăng, công ty vẫn là một công ty lớn trong nhiều lĩnh vực tư vấn công nghệ và máy tính.
Hedonic Price / Giá Ẩn
Giá ẩn hay GIÁ BÓNG là tính chất của một hàng hoá. Một phần giá của loại hàng hoá đó có liên quan đến mỗi tính chất của nó và do vậy có thể đánh giá sự thay đổi về chất lượng.
Big Bang / Bùng Nổ Cải Tổ
Trong kinh tế học, "Big Bang" được dùng để chỉ sự Bùng nổ cải tổ. Bùng nổ cải tổ là thuật ngữ dùng để chỉ sự điều chỉnh của các thị trường chứng khoán ở London vào ngày 27-10-1986, biến cố này có thể so sánh với biến cố May Day ở Hoa Kỳ. Nó đánh dấu giai đoạn quan trọng tiến đến một thị trường tài chính Thế giới duy nhất.
Hedging / Lập Hàng Rào
Một hành động do người mua hoặc người bán thực hiện để tự bảo vệ thu nhập của mình khi có sự tăng giá xảy ra trong tương lai.
Keynes Plan / Kế Hoạch Keynes
Bộ tài chính Anh đưa ra những đề nghị về việc thiết lập một liên minh Thanh toán Bù trừ quốc tế tại Hội nghị Tài chính và tiền tệ của Liên hợp quốc ở BRETTON WOOD, New Hampshire năm 1944. John Maynard Keynes là người chịu trách nhiệm chủ yếu về việc tạo lập các đề nghị đó nên được gọi chung là Kế hoạch Keynes.
Kế Hoạch Keynes (Keynes Plan) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Kế Hoạch Keynes (Keynes Plan) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Capital Asset / Tài Sản Vốn
Một tài sản không được mua bán như một phần của công việc kinh doanh hàng ngày. Ví dụ: nhà xưởng, máy móc, đất đai hoặc chứng khoán.
Một loại tài sản đó không phải là dễ dàng bán được trong quá trình thường xuyên của các hoạt động của một doanh nghiệp để lấy tiền mặt và thường thuộc sở hữu đối với vai trò của mình trong việc góp phần vào khả năng của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận. Hơn nữa, người ta cho rằng những lợi ích thu được từ tài sản đó sẽ mở rộng ra ngoài khoảng thời gian một năm. Trên bảng cân đối kế toán của một doanh nghiệp, tài sản cố định được đại diện bởi các con số tài sản, máy móc thiết bị. Ví dụ như đất đai, nhà cửa, máy móc, vv Nói chung, đây là những tài sản có thể không nhanh chóng được chuyển thành tiền mặt và thường chỉ thanh lý trong trường hợp xấu nhất. Ví dụ, một công ty có thể xem xét bán một tài sản vốn nếu nó đã được xem xét tái cơ cấu hoặc công ty bước vào thủ tục phá sản. Tùy thuộc vào các doanh nghiệp tham gia, tài sản vốn có thể đại diện cho phần lớn các tài sản được sở hữu. Ví dụ, trong các thiết bị hoạt động nặng như khai thác dầu khí, không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy phần lớn các tài sản của một doanh nghiệp là tài sản vốn.
Big Bang / Vụ Đảo Lộn Lớn
Một cụm thuật ngữ phổ biến dùng để miêu tả những thay đổi về các quy chế ở London- trung tâm tài chính của Anh vào tháng 10/1986.
Capital Adequacy Ratio - Car / Tỉ Lệ An Toàn Vốn Tối Thiểu
Tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu là một thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng. Nó được tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng. CAR = [(Vốn cấp I + Vốn cấp II) / (Tài sản đã điều chỉnh rủi ro)] * 100% Tỉ lệ này thường được dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính toàn cầu. Bằng tỉ lệ này người ta có thể xác định được khả năng của ngân hàng thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành. Hay nói cách khác, khi ngân hàng đảm bảo được tỉ lệ này tức là nó đã tự tạo ra một tấm đệm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ những người gửi tiền. Chính vì lý do trên, các nhà quản lý ngành ngân hàng các nước luôn xác định rõ và giám sát các ngân hàng phải duy trì một tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, ở Việt Nam tỉ lệ này hiện đang là 8%, giống như chuẩn mực Basel mà các hệ thống ngân hàng trên thế giới áp dụng phổ biến. Khi tính toán tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, người ta xét đến hai loại vốn: vốn cấp I(vốn nòng cốt) và vốn cấp II(vốn bổ sung), trong đó vốn cấp I được coi là có độ tin cậy và an toàn cao hơn. Ngoài yêu cầu đảm bảo cho CAR từ 8% trở nên, các ngân hàng còn phải đảm bảo tổng vốn cấp II không được vượt quá 100% vốn cấp I.






