HH Bond / Trái Phiếu HH
Loạt trái phiếu tiết kiệm HH có mệnh giá từ 500 - 10 000 đôla. Trái phiếu E và EE có thể được sử dụng để đổi lấy trái phiếu HH. Trái phiếu HH trả lãi suất nửa năm 1 lần và đáo hạn sau 20 năm. Trái phiếu H đáo hạn sau 30 năm. Thuế thu nhập liên bang đánh trên những trái phiếu này có thể được hoãn lại cho đến khi trái phiếu được bán hoặc đáo hạn. Trái phiếu này không còn được bán bởi Kho bạc, hoặc không được dùng để đối lấu loại trái phiếu khác từ tháng 9 năm 2004.
Impossibility Of Paretian Liberal / Tính Không Thể Của Tự Do Pareto
Tên đặt cho một định lý do A.K.Sen trình bày. Định lý chứng minh rằng không thể có QUY TẮC QUYẾT ĐỊNH XÃ HỘI nào có thể đồng thời thoả mãn tiêu chuẩn Pareto và cho phép các cá nhân có những quyết định về một số vấn đề "riêng tư" mà không tính đến (bất kể) nguyện vọng của những người khác (tự do cá nhân).
Tên đặt cho một định lý do A.K.Sen trình bày. Định lý chứng minh rằng không thể có QUY TẮC QUYẾT ĐỊNH XÃ HỘI nào có thể đồng thời thoả mãn tiêu chuẩn Pareto và cho phép các cá nhân có những quyết định về một số vấn đề "riêng tư" mà không tính đến (bất kể) nguyện vọng của những người khác (tự do cá nhân).
Capital Consumption Allowance / Khoản Khấu Trừ Cho Sử Dụng Tư Bản
Mức chênh lệch giữa tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và sản phẩm quốc dân ròng trong khuôn khổ hạch toán thu nhập quốc dân Mỹ. Xem NATION IMCOME
Heteroscedasticity / Hiệp Phương Sai Không Đồng Nhất
Một bài toán kinh tế lượng trong đó phương sai của sai số trong một mô hình hồi quy không đồng nhất giữa các quan sát.
Heterogeneous Product / Sản Phẩm Không Đồng Nhất
Các hàng hoá hay dịch vụ do các đơi vị kinh tế đưa ra trên một thị trường nhất định mà có tổ hợp thuộc tính không giống nhau dưới con mắt của người mua sản phẩm đó.
Capital Charges / Các Phí Tổn Cho Vốn
Các chi phí mà các công ty và cá nhân đưa vào tài khoản của họ để trả lãi vốn vay, khấu hao tài sản và trả nợ vay. Xem ANNUAL CAPITAL CHARGE.
Capital Budgeting / Phân Bổ Vốn Ngân Sách
Quá trình phân bổ vốn có thể đầu tư cho các vốn dự án.
Heterogeneous Capital / Vốn Không Đồng Nhất
VỐN vật chất thuộc nhiều loại đặc trưng riêng cho từng quá trình sản xuất và không được chuyển sang quá trình khác. Khái niệm này trở nên lỏng lẻo với ý tưởng rằng một hàng hoá vốn dễ chia nhỏ có thể sử dụng cho sản xuất nhiều hàng hoá trong nhiều quá trình.
Vốn Không Đồng Nhất (Heterogeneous Capital) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Vốn Không Đồng Nhất (Heterogeneous Capital) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Capital Balance Account / Cán Cân Vốn
Cán cân vốn (Hay tài khoản vốn): Là một bộ phận của cán cân thanh toán của một quốc gia. Nó ghi lại tất cả những giao dịch về tài sản (gồm tài sản thực như bất động sản hay tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ) giữa người cư trú trong nước với người cư trú ở quốc gia khác. Khi những tuyên bố về tài sản nước ngoài của người sống trong nước lớn hơn tuyên bố về tài sản trong nước của người sống ở nước ngoài, thì quốc gia có thặng dư tài khoản vốn (hay dòng vốn vào ròng). Theo quy ước, dòng vốn vào ròng phải bằng thâm hụt tài khoản vãng lai.Căn cứ vào hình thứ đầu tư, cán cân vốn bao gồm:- Đầu tư trực tiếp (FDI): - Đầu tư gián tiếp: Bao gồm các khoản đầu tư như mua trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ, đầu tư mua cổ phiếu nhưng chưa đạt tới mức độ để kiểm soát công ty nước ngoài, các khoản vốn ngắn hạn như tín dụng thương mại, hoạt động tiền gửi, mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn, các khoản tín dụng ngân hàng ngắn hạn, mua bán ngoại tệ...Nếu bỏ qua sai sót, cán cân vãng lai cộng cán cân vốn ạo thành cán cân thanh toán tổng thể của quốc gia (Overall Balance - OB). Ta có:OB = Current Balance Account + Capital Balance AccountNếu OB > 0, ta nói rằng cán cân thanh toán quốc tế là thặng dư. Nếu OB < 0, thì cán cân thanh toán quốc tế là thâm hụt.
Knowledge Economy / Nền Kinh Tế Tri Thức
Nền kinh tế tri thức là một khái niệm mới được nhắc đến trong vài năm trở lại đây khi mà sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo môi trường cho sự phát triển và trao đổi tri thức trong cộng đồng nhân loại. Trong nền kinh tế tri thức thì thông tin và tri thức sẽ là thương phẩm chính, khác với nền kinh tế nông nghiêp hoặc công nghiệp nơi thương phẩm chính là nông sản hoặc sản phẩm công nghiệp thuần túy. Khái niệm kinh tế tri thức ra đời từ năm 1995 do Tổ chức OPCD nêu ra "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống". Sau đó, năm 2003 chương trình "Tri thức vì sự phát triển" đã đưa ra một khái niệm rộng hơn: "Là nền kinh tế sử dụng một cách hiệu quả tri thức cho sự phát triển KT-XH. Điều này bao gồm việc chuyển giao, cải tiến công nghệ nước ngoài cũng như sự thích hợp hoá và sáng tạo hoá các tri thức cho những nhu cầu riêng biệt". Theo Giáo sư, Viện sĩ Đặng Hữu - Trưởng ban Công nghệ thông tin thì "Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống".
Heterogeneity / Tính Không Đồng Nhất
Chất lượng của hàng hoá, dịch vụ hoặc các yếu tố tạo ra sự khác nhau trong quan niệm của người tiêu dùng và người sản xuất.
Bilateral Assistance / Trợ Giúp Song Phương
Sự trợ giúp hay viện trợ dựa trên một thoả thuận trực tiếp giữa hai nước; khác với viện trợ đa phương đến từ một nhóm các nước hay từ một tổ chức quốc tế. Xem FOREING AID, TIED AID.
Knife Edge. / Điểm Tựa Mỏng Manh
Trong THUYẾT TĂNG TRƯỞNG, một vật cản đối với tăng trưởng ổn định khi Tốc độ tăng trưởng đảm bảo là không ổn định, ngoài vấn đề nữa là liệu tốc độ đảm bảo có ngang bằng Tốc độ tăng trưởng tự nhiên hay không.
Klein Goldberger Model / Mô Hình Klein Goldberger
Một mô hình KINH TẾ LƯỢNG cỡ vừa của nền kinh tế Mỹ cho giai đoạn 1929-1952 (không kể cả giai đoạn 1942-1945) đã có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc xây mô hình kinh tế lượng từ thời gian xuất bản năm 1955 đến nay.
Big Push / Cú Đẩy Mạnh
Để một đóng góp vào cuộc tranh luận diễn ra vào thập kỷ 1950 và 1960 về việc tăng trưởng cân đối hay không cân đối là phù hợp nhất cho các nước đang phát triển.
Kiting / Gian Lận
1. Là hành động khai báo sai giá trị của công cụ tài chính nhằm mục đích kéo dài thời hạn tín dụng hoặc tăng cường khả năng tài chính cho công ty. 2. Đây là hành động gian lận bao gồm việc thay đổi hoặc phát hành Séc hay Hối phiếu trong khi khả năng tài chính của công ty không cho phép-công ty không có đủ lượng tiền mặt cần thiết. Việc Giả mạo thường xảy ra khi các công ty Tài chính không cung cấp được chứng khoán cho các giao dịch mua và bán theo đúng thời hạn quy định (trước ba ngày của thời hạn thanh toán). Đối với công ty không nhận được số chứng khoán cần thiết, công ty đó sẽ bị yêu cầu phải mua phần còn thiếu trên thị trường mở và đòi công ty có lỗi giao chậm (hoặc nợ) bất cứ chi phí phát sinh nào. Công ty mắc nợ sẽ thực hiện hàng động giả mạo nếu nó không mua được số chứng khoán cần thiết trên thị trường mở và và sẽ duy trì một short position (xem position), trì hoãn việc giao công cụ hoặc tham gia vào các giao dịch trái với quy định của SEC (Securities and Exchange Commission-Ủy ban Chứng khoán và Sở giao dịch) yêu cầu các giao dịch thương mại lành mạnh. Trong quá khứ các séc được thanh toán theo phương pháp bù trừ (clearing) giữa các ngân hàng luôn kéo dài thêm một khoảng thời gian. Các cá nhân thường lợi dụng đặc điểm này để viết séc "khống" (bad check/check kiting) để rút tiền mặt. Vì vậy các ngân hàng đã phải áp dụng các biện pháp bắt đặt cọc hoặc bắt trả thêm tiền khi tờ séc quay trở lại ngân hàng.
Herfindahl Index / Chỉ Số Herfindahl
Một thước đo độ tập trung của thị trường công nghiệp.
Kinked Demand Curve / Đường Cầu Gấp Khúc
Dựa trên giả thuyết rằng trong các thị trường có đặc điểm độc quyền nhóm, sự phụ thuộc lẫn nhau buộc các doanh nghiệp phải tin rằng giảm giá xuống dưới mức hiện hành sẽ bị các đối thủ làm theo, nhưng tình hình đó sẽ không diễn ra đối với trường hợp tăng giá.
Killer Bees / Người Bảo Vệ Kẻ Yếu
Killer Bees có nghĩa là: Người bảo vệ kẻ yếu. Những người giúp đỡ công ty tự vệ chống lại các nỗ lực muốn chiếm quyền của một công ty khác (takeover bid - đặt giá mua cao hơn giá thị trường nhằm chiếm quyền công ty kia). Killer Bees thường là những ngân hàng đầu tư lập ra các sách lược nhằm làm cho mục tiêu chiếm quyền trở nên kém hấp dẫn hay khó mà thụ đắc.
Herd Mentality / Hiệu Ứng Đàn Bầy
Hiệu ứng đàn bầy là thuật ngữ dùng để chỉ cách mà con người bị ảnh hưởng bởi những người xung quanh trong việc lựa chọn những hành vi, xu hướng, và những món đồ để mua nhất định. Ví dụ về Hiệu ứng đàn bầy có thể thấy rất rõ ở hành vi mua những sản phẩm công nghệ cao như máy điện thoại, iPod, hoặc các xu hướng mua cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, mua quần áo thời trang, mua xe, cách trang trí nhà cửa... Trong môn tâm lí học xã hội còn có một số thuật ngữ khác cũng tương tự hiệu ứng đàn bầy. Theo triết gia Nietzche người sáng tạo ra thuật ngữ này, những người nằm trong "tầm ảnh hưởng" của hiệu ứng đàn bầy được chia ra thành hai nhóm nhỏ hơn: thứ nhất, những người thận trọng với hành vi của mình - họ suy xét sự phù hợp với niềm tin - tín ngưỡng, và những thức đó đó sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của họ như thế nào; thứ hai, những người bị ảnh hưởng bởi truyền thông, không suy xét cẩn thận - họ dễ dãi hơn và dựa vào những cái gì mà thông tin công cộng nói, theo đúng xu hướng và theo "bầy." Thuật ngữ Herd Mentality được kết hợp từ thuật ngữ "Herd" tức là bầy đàn, và "Mentality" tức là trí lực. Tuy nhiên, định nghĩa chính xác nhất phải là: Cách thức mà đám đông hành động theo các cách tương tự nhau ở cùng một thời điểm. Hiệu ứng bầy đàn và hành vi bầy đàn đã được sử dụng để miêu tả hành vi của con người từ khi bầy người nguyên thủy hình thành bộ lạc, di cư thành từng nhóm, và làm nông nghiệp cùng với nhau. Hành vi bầy đàn trong xã hội hiện đại được nghiên cứu bởi Sigmund Freud và Wilfred Trotter trong cuốn Herd Instincts in Peace and War.






