Distributive Judgement / Sự Xem Xét Khía Cạnh Phân Phối; Biện Minh Phân Phối
Khi các nhà kinh tế đánh giá các chính sách hay dự án, họ gặp phải những khó khăn như các chính sách ảnh hưởng không chỉ đối với tổng sản lượng của nền kinh tế mà cả cách thức sản lượng đó và lơi ích được phân phối giữa cá cá nhân.
Bourgeoisie / Tầng Lớp Trưởng Giả; Tầng Lớp Tư Sản
Cụm thuật ngữ này được sử dụng để chỉ một bộ phận của xã hội công nghiệp thắng thế trong cuộc cách mạng Công nghiệp như chủ hãng và các nhà chuyên môn.
International Commodity Agreements / Các Hiệp Định Hàng Hoá Quốc Tế
Các hiệp định giữa các nước sản xuất và tiêu dùng, nhưng đôi khi chỉ là hiệp định của các bên sản xuất, nhằm bảo đảm ổn định giá cả các hàng hóa sơ chế.
Carbon Credit / Giấy Phép Khí Thải
Giấy phép cho phép lượng chất thải là một biện pháp để làm giảm lượng chất thải và khí thải gây hiệu ứng nhà kính bằng cách kiểm soát lượng chất thải tối đa hàng năm và để chothị trường giao dịch lẫn nhau, bên thừa bán cho bên thiếu, và trả nhau các khoản tiền tương đương. Các giấy phép có thể được mua và bán trên các thị trường quốc tế bằng giá thị trường. Có rất nhiều các công ty bán giấy phép cho các khách hàng là các tổ chức thương mại hoặc cá nhân, những người muốn giảm thiểu lượng khí thải CO2 trên cơ sở tự nguyện. Nghị định thư Kyoto được kí giữa 169 quốc gia đã thống nhất vấn đề chất thải gây ô nhiễm và đã quy định lượng khí thải tối đa gây ra hiệu ứng nhà kính mà mỗi nước tham gia bị giới hạn gọi là quota. Đến lượt mình, các nước này lại quy định quota đối với các ngành công nghiệp hoặc tổ chức trong nước. Mỗi đơn vị sẽ có một lượng giấy phép cho phép thải một lượng khí nhất định, mỗi giấy phép cho phép được thải 1 mét tấn khí CO2 hoặc đơn vị đo lường tương đương. Những tổ chức không sử dụng hết số giấy phép có thể bán lại cho những tổ chức đang bị thiếu, bán riêng cho nhau hoặc bán trên thị trường mởi. Mua bán giấy phép cho phép lượng khí thải giữ ở mức ổn định, nhưng các doanh nghiệp có thể trao đổi cho nhau và tạo ra sự linh hoạt. Nghị định thư Kyoto đã được tất cả các thành viên thuộc Liên minh Châu Âu EU lựa chọn. Mỹ và Australia chưa phê chẩn Nghị định thư Kyoto, nhưng các chương trình áp dụng tương tự cũng đang được cân nhắc bởi một số bang.
Linear Expenditure Systems / Các Hệ Thống Chi Tiêu Tuyến Tính
Trong các hệ thống chi tiêu tuyến tính, các HÀM CẦU được diễn tả đối với các nhóm hàng hoá, chức không phải với các hàng hóa đơn lẻ.
International Chamber Of Commerce - ICC / Phòng Thương Mại Quốc Tế
Phòng Thương mại Quốc tế (International Chamber of Commerce - ICC). Một trong các nhiệm vụ cốt yếu của ICC là làm cho việc buôn bán của các công ty ở các nước khác nhau được dễ dàng hơn, do đó góp phần vào việc mở rộng buôn bán quốc tế. Các phương pháp bao gồm các quy tắc của ICC để chỉ đạo việc buôn bán và trả tiền mà một ví dụ đứng hàng đầu là các Quy tắc và Thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ (UCP). Các quy tắc này được thiết lập nên bởi các chuyên gia từ khu vực tư nhân hoạt động trong các tiểu ban của ICC, họ dành nhiều thời giờ của mình vì lợi ích của một giới kinh doanh rộng rãi hơn. UCP được sửa đổi thường xuyên để bắt kịp tốc độ phát triển của công nghệ thông tin và liên lạc. Lần sửa đổi gần đây nhất là UCP500.
Linear Estimator / Ước Lượng Tuyến Tính
Một công thức ước tính các tham số của phương trình hồi quy, trong đó các ước tính được tìm ra như là các hàm tuyến tính của các giá trị biến phụ thuộc ước lượng OLS là một cách ước lượng tuyến tính.
Linear Dependence / Phụ Thuộc Tuyến Tính
Một tính chất của một tập hợp các vectơ trong đó một trong các vectơ có thể được biểu diễn bằng một tổ hợp tuyến tính của các vectơ khác.
International Cartel / Cartel Quốc Tế
Một hiệp định giữa các nhà sản xuất, khi số lượng sản xuất của họ còn nhỏ, để phân chia với nhau thị trường thế giới về một loại hàng hoá nhằm thu được lợi nhuận trên mức cạnh tranh và khi suy thoái thì lại tránh được cạnh tranh khốc liệt.
Bounded Rationality / Tính Duy Lý Bị Hạn Chế
Một khái niệm được H.A.SIMON đưa ra cho rằng mặc dầu các cá nhân cư xử theo lý trí theo đó sự sắp đặt sở thích cho dù là hoàn chỉnh, nhất quán và kín kẽ, nhưng khả năng thu nhập và xử lý thông tin của họ lại bị hạn chế, nghĩa là nó bị giới hạn bởi khả năng tính toán của trí óc con người.
International Bank For Reconstruction And Development / Ngân Hàng Tái Thiết Và Phát Triển Quốc Tế
Một ngân hàng phát triển quốc tế được thành lập vào năm 1945 cùng với Quỹ tiền tệ quốc tế IMF theo các điều khoản của hiệp định được ký trong Hội nghị về Tài chính và Tiền tệ của Liên hợp quốc tổ chức tại BRETTON WOODS, New Hampshire tháng 7 năm 1944.
Linear Combination / Tổ Hợp Tuyến Tính
Tổng của một dãy biến số (hoặc các VECTƠ) đã được nhân với một số hàng số nào đó.
Internalization / Nội Hoá
Một tình huống trong đó một ngoại ứng, thường là ngoại ứng phi kinh tế, được tính toán đến và SẢN LƯỢNG của hàng hoá gây ra tác động không tốt được giảm xuống mức tối ưu, đồng thời vẫn tồn tại một lượng ngoại ứng tối ưu, nghĩa là chi phí của việc giảm ngoại ứng đi thêm một đơn vị nữa lớn hơn lợi ích thu được từ việc làm như vậy.
Boulwarism / Chủ Nghĩa Boulware
Quá trình thương lượng tập thể về các điều khoản và điều kiện tuyển dụng thường là thoả hiệp và nhượng bộ.
Linder Thesis / Thuyết Linder
Thuyết của nhà kinh tế Thụy Điển có tên là Linder cho rằng các nước càng có thu nhập bình quân đầu người giống nhau thì lượng buôn bán về hàng chế tạo giữa các nước đó càng cao vì ngoại thương được coi là việc mở rộng tiêu dùng và sản xuất trong nước.
Limit-On-Open Order / Lệnh Giới Hạn Tại Phiên Mở Cửa
Đây là một loại lệnh giới hạn dùng để mua hoặc bán một loại cổ phiếu tại phiên mở cửa thị trường nếu mức giá thị trường thoả mãn các điều kiện giới hạn. Loại lệnh này chỉ có hiệu lực trong phiên giao dịch đầu tiên, sau đó nó sẽ không còn hiệu lực nữa. Những nhà đầu tư tin rằng giá mở cửa là mức giá thực hiện tốt nhất thường muốn đặt lệnh giới hạn tại phiên mở cửa. Ví dụ: giả sử bạn là một nhà đầu tư đang nắm trong tay 1000 cổ phiếu của công ty ABC và muốn bán chúng vào phiên mở cửa thị trường, tuy nhiên bạn cũng muốn chắc chắn rằng bạn sẽ nhận được ít nhất là 50$ trên mỗi cổ phiếu. Khi đó bạn nên đặt lệnh giới hạn tại phiên mở cửa. Nếu trong phiên đầu tiên này, giá cổ phiếu cao hơn 50$, lệnh của bạn sẽ được thực hiện, nhưng nếu mức giá giao dịch trên thị trường thấp hơn 50$/cp, lệnh của bạn sẽ bị huỷ và bạn sẽ không phải bán cổ phiếu của mình với mức giá thấp hơn mong muốn.
Bottom-Up Investment / Đầu Tư Từ Dưới Lên
Đây là một chiến lược đầu tư trong đó doanh nghiệp đơn giản chỉ quan tâm đến thành tích của riêng mình, mà không quan tâm đến các khía cạnh của nền kinh tế. Những nhà quản lý đi theo chiến lược này sẽ xem xét rất chặt chẽ cách quản lý của công ty, lịch sử, mô hình kinh doanh, triển vọng phát triển và những đặc điểm khác của công ty mình. Nhà quản lý sẽ không xem xét ngành công nghiệp nói chung cũng như những xu hướng kinh tế và sau đó thực hiện phép ngoại suy. Những người ủng hộ chiến lược đầu tư từ dưới lên tin rằng một số công ty phát triển mạnh hơn hẳn so với đối thủ, và do đó sẽ hoạt động tốt hơn dù nền kinh tế kém hiệu quả.
Bottom Line / Kết Quả Kinh Doanh Sau Thuế
Kết luận, dòng cuối của một báo cáo tài chính của một giao dịch hoặc hoạt động kinh doanh của một công ty, tổ chức. Thuật ngữ này đề cập đến thu nhập ròng của các công ty (lợi nhuận hoặc lỗ ròng).
Internal Rate Of Return - IRR / Tỉ Suất Hoàn Vốn Nội Bộ
IRR là tỉ lệ khấu trừ được sử dụng trong tính toán nguồn vốn để quy giá trị thuần củadòng tiền hiện tại của một dự án cụ thể về 0. Hiểu một cách chung nhất, tỉ lệ hoàn vốn nội bộ càng cao thì khả năng thực thi dự án là càng cao. IRR còn được sử dụng để đo lường, sắp xếp các dự án có triển vọng theo thứ tự, từ đó khiến cho công ty có thể dễ dàng hơn trong việc cân nhắc nên thực hiện dự án nào. Nếu giả định rằng tất cả các yếu tố khác của các dự án là như nhau thì dự án nào có tỉ suất hoàn vốn nội bộ cao nhất thì dự án đó có thể được ưu tiên thực hiện đầu tiên. IRR đôi khi còn được gọi là tỉ suất hoàn vốn kinh tế ERR (economic rate of return). Chúng ta cũng có thể coi IRR là tốc độ tăng trưởng mà một dự án có thể tạo ra được. Vì tỉ lệ hoàn vốn nội bộ thực tế của một dự án khi thực hiện xong luôn khác với tỉ lệ ước tính nên một dự án có tỉ lệ IRR tương đối cao so với các dự án khác thì vẫn có khả năng sẽ tạo ra tăng trưởng cao hơn. IRR cũng có thể được so sánh với tỉ suất hoàn vốn trên thị trường chứng khoán. Nếu một công ty không thấy dự án nào có IRR tốt hơn mức lợi nhuận có khả năng tạo ra trên thị trường tài chính, công ty đó có thể đơn giản là đầu tư tiền của mình vào thị trường này thay vì thực hiện dự án. Trong việc tính toán phân bổ nguồn vốn có rất nhiều cách khác nhau để đánh giá một dự án. Mỗi cách thức đều có những ưu nhược điểm riêng. IRR là một chỉ số thường xuyên được sử dụng. Nhưng vì chỉ sử dụng một tỉ lệ chiết khấu duy nhất trong việc tính toán IRR nên sẽ có nhiều tình huống ảnh hưởng tới IRR. Nếu một nhà đầu tư tiến hành định giá hai dự án, cả hai đều sử dụng chung một tỉ suất chiết khấu, cùng dòng tiền ước tính, cùng chịu rủi ro như nhau và thời gian thực hiện ngắn, IRR có thể là một chỉ số hiệu quả. Nhưng vấn đề là ở chỗ tỉ suất chiết khấuluôn thay đổi theo thời gian. Ví dụ sử dụng lãi suất trái phiếu kho bạc làm tỉ suất chiết khấu. Mức lãi suất này có thể thay đổi từ 1% đến 20% trong vòng 20 năm, do đó dẫn đến sai lệch trong tính toán.
Distributive Efficiency / Hiệu Năng Phân Phối
Các chi phí phân phối là các chi phí vận chuyển, tồn trữ và vận hành cùng với lợi nhuận biên của nhà phân phối. Bên cạnh đó, các nhà sản xuất còn phải chịu thêm các chi phí bán hàng (quảng cáo và các chi phí khác) bằng cách tạo ra và hỗ trợ mức cung sản phẩm của mình. Để quy trình phân phối đạt hiệu quả cao nhất, người ta xét đến hiệu năng phân phối. Hiệu năng phân phối tối ưu đạt được khi các chi phí phân phối vật chất được tối thiểu hoá và các chi phí bán hàng duy trì ở mức tối thiểu nhằm hỗ trợ tổng cầu của thị trường. Đây là một khía cạnh của việc thực hiện thị trường, nói lên hiệu năng của thị trường trong việc phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng.






