Delivery Versus Payment / Nguyên Tắc Thanh Toán Chứng Khoán DVP
Nếu nghiệp vụ lưu ký là điều kiện trước tiên để tham gia thị trường chứng khoán thì thanh toán chứng khoán và tiền là dịch vụ hỗ trợ sau của giao dịch chứng khoán, là hoạt động cuối cùng để hoàn tất các giao dịch chứng khoán, theo đó các bên tham gia giao dịch sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình: bên phải trả chứng khoán thực hiện giao chứng khoán, bên phải trả tiền thực hiện việc chuyển tiền, lần lượt trên cơ sở kết quả bù trừ chứng khoán và tiền. Để giảm rủi ro cho các đối tác tham gia giao dịch, việc thanh toán chứng khoán và tiền luôn phải đảm bảo nguyên tắc giao chứng khoán đồng thời với việc thanh toán tiền, hay còn gọi là nguyên tắc DVP (Delivery versus Payment). Điều này sẽ tránh xảy ra rủi ro cho người giao chứng khoán do có sự chênh lệch giữa thời gian giao chứng khoán và nhận tiền.Tuy nhiên muốn áp dụng nguyên tắc DVP các Trung tâm giao dịch chứng khoán phải tin học hóa chu trình giao dịch chứng khoán, điển hình là sử dụng cơ chế CSD (trung tâm ký thác chứng khoán) để vận hành hệ thống nhập sổ chứng khoán và tiền mặt. Biện pháp CSD được coi là công cụ lý tưởng để nhằm giảm thiểu quá trình vận chuyển các chứng khoán giấy bởi việc nhập sổ đã đảm bảo được sự thu hồi và phi vật thể hoá của chứng khoán. Thời hạn của việc thanh toán được quyết định bởi chu kỳ thanh toán. Tùy thuộc vào điều kiện của từng nước mà chu kỳ thanh toán áp dụng cụ thể là: T+1; T+2 hay T+3; tức là cứ đến thời điểm T+1 hoặc T+2 hoặc T+3 thì việc thanh toán chứng khoán và tiền được tiến hành. Trong đó: T được hiểu là ngày giao dịch (ngày mà giao dịch được thực hiện) 1; 2; 3 là số ngày giao dịch (không tính ngày nghỉ ngày lễ) tiếp theo kể từ ngày T Theo khuyến nghị của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS), của Tổ chức các ủy ban Chứng khoán quốc tế (IOSCO) cũng như của nhóm G30 (nhóm các quốc gia có TTCK phát triển nhất), các nước nên áp dụng chu kỳ thanh toán tối đa là T+3. Có 2 lí do cho việc lựa chọn chu kỳ thanh toán T+3, một là, 3 ngày sau ngày giao dịch là một khoảng thời gian đủ dài để người chơi chứng khoán đặt một số lệnh mua và bán nhất định và đượckhớp lệnh, để họ thu được hoặc bán đi một khối lượng giao dịch đủ lớn, tức là 3 ngày là khoảng thời gian hợp lý để nhìn lại và tổng kết tài khoản chứng khoán của mình. Hai là, thị trường chứng khoán luôn biến động hàng ngày hàng giờ, nó biến một người hôm qua còn là một người bình thường, hôm nay đã trở thành tỷ phú, nhưng đến sáng mai có thể trắng tay. 3 ngày cũng là quãng thời gian không hề ngắn để chứng kiến những thay đổi mạnh mẽ trên sân chơi chứng khoán. Chính vì vậy, việc thanh toán chứng khoán và tiền ngày T+3 nhằm giúp nhà đầu tư biết sau 3 ngày "chơi" hiện họ đang giữ bao nhiêu lượng cổ phiếu hay trái phiếu, bao nhiêu tiền trong tài khoản, lỗ lãi ra sao để có phản ứng đúng đắn và sát sao với biến động của thị trường. Trong hoạt động thanh toán chứng khoán và tiền, phương thức thanh toán cũng là mối quan tâm của các bên tham gia giao dịch. Phương thức thanh toán được quyết định bởiphương thức bù trừ, do thanh toán luôn được thực hiện trên cơ sở của kết quả bù trừ. Chính vì vậy, nếu phương thức bù trừ là đa phương thì phương thức thanh toán cũng là thanh toán đa phương và tương tự, phương thức bù trừ là song phương thì phương thức thanh toán cũng sẽ là thanh toán song phương.
Bergsonnian Social Walfare Funtion / Hàm Phúc Lợi Xã Hội Bergson
HÀM PHÚC LỢI XÃ HỘI Bergson là một hàm giá trị thực mà biến số của nó bao gồm các đại lượng thể hiện các mặt khác nhau của tình trạng xã hội, thường là đo độ thoả dụng của mỗi cá nhân hay mỗi hộ gia đình.
Benelux Economic Union / Liên Minh Kinh Tế Benelux
Một liên minh về hải quan ban đầu được thiết lập do công ước vào năm 1932 giữa chính phủ BỈ,Luých Xăm Bua và Hà Lan. Tổ chức hiện tại được thành lập theo hiệp định liên minh kinh tế Benelux vào năm 1958.
Capital Accumulation / Các Khoản Miễn Thuế Cho Vốn
Miễn thuế đối với thuế công ty liên quan đến chi tiêu cho vốn của hãng.
Headline Effect / Hiệu Ứng Báo Chí
Đây là hiệu ứng xảy ra khi có các tin tức xấu về hoạt động của một doanh nghiệp hoặc một nền kinh tế đăng tải trên các báo chí hoặc phương tiện thông tin đại chúng. Cho dù điều này có đúng hay không thì phản ứng của cộng đồng các nhà đầu tư đối với những thông tin này cũng là rất nhanh chóng và mạnh mẽ. Rất nhiều nhà kinh tế cho rằng các tin tức xấu này có thể khiến người tiêu dùng hay các nhà đầu tư đắn đo hơn trong việc tiêu tiền hay tiến hành đầu tư. Một trong những ví dụ nổi bật của hiệu ứng báo chí đó là việc có quá nhiều các bài báo viết về tác động của giá xăng dầu đối với người tiêu dùng. Một số nhà kinh tế học tin rằng người ta càng quan tâm chú ý tới giá xăng dầu chừng nào thì họ càng tiêu tiền thận trọng chừng ấy, bởi đây là mặt hàng rất thiết yếu, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống kinh tế. Hiệu ứng báo chí có thể được coi là sự khác biệt giữa sự sụt giảm có thể điều chỉnh một cách hợp lý trong chi tiêu và sự sụt giảm do kết quả của các sự kiện báo chí.
Benelux / Liên Minh Bỉ-Hà Lan-Luxembourg
Benelux là tên một vùng trong châu Âu gồm 3 nước lân cận nhau là Bỉ, Hà Lan và Luxembourg. Tên gọi Benelux được ghép chữ đầu trong tên gọi của 3 quốc gia Belgium (Bỉ), Netherlands (Hà Lan) và Luxembourg. Tên này được dùng để chỉ Liên minh Thuế quan Benelux từ năm 1958. Công dân của 3 nước này được tự do đi lại không cần visa bao gồm cả các công dân của các nước khác (khi đến đã nhập cảnh một trong ba nước này).
Delinquency / Để Nợ Quá Hạn
Để nợ quá hạn có nghĩa là không trả khoản thế chấp khi đến hạn trả. Với hầu hết các thế chấp, kỳ trả thường là ngày đầu tháng. Mặc dù không bị trả tiền phạt trả trễ (late fee) tính theo số ngày trễ, món trả này cũng vẫn được coi là trả trễ hạn. Khi trễ hạn hơn ba mươi ngày, hầu hết các nơi cho vay sẽ báo cáo sự trễ hạn này cho một hay nhiều văn phòng tín dụng.
Capital Accumulation / Tích Lũy Vốn
Quá trình tích luỹ vốn qua đầu tư ròng dương. Xem GOLDEN RULE OF ACCUMULATION.
Head And Shoulders Pattern / Mô Hình Đầu Và Vai (S-H-S)
Mô hình đầu và vai (S-H-S) là một thuật ngữ trong phân tích kỹ thuật để mô tả dạng đồ thị trong đó giá của một cổ phiếu diễn biến như sau: 1. Tăng lên đến đỉnh rồi giảm nhẹ2. Sau đó giá tăng tiếp vượt qua đỉnh giá lần thứ nhất và lại giảm3. Cuối cùng, giá lại tăng nhưng không bằng đỉnh giá lần hai rồi giảm thêm một lần nữa. Đỉnh thứ hai cao nhất, giống như đầu, so với hai vai là đỉnh thứ nhất và thứ ba, thấp hơn một chút. Mô hình đầu và vai thường được đề cập đến như một đường đảo chiều và hay gặp nhất khi thị trường đang có xu hướng lên, đồng thời khi đó mô hình này cũng là đáng tin cậy nhất. Ở giai đoạn cuối, thị trường cũng bắt đầu hạ nhiệt, cung và cầu thị trường khi đó nhìn chung được coi là cân bằng.
Deleverage / Giảm Bớt Nợ
Deindustrialization / Phi Công Nghiệp Hoá
Sự phát triển trong một nền kinh tế quốc dân theo hướng tăng tỷ trọng của nghành dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc nội hoặc trong số việc làm trong các ngành dịch vụ.
Capital Account / Tài Khoản Vốn
Tài khoản vốn là một phần qua trọng của cán cân thanh toán, nó là thuật ngữ chỉ sự ghi lại các giao dịch liên quan tới sự vận động đi vào và đi ra của luồng vốn một quốc gia nào đó. Theo đó, vốn đổ vào trong nước thông qua khoản đi vay, đầu tư từ nước ngoài vào trong nước sẽ được ghi trong khoản mục Có (+) của bảng Cân đối thanh toán; ngược lại, vốn rời khỏi quốc gia khi cho vay, mua tài sản nước ngoài sẽ được hạch toán vào khoản mục Nợ (-) trong bảng Cán cân thanh toán.
Là tài khoản quốc gia cho thấy sự thay đổi ròng trong sở hữu tài sản cho một quốc gia. Tài khoản vốn là kết quả của đầu tư quốc tế trong khối công và khối tư nhân chảy vào và ra khỏi một quốc gia. Nó cũng cho thấy giá trị thực của doanh nghiệp tại thời điểm cụ thể. Tài khoản vốn bao gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), danh mục đầu tư và các khoản đầu tư khác, cộng với những thay đổi trong các tài khoản dự trữ. Tài khoản vốn và tài khoản vãng lai cùng nhau tạo thành cán cân thanh toán cho 1 quốc gia. Sự thay đổi của dòng vốn có thể làm mất ổn định nền kinh tế của một quốc gia, ở nhiều quốc gia cần có kiểm soát nhằm điều tiết dòng chảy tài khoản vốn.
Tài Khoản Vốn (Capital Account) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Tài Khoản Vốn (Capital Account) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.
Degree Of Operating Leverage; DOL / Tỷ Lệ Đòn Bẩy Hoạt Động Kinh Doanh
Đây là một loại tỷ số đòn cân nợ mô tả hiệu ứng của việc sử dụng một mức độ nợ hoạt động nhất định của công ty, tạo ra một thu nhập trước thuế và lãi vay ( EBIT). Đòn cân nợ hoạt động liên quan đến việc sử dụng một tỷ lệ chi phí cố định so với chi phí biến đổi lớn trong hoạt động của doanh nghiệp. Một mức độ cao hơn trong đòn cân nợ hoạt động, cho thấy một biên độ thay đổi rộng hơn của EBIT liên quan đến sự thay đổi trong doanh số, trong khi tất cả các yếu tố được giữ nguyên. Tỷ lệ đòn cân nợ hoạt động được xác định như sau: DOL= (% thay đổi trong EBIT) / (% thay đổi trong doanh số). Tỷ số này rất có ích cho các nhà phân tích tài chính để xem xét xem hiệu quả của từng mức độ đòn cân nợ hoạt động đối với việc tạo ra thu nhập dự kiến cho doanh nghiệp. Tỷ số này có thể cũng được sử dụng để công ty quyết định xem mức độ tối ưu trong tỷ lệ đòn cân nợ là bao nhiêu nhằm tối đa hoá EBIT của doanh nghiệp.
Capital / Tư Bản / Vốn
1)Một từ dùng để chỉ một yếu tố sản xuất do hệ thống kinh tế tạo ra. 2)Một từ cũng được sử dụng làm thuật ngữ chỉ các tài sản TÀI CHÍNH. Xem FINANCIAL CAPITAL, CAPITAL CONTROVERSY, FINANCE.
Degree Of Freedom - DF / Bậc Tự Do
Số lượng các thông tin có thể thay đổi một cách độc lập với nhau.
Capital / Vốn
Vốn là một khái niệm hết sức mơ hồ mà định nghĩa cụ thể của nó phụ thuộc vào văn cảnh sử dụng. Vì thế, để độc giả có cái nhìn đầy đủ về khái niệm này, chúng tôi xin đưa ra định nghĩa "vốn" của một số bộ từ điển lớn: Tài sản tài chính hoặc giá trị tài chính của tài sản như tiền mặt. Các xí nghiệp, máy móc và dụng cụ được sở hữu bởi một công ty. Nói chung, nó chỉ nguồn tài chính sẵn sàng để sử dụng. Tiền mặt hay hàng hóa được sử dụng để mang lại thu nhập bằng cách đầu tư vào một công việc kinh doanh hoặc một tài sản có lợi tức (income property) khác. Giá trị tịnh của một công ty- chính bằng tổng tài sản của nó trừ các nghĩa vụ vay nợ. Tiền, tài sản, và các giá trị khác, tất cả tổng hợp lại thể hiện sự giàu có của một cá nhân hoặc một công ty.
1. Ngân hàng. Đo lường sức mạng tài chính; vốn được đầu tư trong một ngân hàng, bao gồm cổ phiếu thường và đánh giá cổ phiếu ưu đãi, chứng khoán ủy thác chuyển đổi, giấy nợ vốn, cộng với lợi nhuận giữ lại. Vốn cổ đông là vốn ban đầu (được gọi là vốn góp hay vốn sở hữu) cần để đạt chuẩn một ngân hàng, hay vốn dự phòng khoản lỗ hoạt động, như nợ khó đòi, và là nguồn bảo vệ tiền của người gửi. Năm 1989, các cơ quan điều phối ngân hàng duyệt lại các tiêu chuẩn về vốn dành cho các định chế ngân hàng sau khi đạo luật cải cách phục hồi thực thi định chế tìa chính, yêu cầu các Hiệp Hội Cho vay và tiết kiệm đáp ứng các tiêu chuẩn giống nhau về khả năng nguồn vốn như các ngân hàng quốc gia. Theo các nguyên tắc sửa đổi, có hai yêu cầu chung: mức vốn tối thiểu được gọi là vốn cốt lõi bằng 3% tổng tài sản, và tỷ lệ vốn căn cứ rủi ro bằng 8% tài sản được điều chỉnh theo rủi ro, sau ngày 31/12/1992. Các định chế ngân hàng được yêu cầu đáp ứng cao hơn hai tỷ lệ này khi xác định khả năng về vốn của họ, như được xác định bởi các quy định ngân hàng. Theo các nguyên tắc Vốn căn cứ rủi ro, tài sản của cá ngân hàng được phân loại theo rủi ro (vì chúng đại diện cho tiền vay và đầu tư vốn) và các quy định về vốn được xác định từ các rủi ro gán với mỗi loại tài sản. Do vậy, một tài sản được định nghĩa là 100% vốn cần thiết sẽ yêu cầu 100% vốn căn cứ rủi ro 8%. Nói cách khác, cứ 100$ tiền vay và đầu tư, ngân hàng sẽ cần trung bình 8$ cho việc trang trải vốn. Xem CAPITAL RATIO; TOTAL CAPITAL. 2. Tài chính. Cổ phần của một doanh nghiệp cộng với lợi nhuận kinh doanh hay thặng dư, đảm bảo tài chính cho sự phát triển lâu dài. Cũng được gọi là vốn góp, hay vốn cổ phần của chủ sở hữu. Xem NET WORTH; PAID-IN CAPITAL.
1. Tài sản tài chính hoặc giá trị tài chính của tài sản, như tiền mặt2. Các xí nghiệp, máy móc và các thiết bị thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Vốn là một khái niệm hết sức mơ hồ mà định nghĩa cụ thể của nó phụ thuộc vào văn cảnh sử dụng. Nói chung, nó là 1 nguồn lực tài chính dùng để sử dung.
Capex / Capital Expenditure(s)
Capex viết tắt của cụm Capital Expenditure(s): chi phí-phí tổn Là các quỹ được công ty sử dụng để nâng cấp hoặc tậu mới các loại tài sản vật chất như bất động sản (nhà cửa-đất đai), nhà máy để sản xuất, hoặc trang thiết bị. Loại phí tổn này được sử dụng để phát triển sản xuất và duy trì hoạt động của doanh nghiệp. Những chi phí như thế bao gồm tất cả mọi thứ từ việc sửa mái toà nhà đến việc xây mới cả một nhà máy sản xuất. Lượng chi phí công ty phải sử dụng dựa trên quy mô của doanh nghiệp và ngành công nghiệp mà nó đang hoạt động. Một trong những ngành phải đầu tư vốn và chi phí nhiều nhất bao gồm công nghiệp dầu khí, công nghiệp viễn thông, và hệ thống phân phối gas-điện-nước. Dưới phương diện kế toán, Capex là một khoản chi phí nâng cấp được tính vào nguyên giá khi loại tài sản đó phải là tài sản mua mới hoặc là một khoản công ty bỏ ra để làm tăng tuổi thọ và/hoặc hiệu quả cho tài sản hiện có. Nếu một khoản chi được tính là nguyên giá thì nó phải được chuyển giá trị vào tài sản; điều này đòi hỏi công ty phải tính khấu hao lại cho tài sản trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của nó. Tuy nhiên nếu chi phí đó chỉ được sử dụng để duy trì tài sản ở trạng thái ban đầu thì chi phí đó sẽ được trừ dần vào các kỳ tiếp theo của năm.
Niche Market / Thị Trường Ngách
Thị trường ngách là một phần rất nhỏ so với toàn bộ thị trường. Thị trường ngách hình thành khi có những nhu cầu tiềm năng đối với một sản phẩm hoặc dịch vụ chưa được đáp ứng bởi các nhà cung cấp lớn trên thị trường. Một thị trường ngách cũng có thể hình thành khi có một nhóm nhỏ các khách hàng tiềm năng. Một công ty khai cung cấp sản phẩm cho thị trường ngách có thể vẫn đạt được lợi nhuận ngay cả khi quy mô của công ty không lớn so với các công ty đang chiếm lĩnh thị trường hay các công ty độc quyền do lợi nhuận có được từ sự chuyên môn hoá để phục vụ những phân đoạn thị trường xác định. Các công ty này có thể vẫn có lợi nhuận ngay cả khi không tạo ra được lợi ích kinh tế theo quy mô. Thị trường ngách có thể bị bỏ qua hoặc xem nhẹ đối với các hãng lớn do họ coi rằng tiềm năng của thị trường này quá nhỏ.
Hayek, Friedrich A.Von / (1899-1992)
Sinh ra và học tại Viên, Hayek là người lãnh đạo một số cơ sở của trường kinh tế London và các trường đại học ở Chicago, Freiburg và Salzburg. Năm 1974, ông được trao giải Nobel kinh tế cùng với G.MYRDAL. Lời dẫn khi trao giải Nobel đã công nhận cống hiến mở đường của ông về lý thuyết tiền tệ và lao động, về hiệu quả lao động của các hệ thống kinh tế khác nhau, và lĩnh vực nghiên cứu của ông bao gồm cả cơ cấu luật pháp trong hệ thống kinh tế. Trong cuốn Giá cả và sản xuất (1931), ông kết hợp lý thuyết tiền tệ với lý thuyết của trường phái Áo về vốn. Với tác phẩm The Road to Serfdom (Đường Xuống Kiếp Lao Tù) (1944), ông chuyển sang lĩnh vực triết học chính trị và luật pháp, trong đó ông phân tích vấn đề tự do, một chủ đề được nâng lên trong (Constitution of Liberty) Hiến Pháp Tự do (1960). Ngoài ra, Hayek đã có nhiều đóng góp trong lịch sử tư duy trí tuệ như trong tác phẩm John Stuart Mill và Harriet Taylor (1951) và trong phương pháp luận như Cuộc phản cách mạng khoa học. (Xem AUSTRIAN SCHOOL)
News Release; Press Release; Press Statement / Thông Cáo Báo Chí
News release/ Press release/ Press statement đều được dịch là Thông cáo báo chí, là một thuật ngữ thường dùng trong PR. Thông cáo báo chí là bản tóm tắt ghi lại những thông tin về một chương trình hoặc một vấn đề mà người gửi muốn giới truyền thông quan tâm. Thông thường, thông cáo báo chí được gửi dưới dạng thư điện tử, fax đến người biên tập của các tòa soạn báo, tạp chí, đài phát thanh, trung tâm truyền hình,…Những trung tâm dịch vụ thương mại cũng thường nhận cung cấp các thông cáo báo chí. Đôi khi, thông cáo báo chí được dùng để thông báo tin tức về các buổi hội nghị, thảo luận. Thông cáo báo chí khác với bài báo (article). Bài báo là do phóng viên viết và công bố, còn thông cáo báo chí do cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp,…tạo và gửi đến các trung tâm nói trên, khuyến khích họ công bố, từ đó thu hút sự quan tâm của giới truyền thông, khách hàng và công chúng. Thông cáo báo chí phải ngắn gọn, cụ thể, không dùng từ thuật ngữ chưa giải thích, những từ mạnh, sáo rỗng. Thông cáo báo chí cũng giống như một bài đưa tin nhanh, được viết dưới dạng kim tự tháp ngược. Đoạn đầu tiên là “Đoạn dẫn” ghi những thông tin quan trọng. Các đoạn sau phát triển thêm thông tin theo trình tự giảm dần độ quan trọng. Thông tin ít quan trọng được nói đến cuối cùng.






