Characteristics Theory / Lý Thuyết Về Đặc Tính Sản Phẩm
Lý thuyết này liên quan tới lý thuyết cầu tiêu dùng và công trình của K.lancaster.Ý tưởng chính là những người tiêu dùng không yêu cầu sản phẩm mà là đặc tính của sản phẩm. Xem HEDONIC PRICES.
Downside Risk / Rủi Ro Sụt Giá
Rủi ro ước lượng của một vụ đầu tư, được tính bằng cách đánh giá tổng thiệt hại có thể xảy ra trong trường hợp xấu nhất. Có rất nhiều yếu tố tham gia vào việc đánh giá này, bao gồm giá trị sổ sách, thu nhập tịnh cũng như các điều kiện chung của thị trường. Rủi ro thua lỗ của một công ty khi hoạt động kinh doanh suy giảm. Ví dụ, một nhà máy sản xuất ô tô sẽ phải chịu rủi ro sụt giá khi nền kinh tế suy sụp nếu họ không thể giảm bớt chi phí cố định của mình. Ước lượng khả năng chứng khoán sụt giá khi các điều kiện thị trường trở nên xấu đi. Đơn giản có thể coi đây là khoản tiền bạn có thể mất vì chứng khoán hay các dạng đầu tư khác. Người ta thường coi nặng rủi ro sụt giá hơn là cơ hội có thể kiếm lãi.
Bullion / Thỏi Vàng
Vàng hay các kim loại quý dạng thanh hay tiền đồng. Các trung tâm mua bán vàng lớn là Luân Đôn và Zurich, cùng với trung tâm mua bán các hợp đồng vàng kỳ hạn đặt tại New York. Dự trữ tiền của các Ngân hàng trung ương hầu hết lưu trữ các thỏi vàng. Xem EARMARKED RESERVES; GOLD FIX.
Multinational Corporation / MNC / Công Ty Đa Quốc Gia
Công ty đa quốc gia còn được gọi là Công ty xuyên quốc gia. Có rất nhiều nỗ lực nhằm phân biệt hai loại hình tổ chức công ty này, nhưng tất cả các nghiên cứu của giới học thuật đều coi hai loại hình công ty này không khác nhau. Tham khảo thêm tác phẩm Leviathans - Multinational Corporations and the New Global History của Anfred D. Chandler và Bruce Mazlish, 2005.
Bullet Payment/ Balloon Payment/ Bullet Repayment / Trả Một Lần
Một khoản nợ được trả đúng một lần vào lúc đáo hạn. Trong khoảng thời gian khoản nợ được vay, tiền lãi được trả theo từng đợt như thỏa thuận. Ngoài cách trả một lần, các khoản nợ còn được trả dần.
Multinational Corporation / Công Ty Đa Quốc Gia
Là một doanh nghiệp lớn đóng trụ sở tại một nước nhưng lại điều hành các công ty con thuộc sở hữu hoàn toàn hoặc một phần của học ở các nước khác.
Chaos Theory / Học Thuyết Hỗn Loạn
Học thuyết hỗn loạn còn có tên "non-linear dynamics" Nói theo cách đơn giản, học thuyết hỗn loạn là một nỗ lực để thấy và hiểu những trật tự đằng sau những hệ thống phức tạp mà mới nhìn qua thì chúng tưởng chừng như rất hỗn loạn. Học thuyết hỗn loạn đã được áp dụng vào nhiều ngành khác nhau, từ việc dự báo thời tiết, đến thị trường chứng khoán. Liên quan đến thị trường chứng khoán, những ý tưởng liên quan đến học thuyết hỗn loạn tin rằng giá là nhân tố cuối cùng ảnh hưởng đến hành vi mua một cổ phần, trái phiếu hay một vài loại chứng khoán khác. Sự thay đổi trong giá cả có thể được quyết định thông qua những phép tính chặt chẽ dự đoán những nhân tố sau: 1. Những thứ như động cơ cá nhân, nhu cầu, khát vọng, hy vọng, sự sợ hãi, và niềm tin của riêng người kinh doanh thường rất phức tạp và không rõ ràng.2. Những thay đổi trong số lượng3. Gia tốc của các thay đổi4. Động lượng đằng sau những thay đổi. Học thuyết hỗn loạn vẫn còn gây ra rất nhiều tranh cãi và cực kì phức tạp.
Multilateral Trade / Thương Mại Đa Phương
Là hình thức thương mại giữa một số nước với nhau, những lượng hàng xuất và nhập của các nước này không cân bằng giữa từng cặp nước với nhau, mặc dù nước nào cũng có xu hướng cân bằng trong tổng chi ngoại thương và tổng thu ngoại thương.
Bull Trap / Bẫy Tăng Giá
Bẫy tăng giá (bull trap) trong xu hướng thị trường đi xuống (downtrend) là một tín hiệu giả cho thấy dường như chứng khoán đang có dấu hiệu đảo chiều, bắt đầu tăng giá (bull) sau một đợt sụt giảm (decline). Nhưng thực tế, chứng khoán lại quay trở lại xu thế giảm sau tín hiệu phục hồi đó. Nó như một cái bẫy (trap) đánh lừa nhà đầu tư mua vào vì họ nghĩ rằng chứng khoán đã đi lên. Bẫy tăng giá thường được một số nhà đầu tư lớn giăng ra khi họ muốn tiếp tục mua cổ phiếu với giá hời hoặc khi họ thực hiện giao dịch bán khống. Loại bẫy này rất nguy hiểm đối với các nhà đầu tư ngắn hạn, thích nhảy sóng.Bulltrap ngược lại với beartrap.
Changing Money Supply / Thay Đổi Lượng Cung Tiền
FED định kỳ tác động tới số lượng tiền trong lưu thông khi nó quyết định mua hay bán các chứng khoán chính phủ tại thị trường mở. Để hạ nhiệt một nền kinh tế khi quá nhiều tiền đang lưu thông, New York FED bán ra các chứng khoán chính phủ, thu tiền lại, mà nếu không thì lượng tiền này sẽ dành cho hoạt động vay mượn. Và để kích thước tăng trưởng kinh tế, FED tạo thêm tiền bằng việc mua các chứng khoán vào. Với mọi mục tiêu thực tế, không có giới hạn nào đối với lượng tiền FED có thể tạo ra. 100 triệu đô-la chỉ là một mức tăng khiêm tốn trong tổng cung tiền. Trong một tháng điển hình, FED có thể bơm vào thêm 4 tỷ đô-la hoặc chỉ 1 tỷ đô-la vào nền kinh tế.
Multilateral Investment Guarantee Agency (MIGA) / Cơ Quan Bảo Hiểm Đầu Tư Đa Phương
Là một thành viên của Ngân hàng thế giới. MIGA được hình thành lập vào năm 1988 với chức năng chuyên trách là khuyến khích đầu tư cổ phần và các đầu tư trực tiếp vào các nước đang phát triển.
Dow Jones Wilshire 5000& 4500 / Chỉ Số Dow Jones Wilshire 5000 & 4500
Chỉ số kết hợp DJW 5000 đại diện cho tất cả các cổ phiếu của công ty có trụ sở tại Mỹ, phát hành chứng khoán để giao dịch trên các thị trường, và có mức giá sẵn sàng cho giao dịch . Chỉ số Dow Jones Wilshire 4500 là chỉ số phụ của chỉ số DJW 5000, trong đó các công ty trong nhóm S&P 500 không được tính. Chính vì những tiêu chí trên, chỉ số DJW 5000 bao gồm hầu như toàn bộ cổ phần phổ thông, REITs và cổ phần của công ty hợp danh loại Limited Partnership, đầu tiên được giao dịch trên NYSE, NASDAQ, hoăck American Stock Exchange. Công thức tính chỉ số: Trong đó: M số công ty được tínhPi giá cổ phần của công ty iNj số cổ phần của công ty i Một điểm của chỉ số tương đương với khoảng 1 tỉ USD. Vì vậy, lấy giá trị của chỉ số nhân với 1 tỉ đôla sẽ có giá trị của toàn bộ thị trường chứng khoán Mỹ. Dow Jones thành lập hai phiên bản của chỉ số, một phiên bản dựa trên toàn bộ giá trị vốn hóa thị trường, và một chỉ số dựa trên mức vốn hóa thị trường đã điều chỉnh theo số cổ phiếu thực tế được giao dịch.
Bull Spread / Chênh Lệch Theo Chiều Lên
Chiến lược mua bán trong đó thương nhân mua các hợp đồng với các tháng gần (vị thế dài) và bán các hợp đồng theo tháng trong tương lai (vị thế ngắn), mong nhận được lợi nhuận nếu giá tăng. Cũng được gọi mua chênh lệch (buy a spread). Đối nghĩa là chênh lệch do đầu cơ giá xuống.
Issuing House Association / Hiệp Hội Các Nhà Phát Hành
Một hiệp hội được thành lập vào năm 1945 để tổ chức một diễn đàn nhằm tăng cường những lợi ích của các ngân hàng thương mại và các tổ chức khác hoạt động với tư cách là các nhà phát hành.
Change Column / Cột Biến Động Giá
Cột biến động so sánh giá đóng cửa ngày hôm nay so với giá đóng cửa hôm trước. Cột biến động liên quan đến cách đọc các bảng giao dịch futures.
Multilateral Aid / Viện Trợ Đa Phương
Là viện trợ bằng tiền hoặc hiện vật do một nhóm các nước cùng nhau cung cấp hoặc thông qua một tổ chức quốc tế cho một nhóm các nước khác.
Bull Note / Trái Phiếu Theo Chiều Lên
Trái phiếu có bảo hộ giá Tại Anh, trái phiếu có kèm hợp đồng option bảo hộ giá. Trị giá trái phiếu dựa trên chỉ số tài chính hay giá hàng hoá vào thời điểm thu hồi. Trị giá thu hồi của loại trái phiếu này cao hơn vốn nếu giá cơ bản (reference price - giá tham khảo) tăng nhưng thấp hơn vốn nếu giá cơ bản giảm.
Issuing House / Nhà Phát Hành
Một tổ chức, thường là một ngân hàng thương mại, bên cạnh các hoạt động khác còn chuyên môn hoá trong quản lý việc phát hành cổ phần mới, trái phiếu công ty hoặc trái phiếu nhân danh các công ty hoặc các tổ chức khác có nhu cầu về tài chính, ví dụ như chính phủ và các cấp chính quyền địa phương.
Chamberlin, Edward (1899-1967)
Một nhà kinh tế người Mỹ nổi tiếng với Lý thuyết cạnh tranh độc quyền (1933). Trong lý thuyết này, ông đã phân tích tình hình thị trường giữa cạnh tranh HOÀN HẢO và ĐỘC QUYỀN độc lập với công trình ở Anh của Joaobinson. Ông cho rằng các hãng cạnh tranh với nhau vì cầu nối với sản phẩm của họ bị tác động bởi sự tồn tại của các hãng khác, nhưng mỗi hãng lại có mức độ độc quyền nào đó vì chúng có các sản phẩm riêng mình. Cạnh tranh có thể dưới dạng cạnh tranh sản phẩm, trong đó quảng cáo rất quan trọng cũng như đối với cạnh tranh bằng giá vậy. Chanberlin nhấn mạnh tính biến dị sản phẩm đối lập với sự không hoàn hảo của thị trường, bao gồm yếu tố như tên nhãn mác, chất lượng đặc biệt, mẫu, bao bì và dịch vụ bán hàng. Một trong những kết luận nổi lên từ sự phân tích của ông là cạnh tranh độc quyền có thể có đặc trưng thừa năng lực, một kết quả bị thách thức vì nó có vẻ phụ thuộc vào giả định rằng tất cả thành viên của một nhóm hoạt động dưới những điều kiện chi phí giống nhau.
Issuing Broker / Môi Giới Phát Hành
Một số loại chứng khoán phát hành mới của các công ty hoặc tổ chức khác được những người môi giới chứng khoán điều khiển và trên phương diện này thì họ hoạt động giống như nhà phát hành. Trong tất cả những loại phát hành chứng khoán được yêu cầu trích đăng tai Sở Giao dịch Chứng khoán, người môi giới chứng khoán cho việc phát hành phải thương lượng về nội dung trích dẫn và thông báo về các điều kiện của việc phát hành, nhưng người môi giới phát hành đi tiếp thêm một bước nữa thông qua việc quản lý tất cả các phương diện của phát hành. Người ta có xu hướng sử dụng những người môi giới phát hành cho các nhà phát hành địa phương hoặc các nhà phát hành (cho những cổ đông hiện có) thể hiện quá trình vốn hóa dự trữ của công ty.






