Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Charge Off / Dự Phòng Nợ Khó Đòi

Thuật ngữ chỉ chi phí trong bản thông báo thu nhập của một công ty. "Dự phòng nợ khó đòi" có 2 loại như sau: 1. Một khoản nợ được xem là không thể thu về và do đó được xóa. Loại này được coi như "chi phí các khoản nợ xấu" trong báo cáo thu nhập, và loại khỏi bảng cân đối kế toán. 2. Chi phí bất thường trước đây do một công ty phải gánh chịu có ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và làm giảm giá trị sổ sách một số tài sản của công ty. Sụt giảm giá trị sổ sách tăng là do sự hư hại của tài sản. 1. Các chi phí nợ xấu tăng khi một công ty không có khả năng thu hồi một số khoản phải thu của mình. Khi điều này xảy ra, công ty có rất ít lựa chọn: nó có thể bán khoản nợ xấu đó cho một cơ quan chuyên đòi nợ (thương vụ sẽ được ghi lại trong sổ sách của công ty, nhưng không phải như 1 chi phí), hay chỉ đơn giản xóa nợ và coi đó như một chi phí trong bản báo cáo thu nhập. 2. Ta thường nghe các công ty tuyên bố rằng: "Chúng tôi sẽ lấy các khoản chi phí trước đây trừ vào thu nhập quý này". Điều đó có nghĩa là một sự kiện bất thường xảy ra và, mặt dù có ảnh hưởng đến thu nhập hiện tại, nó không có vẻ như sẽ xảy ra 1 lần nữa. Kết quả là, công ty sẽ cung cấp chỉ số E/S có tính đến và không tính đến chi phí này.

Dual Decision Hypothesis / Giả Thuyết Quyết Định Kép

Trong những phát triển hiện đại của kinh tế học KEYNES có lập luận cho rằng hàm cung và cầu thông thường không cho thấy những tín hiệu xác đáng về điểm cân bằng trên thị trường.

Non-performing Loan / Nợ Xấu

Nợ xấu được quy định để chỉ các khoản nợ không có khả năng trả cả gốc lẫn lãi hoặc sắp rơi vào tình trạng này. Trong vòng 3 tháng, nếu các khoản nợ mà không có khả năng trả sẽ bị quy thành nợ xấu. Tuy nhiên, cũng còn phụ thuộc vào các điều khoản thỏa thuận của hợp đồng vay nợ. Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, có phân loại nợ thành 5 nhóm, bao gồm: nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn được đánh giá có khả năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh trong tương lai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán;  nhóm 2: nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ; nhóm 3: nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày; nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày; nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, bao gồm nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý. (Cần lưu ý là cho dù có tiêu chí thời gian quá hạn trả nợ cụ thể để phân loại nợ như trên, tổ chức tín dụng vẫn có quyền chủ động tự quyết định phân loại bất kỳ khoản nợ nào vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro nếu đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng suy giảm.) Tỷ lệ trích lập dự phòng với các nhóm nợ từ 1 đến 5 lần lượt là 0%, 5%, 20%, 50% và 100%, với công thức: R = max{0, (A-C)} x r Trong đó: R - số tiền dự phòng cụ thể phải trích; A - giá trị khoản nợ; C - giá trị tài sản đảm bảo (tính bằng tỷ lệ phần trăm quy định với từng loại tài sản đảm bảo); r - tỷ lệ trích lập dự phòng.

Multiplier / Số Nhân

Là tỷ số thay đổi trong thu nhập với thay đổi ban đầu trong chi tiêu mà tạo ra thay đổi thu nhập nói trên.

Dual Currency Bond / Trái Phiếu Lưỡng Tệ

Là loại trái phiếu ghi bằng một loại tiền tệ, nhưng lại thanh toán tiền lãi theo một loại tiền tệ khác tại một tỷ giá hối đoái cố định. Hay còn được gọi là một công cụ nợ với lãi suất và gốc được thanh toán bằng hai loại tiền tệ khác nhau. Loại tiền tệ phát hành trái phiếu được gọi là đồng tiền cơ bản sẽ được các lại tiền tệ dùng để thanh toán lãi xác định dựa trên số tiền lãi được thanh toán. Những trái phiếu lưỡng tệ là những ngoại tệ có thể gây rủi ro hối đoái rất cao. Nếu những người nắm giữ trái phiếu là các loại tiền tệ chủ yếu sẽ được hoàn trả với giá cao thì họ sẽ thu được một khoản lợi nhuận lớn, nhưng nếu ngược lại thì người đó sẽ bị thua lỗ tiền. Những nhà đầu tư có thể sử dụng cách thức hoán đổi lưỡng tệ bằng cách ấn định một tỷ giá hối đoái cố định để bù đắp rủi ro hối đoái của trái phiếu lưỡng tệ. Ngoài ra, trái phiếu lưỡng tệ cũng là một phương án tốt cho môt công ty đa quốc gia tài trợ cho một chi nhánh nước ngoài.

DSM / Cơ Chế Giải Quyết Tranh Chấp Thương Mại

Cơ chế của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) về giải quyết tranh chấp thương mại (sau đây gọi tắt là DSM) với tư cách là một thiết chế của WTO mới chỉ tồn tại hơn 10 năm kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995 tới nay.Tuy nhiên, cơ chế trước đó - cơ chế giải quyết tranh chấp theo Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) đã tồn tại từ năm 1948 tới năm 1994. Mặc dù cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT, chủ yếu là các quy định của hai Điều XXII và XXIII của GATT, có nhiều điểm bất cập, như việc vận hành theo nguyên tắc đồng thuận (tức là phải có ý kiến đồng ý của cả nước bị kiện) để ra các quyết định, chế tài đối với vi phạm yếu, kém minh bạch, cơ chế mang nặng tính ngoại giao... nhưng trong hơn 40 năm tồn tại thì GATT cũng đã đem lại những kết quả đáng khích lệ, nhất là so với các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế khác: "... từ  năm 1948 tới hết năm 1988 đã có 207 vụ kiện được khởi kiện ra GATT, trong đó 88 vụ đã đem lại phán quyết cuối cùng và trong số 88 phán quyết này thì có 68 phán quyết tuyên [nước bị đơn] có vi phạm. Riêng trong thập kỷ 1980... đã có 115 đơn kiện đem lại 47 phán quyết trong đó có 40 phán quyết tuyên có vi phạm.... [T]rong 5 năm cuối tồn tại của GATT (1990-1994) [đã có ] 71 đơn kiện đem lại 22 phán quyết, trong đó có 20 phán quyết tuyên có vi phạm..."Vòng đàm phán đa phương Uruguay (1986-1994) được đánh giá là thành công nhất trong các vòng đàm phán trong khuôn khổ GATT về nhiều phương diện, như phạm vi điều chỉnh, số lượng nước tham gia, thành lập được thiết chế quản lý các vấn đề thương mại quốc tế – Tổ chức thương mại thế giới (WTO)... tuy nhiên kết quả của Vòng Uruguay về cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế là một sự tiến bộ có ý nghĩa đặc biệt, đem lại luồng không khí mới cho thể chế thương mại đa phương, nhất là niềm tin của các nước Thành viên vào việc các quy định trong WTO sẽ được thực hiện và bất kỳ vi phạm nào cũng sẽ được điều chỉnh lại thông qua việc áp dụng các quy định về giải quyết tranh chấp của tổ chức này. Cơ chế giải quyết tranh chấp (DSM) mới trong WTO được xây dựng dựa trên các kinh nghiệm và quy định tồn tại trên 40 năm của GATT, nhưng với những sự cải thiện đáng kể về các quy định cụ thể, nhất là về quy trình tố tụng, khẳng định nguyên tắc quan trọng là trong WTO, việc các quốc gia thành viên dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát triển đều có nghĩa vụ bình đẳng trong việc bảo đảm thể chế pháp luật của mình thống nhất với WTO và phải tuân thủ theo cơ chế giải quyết các tranh chấp thương mại liên quan tới các hiệp định WTO.  Các số liệu từ 1/1/1995 cho tới hết năm 2004 thật đáng khích lệ: đã có 324  đơn khởi kiện được đưa ra WTO và thú vị là đơn khởi kiện thứ 324 chính là của Thái lan khởi kiện Hoa kỳ về việc Hoa kỳ áp dụng các biện pháp tạm thời chống bán phá giá tôm nhập khẩu từ Thái lan (tôm xuất khẩu của Việt Nam cũng bị liên quan trong vụ kiện chống bán phá giá này tại Hoa kỳ). Số liệu của WTO cho thấy sự phân bổ các vụ việc trong 10 năm qua (theo số thứ tự của WTO) như sau: năm 1995 vụ từ số 1 tới 22; 1996 vụ từ số 23 tới 64; 1997 vụ từ số 65 tới 110; 1998 vụ từ số 111 tới 154; 1999 vụ từ số 155 tới 185; 2000 vụ từ số 186 tới 215; 2001 vụ từ số 216 242; 2002 vụ từ số 243 tới 276; 2003 vụ từ số 277 tới 304 và năm 2004 vụ từ số 305 tới 324.Các số liệu về vụ việc trên đây có thể được giải thích theo các hướng khác nhau, nhưng một điều rõ ràng là cơ chế DSM đã được sử dụng thường xuyên hơn (số  liệu các vụ tranh chấp trong 10 năm đã vượt quá tổng số các vụ tranh chấp có trong lịch sử gần 50 năm của GATT) và đã khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống thương mại đa phương. Một điều quan trọng nữa là cơ chế đã đem lại một sự rõ ràng và lường trước được kết quả giải quyết vụ kiện khi các phán quyết (báo cáo) được cơ quan giải quyết tranh chấp WTO thông qua ngày càng có sự nhất quán, thống nhất cao, nhất là đối với các báo cáo của Cơ quan phúc thẩm. Chính vì vậy mà tỷ lệ các vụ kiện được hoà giải là rất cao (hơn 50%) mà không cần đi hết tố tụng và có khoảng trên 60% các vụ kiện đã được kháng cáo sau khi được xem xét ở cấp Ban hội thẩm (panel). Điều đáng mừng nữa là hầu hết các phán quyết đã được các nước thua kiện tự nguyện thi hành và chỉ có khoảng dưới 10 vụ trong 9 năm tồn tại WTO là cần đến các biện pháp trả đũa để gây sức ép cho nước thua kiện phải thi hành phán quyết, trong đó có các vụ về Thịt bò hocmôn của EC, Chuối của EC, Miễn thuế thu nhập cho các công ty bán hàng ở nước ngoài  của Hoa kỳ, Tu án chính Byrd của Hoa kỳ... đã được nói tới nhiều.Về các quy định điều chỉnh DSM của WTO có thể nêu vắn tắt như sau. So với GATT trước đây thì các quy định của WTO về giải quyết tranh chấp đã có bước phát triển rất lớn. Mặc dù căn cứ khởi kiện là như nhau (Điều XXII và Điều XXIII của GATT), nhưng GATT trước đây về cơ bản chỉ có 2 điều (Điều XXII và Điều XXIII của GATT) về giải quyết tranh chấp. Trong khi đó thì WTO ngoài Điều XXII và Điều XXIII của GATT còn có cả một Thoả thuận DSU gồm 27 điều và 4 phụ lục điều chỉnh toàn bộ các thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó, trong các tranh chấp liên quan tới một số vấn đề thương mại cụ thể thì còn có các quy định đặc biệt hay bổ sung được quy định tại một số hiệp định liên quan (được liệt kê tại Phụ lục 2 của DSU). Theo Điều 1.2 của DSU thì các quy định đặc biệt hay bổ sung này có giá trị ưu tiên áp dụng trong trường hợp có sự khác nhau giữa các quy định này với các quy định của DSU. Tuy nhiên, các quy định của DSU vẫn được coi là xương sống của cơ chế giải quyết tranh chấp (DSM) của WTO trong việc bảo đảm thi hành các quy định của WTO và có thể tóm tắt như sau:Mốc thời gian cho một quy trình tố tụng thông thường   Thời hạn  Hoạt động tố tụng 60 ngày Tham vấn, trung gian, hoà giải... 45 ngày Thành lập Ban hội thẩm 6 tháng Chuyển báo cáo cuối cùng của Ban hội thẩm cho các bên 3 tuần Chuyển báo cáo cuối cùng của Ban hội thẩm cho WTO 60 ngày DSB thông qua báo cáo (nếu không có kháng cáo) TỔNG: 1 NĂM Khi không có kháng cáo 60-90 ngày Cơ quan phúc thẩm có báo cáo 30 ngày DSB thông qua báo cáo phúc thẩm Tổng: 1 năm và 3 tháng Có kháng cáo 15 tháng Thời hạn tối đa để thi hành phán quyết khi không có kháng cáo (18 tháng nếu có kháng cáo) Tổng 2 năm và 6 tháng Không có kháng cáo Tuy nhiên, sau 10 năm thực hiện thì các quy định của WTO về giải quyết tranh chấp – gồm: DSU và các quy định đặc biệt hay bổ sung của các hiệp định thoả thuận chuyên ngành khác – cũng đã bộc lộ những yếu kém, nhược điểm cần được hoàn thiện. Điều này đã được các nước WTO dự đoán ngay từ đầu vì các quy định về giải quyết tranh chấp của WTO là các quy định mới và có tính thử nghiệm mà cần được rà soát để hoàn thiện. Tuy nhiên, các nỗ lực của các nước vẫn chưa đem lại một sự thống nhất đang kể, mặc dù các nước WTO đã thống nhất tại Hội nghị Bộ trưởng Doha tháng 11/2001 là sẽ “đàm phán về việc hoàn thiện và làm rõ DSU”. Một điều quan trọng đối với đàm phán về DSU là các kết quả đàm phán của nó không được đưa vào trọn gói các kết quả đàm phán Vòng Doha, tức là có thể hiểu làVòng Doha có thể kết thúc mà không có thoả thuận nào về kết quả đàm phán trong Doha.Một câu hỏi đã có người đặt ra là tại sao phải quan tâm tới DSM khi gia nhập WTO? Có lẽ câu hỏi này là quá xa không?- trong bối cảnh Việt Nam chúng ta còn chưa có hiểu biết đầy đủ về cơ chế này, nguồn lực, nhất là con người là rất hạn chế nên có lẽ các vấn đề tranh chấp và giải quyết tranh chấp được coi là vấn đề "tạm gác lại" khi mọi ưu tiên lúc này là cố gắng làm sao gia nhập được WTO và điều không kém phần quan trọng là chúng ta chưa có thói quen đi kiện và bị kiện trong quan hệ với các nước khác. Theo ý kiến của tác giả thì việc nghiên cứu, tìm hiểu và quyết định gia nhập WTO cần được xem xét tổng thể về mọi khía cạnh, trong đó cần có cân nhắc đặc biệt tới  ý nghĩa và vai trò của cơ chế giải quyết tranh chấp. Thực tiễn rà soát pháp luật Việt Nam phục vụ gia nhập WTO vừa qua cho thấy nhiều quy định của các hiệp định trong WTO không phải lúc nào cũng rõ ràng và chỉ tới khi có các tranh chấp cụ thể về các quy định đó thì các nội hàm pháp lý mới được làm rõ. Do đó, ngay từ bây giờ Việt Nam cần có kế hoạch nghiên cứu và chuẩn bị các điều kiện, nhất là các chuyên gia pháp luật thương mại quốc tế để tham gia vào giải quyết tranh chấp sau khi gia nhập WTO vì DSM là cơ chế hiệu quả giải quyết các bất đồng và tranh chấp quốc tế giữa khoảng 150 nước Thành viên WTO. WTO là sân chơi vì quyền lợi kinh tế, thương mại nên các nước sẽ không ngần ngại khởi kiện chúng ta khi họ thấy quyền lợi của họ bị xâm phạm và ngược lại thì chúng ta cũng cần nhanh chóng học hỏi các kinh nghiệm và kỹ năng cần thiết để cũng khởi kiện các nước khi quyền lợi của chúng ta bị xâm phạm. Tức là cơ chế giải quyết tranh chấp (DSM) của WTO là “cái gậy” mà nó có thể được người  khác sử dụng để vụt mình hay mình sử dụng để vụt người khác khi có những tranh chấp, bất đồng. DSM có tác động rất lớn tới các nước tham gia vào vụ kiện, nhất là nước thua kiện: một vấn đề được thảo luận nhiều là vấn đề chủ quyền quốc gia khi một đạo luật hay một bản án nào đó của nước Thành viên bị tuyên là có vi phạm WTO. Chính vì vậy, khi gia nhập WTO, chúng ta cũng cần tính tới các tình huống này, kể cả việc cân nhắc xem địa vị pháp lý của các phán quyết của DSM là như thế nào. Hơn nữa, do các khuyến nghị và phán quyết của WTO làm rõ và có lẽ cả phát triển nhiều quy định của WTO nên việc làm quen và nghiên cứu cơ chế này sẽ giúp Việt Nam hiểu đúng được các nghĩa vụ của mình, nhận biết xu thế phát triển của pháp luật thương mại quốc tế hiện đại. Cuối cùng việc tìm hiểu DSM của WTO cũng giúp chúng ta học hỏi và tham khảo nhiều nguyên tắc và quy định thích hợp, chẳng hạn như các quy định về minh bạch hoá tố tụng, kể cả toàn văn tất cả các phán quyết, Cơ quan xét xử phúc thẩm chỉ xem xét các vấn đề áp dụng pháp luật, tiêu chuẩn, trình độ của những người tham gia xét xử để bảo đảm tính đúng đắn và khách quan của phán quyết...Cuối cùng, là nước đi sau và tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế vào thời điểm khi các quy tắc và chuẩn mực của pháp luật thương mại quốc tế, kể cả các quy định về giải quyết tranh chấp về cơ bản đã được định hình, để tham gia có hiệu quả vào cuộc chơi WTO thì chúng ta cần chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết, trong đó không thể không có việc nhanh chóng xây dựng một đội ngũ chuyên gia pháp luật thương mại quốc tế giỏi về chuyên môn nghiệp vụ mà chúng ta đang rất thiếu và yếu. Công việc xây dựng đội ngũ này cần bắt đầu càng sớm càng tốt. Một điều cần cân nhắc là tham gia vào tranh chấp trong WTO là rất tốn kém và phức tạp nên việc chuẩn bị các điều kiện vật chất cũng là quan trọng. Việc gia nhập WTO không nên tách rời khỏi việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ thành viên của tổ chức này mà về vấn đề này thì "cái gậy" của cơ chế giải quyết tranh chấp là vô cùng quan trọng. Đó cũng là một trong các thách thức lớn của Việt Nam khi gia nhập WTO.

Charge Card / Thẻ Thanh Toán Tiêu Dùng

Đây là loại thẻ tín dụng phi ngân hàng. Khác với thẻ tín dụng do ngân hàng phát hành, thẻ này không yêu cầu phí lãi suất, nhưng đòi hỏi người sử dụng phải  thanh toán hết khi nhận được báo cáo, thường là hàng tháng. Khi tới kỳ thanh toán hàng tháng, khách hàng chỉ phải thanh toán một khoản tối thiểu nào đó, số còn lại sẽ trả dần dần, cộng với lãi. Mặc dù khác với thẻ tín dụng ngân hàng nhưng lợi ích chính của thẻ thanh toán tiêu dùng chính là giới hạn chi tiêu của chúng cao hơn thẻ tín dụng ngân hàng rất nhiều, thường là không giới hạn. Các chi phí cho một thẻ thanh toán tiêu dùng thường là phí làm thẻ cộng với các khoản tiền phạt lớn cho số tiền chưa được thanh toán khi tới hạn. Loại thẻ này không cho phép người sở hữu chuyển số dư từ tháng này sang tháng sau như với thẻ tín dụng ngân hàng.Thẻ thanh toán tiêu dùng ra đời tại Mỹ năm 1963 nhờ sáng kiến của American Express.

Multiplant Operations / Sự Vận Hành Đa Nhà Máy

Những yếu tố thông thường khuyến khích hình thức hoạt động nói trên là các thị trường phân tán về mặt địa lý cùng với chi phí vận chuyển cao, tính kinh tế về chi phí vốn cho sự hoạt động đa nhà máy và mức độ linh hoạt cao hơn trong việc đáp ứng những đòi hỏi của nhu cầu mà hình thức hoạt động đa nhà máy có thể có được.

Non-pecuniary Goals / Những Mục Tiêu Phi Tiền Tệ

Là những mục tiêu mà một cá nhân hay tổ chức đanh theo đuổi, những mục tiêu nay không thể được xác định một cách trực tiếp thành những đơn vị tiền tê.

Business Cycle / Chu Kỳ Kinh Doanh

Chu kỳ kinh doanh (hay còn gọi là chu kỳ kinh tế) là sự biến động của GDP thực tế. Trước đây sự biến động này diễn ra theo trình tự bốn pha lần lượt là suy thoái, khủng hoảng, phục hồi, và hưng thịnh. Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, khủng hoảng theo nghĩa kinh tế tiêu điều, thất nghiệp lan tràn, các nhà máy đóng cửa hàng loạt,v.v... không xảy ra nữa. Vì thế toàn bộ giai đoạn GDP giảm đi, tức là giai đoạn nền kinh tế thu hẹp lại, được gọi duy nhất là suy thoái. Suy thoái: là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái. Phục hồi: là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước khi suy thoái. Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh. Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới. Chu kỳ kinh tế khiến cho kế hoạch kinh doanh của khu vự tư nhân và kế hoạch kinh tế của nhà nước gặp khó khăn. Việc làm và lạm phát cũng thường biến động theo chu kỳ kinh tế. Vì thế, chống chu kỳ kinh tế là nhiệm vụ được nhà nước đặt ra. Tuy nhiên, vì cách lý giải nguyên nhân gây ra chu kỳ kinh tế giữa các trường phái kinh tế học vĩ mô không giống nhau, nên biện pháp đề ra cũng khác nhau. Theo Keynes, các khoản chi tiêu cho đầu tư (cả đầu tư cố định và đầu tư vào hàng tồn kho) là yếu tố dễ thay đổi. Hiện tượng này được gọi là chu kỳ đầu tư. Tại đỉnh của chu kỳ, thu nhập không tăng thêm nữa và mức đầu tư vào năng lực sản xuất mới đã đủ để thỏa mãn nhu cầu. Điều này làm cho phần đầu tư phái sinh (tức đầu tư do sự thay đổi của thu nhập quốc dân gây ra) giảm. Tại đáy của chu kỳ, đầu tư có thể tăng lên nhờ yếu tố ngoại sinh hoặc do ảnh hưởng của nhu cầu đầu tư thay thế. Trong trường hợp đó, sự gia tăng nhu cầu đầu tư làm tăng sản lượng và nhờ tác động tích cực của nhân tử, mức đầu tư phái sinh cũng tăng lên. Do vậy, khi nền kinh tế thu hẹp, thì sử dụng các chính sách tài chính và chính sách tiền tệ nới lỏng. Khi nền kinh tế khuếch trương thì lại chuyển hướng các chính sách đó sang thắt chặt.

Chu kỳ kinh doanh (hay còn gọi là chu kỳ kinh tế) là sự biến động của GDP thực tế. Trước đây sự biến động này diễn ra theo trình tự bốn pha lần lượt là suy thoái, khủng hoảng, phục hồi, và hưng thịnh. Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, khủng hoảng theo nghĩa kinh tế tiêu điều, thất nghiệp lan tràn, các nhà máy đóng cửa hàng loạt,v.v... không xảy ra nữa. Vì thế toàn bộ giai đoạn GDP giảm đi, tức là giai đoạn nền kinh tế thu hẹp lại, được gọi duy nhất là suy thoái. Suy thoái: là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái. Phục hồi: là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước khi suy thoái. Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh. Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới. Chu kỳ kinh tế khiến cho kế hoạch kinh doanh của khu vự tư nhân và kế hoạch kinh tế của nhà nước gặp khó khăn. Việc làm và lạm phát cũng thường biến động theo chu kỳ kinh tế. Vì thế, chống chu kỳ kinh tế là nhiệm vụ được nhà nước đặt ra. Tuy nhiên, vì cách lý giải nguyên nhân gây ra chu kỳ kinh tế giữa các trường phái kinh tế học vĩ mô không giống nhau, nên biện pháp đề ra cũng khác nhau. Theo Keynes, các khoản chi tiêu cho đầu tư (cả đầu tư cố định và đầu tư vào hàng tồn kho) là yếu tố dễ thay đổi. Hiện tượng này được gọi là chu kỳ đầu tư. Tại đỉnh của chu kỳ, thu nhập không tăng thêm nữa và mức đầu tư vào năng lực sản xuất mới đã đủ để thỏa mãn nhu cầu. Điều này làm cho phần đầu tư phái sinh (tức đầu tư do sự thay đổi của thu nhập quốc dân gây ra) giảm. Tại đáy của chu kỳ, đầu tư có thể tăng lên nhờ yếu tố ngoại sinh hoặc do ảnh hưởng của nhu cầu đầu tư thay thế. Trong trường hợp đó, sự gia tăng nhu cầu đầu tư làm tăng sản lượng và nhờ tác động tích cực của nhân tử, mức đầu tư phái sinh cũng tăng lên. Do vậy, khi nền kinh tế thu hẹp, thì sử dụng các chính sách tài chính và chính sách tiền tệ nới lỏng. Khi nền kinh tế khuếch trương thì lại chuyển hướng các chính sách đó sang thắt chặt.

Sự tái hiện lại và sự biến động của các hoạt động kinh tế mà một nền kinh tế trải qua một thời gian dài. Năm giai đoạn của chu kỳ kinh doanh là tăng trưởng (mở rộng), cao điểm, suy thoái kinh tế (thu hẹp), đáy và phục hồi. Tại một thời điểm, chu kỳ kinh doanh được cho là rất bình thường, với thời gian dự đoán được, nhưng ngày nay chúng được nhiều người cho là bất thường, thay đổi về tần số, cường độ và thời gian. Kể từ chiến tranh thế giới II, hầu hết chu kỳ kinh doanh đã kéo dài từ 3 đến 5 năm kể từ đỉnh cao của một chu kỳ đến đỉnh điểm của chu kỳ tiếp theo. Thời gian trung bình của giai đoạn mở rộng là 44,8 tháng và thời gian trung bình của một cuộc suy thoái là 11 tháng. So với điều này, cuộc Đại khủng hoảng – tại đó diễn ra một sự suy giảm trong hoạt động kinh tế 1929-1933 - kéo dài 43 tháng.

DSCR; Debt Service Coverage Ratio / Hệ Số Năng Lực Trả Nợ

Có thể khẳng định đây là một trong những chỉ số tài chính quan trọng nhất khi đánh giá và thẩm định năng lực tài chính doanh nghiệp. Tầm quan trọng của nó vượt xa những thứ hay ho và rất "kiểu cách", "thời thượng" như P/E hay M/B. Trên thực tế, doanh nghiệp theo một trong những nguyên lý quan trọng nhất của kế toánđược nhìn qua lăng kính "Going Concern" hoặc là "Continuity." Điều này có nghĩa là, trước khi đánh giá doanh nghiệp có tốt, tình trạng có hấp dẫn, dẫn tới cổ phiếu có xứng đáng giá cao, hay dự án có đáng được tài trợ hay không, chúng ta buộc lòng phải nhận thức được liệu doanh nghiệp có tồn tại được hay không, hiểu theo nghĩa có lành mạnh tài chính hay không. Lành mạnh tài chính cũng được hiểu ở nghĩa hẹp và thông dụng là liệu năng lực tài chính của doanh nghiệp có cho phép thanh toán được các khoản nợ tới hạn hay không. Mọi luật pháp phản ánh nguyên tắc kinh tế thị trường đều có quyền phán xét phá sản một doanh nghiệp không có năng lực trả nợ đáo hạn, sau một khoảng thời gian thông báo trước. DSCR đơn giản là cho biết tổng số tiền mặt được phép sử dụng để trả nợ của doanh nghiệp sẽ bằng bao nhiêu lần tổng số công nợ doanh nghiệp sẽ phải trả tại một thời điểm. Công thức tính: Nợ tới hạn (Total debt to service) bao gồm cả khoản nợ phải trả, cộng với phần của nợ dài hạn sẽ phải trả của kỳ đó. DSCR đặc biệt có ý nghĩa trong dự báo và mô phỏng tài chính vận hành trong tương lai. DSCR nhỏ hơn 1 ngụ ý xuất hiện một dòng tiền âm. Ví dụ, DSCR=0,90 có nghia thu nhập ròng từ hoạt động sản xuất kinh doanh (net operating income) chỉ đủ để trang trải 90% các khoản nợ trong kỳ.

Multiplant Economies / Tính Kinh Tế Nhờ Vận Hành Nhiều Nhà Máy

Tính kinh tế nhờ vận hành nhiều nhà máy có được qua việc giảm tổng chi phí trung bình nhờ vận hành nhiều hơn một nhà máy. Có ba nguyên nhân dẫn đến tính kinh tế này: 1. Do các thị trường phân tán về mặt địa lý và chi phí vận chuyển cao: việc vận hành nhiều nhà máy có thể có tác dụng làm giảm đơn giá vận chuyển, và nếu giảm được đáng kể thì tác dụng này có thể bù đắp được bất lợi trong việc vận hành nhà máy dưới quy mô cần thiết để đạt được giá thành sản xuất trung bình tối thiểu.2. Do đa dạng hóa sản phẩm, trong trường hợp có thể có những thuận lợi trong việc thực hiện chuyên môn hóa sản phẩm trong các nhà máy khác nhau - ví dụ như các công cụ chuyên dụng.3. Thêm nữa, người ta cho rằng các doanh nghiệp có nhiều nhà máy sẽ linh hoạt hơn trong hoạt động của mình. Ví dụ, sự suy giảm sản lượng tại một nhà máy có thể được bù đắp nhờ các nguồn cung từ các nhà máy khác, và do vậy có thể cắt giảm được chi phí bằng cách giảm mức hàng lưu kho cần để đáp ứng sự thiểu hụt.

Là việc giảm được tổng chi phí trung bình nhờ vận hành nhiều hơn một nhà máy.

Business Communication / Truyền Thông Kinh Doanh

Truyền thông kinh doanh là toàn bộ những biện pháp thông tin sử dụng để phát triển một sản phẩm, dịch vụ hoặc tổ chức - với mục tiêu cuối cùng là bán hàng. Truyền thông kinh doanh bao gồm một loạt những kiến thức trong nhiều lĩnh vực: marketing, phát triển thương hiệu, quan hệ khách hàng, hành vi người tiêu dùng, quảng cáo, quan hệ công chúng, quan hệ truyền thông, truyền thông doanh nghiệp, gắn kết cộng đồng, nghiên cứu và đo đạc, quản trị danh tiếng, truyền thông cá nhân, gắn kết người lao động, truyền thông trực tuyến và quản trị sự kiện. Dù ở lĩnh vực nào đi nữa, mục tiêu vẫn là bán hàng. Thông điệp truyền thông kinh doanh được truyền bá trên một loạt các phương tiện truyền thông: Internet, ấn phẩm (xuất bản), radio, TV, cộng đồng, nơi công cộng và lời nói. Truyền thông nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp: Truyền thông nội bộ bao gồm việc truyền bá thông tin liên quan tới tầm nhìn, chiến lược, kế hoạch, văn hóa, những giá trị chung và những qui định, hướng dẫn, khuyến khích nhân viên, trao đổi ý tưởng, v.v... trong nội bộ doanh nghiệp, Những lợi ích của truyền thông kinh doanh hiệu quả: Lường trước các vấn đề. Hỗ trợ ra quyết định. Điều phối luồng công việc. Giám sát nhân viên. Phát triển các quan hệ. Quản trị tri thức, ý tưởng và độ sáng tạo. Tạo ra tầm nhìn rõ ràng và tiếp năng lượng cho nhân viên. Quảng bá sản phẩm dịch vụ. Một trong những tổ chức hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực này là Hiệp hội Truyền thông Kinh doanh (Association for Business Communication - ABC). Đây là một tổ chức học thuật thuần túy, cấp học bổng, nghiên cứu và thực hành truyền thông kinh doanh.

Drawing Account / Tài Khoản Vãng Lai

Tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia: Tài khoản vãng lai (còn gọi là cán cân vãng lai) trong cán cân thanh toán của một quốc gia ghi chép những giao dịch về hàng hóa và dịch vụ giữ người cư trú trong nước với người cư trú ngoài nước. Những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú trong nước cho người cư trú ngoài nước được ghi vào bên "nợ" (theo truyền thống kế toán sẽ được ghi bằng mực đỏ). Còn những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú ngoài nước cho người cư trú trong nước được ghi vào bên "có" (ghi bằng mực đen). Thặng dư tài khoản vãng lai xảy ra khi bên có lớn hơn bên nợ. Theo quy tắc mới về biên soạn báo cáo cán cân thanh toán quốc gia do IMF soạn năm 1993, tài khoản vãng lai bao gồm: Cán cân thương mại hàng hóa Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân thương mại phi hàng hóa Cán cân dịch vụ Vận tải Du lịch Các dịch vụ khác Cán cân thu nhập Kiều hối Thu nhập từ đầu tư Các chuyển khoản Tất cả các khoản thanh toán của các bộ phận nhà nước hay tư nhân đều được gộp chung vào trong tính toán này. Vì cán cân thương mại là thành phần chính của tài khoản vãng lai, và xuất khẩu ròng thì bằng chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trong nước, nên tài khoản vãng lai còn được thể hiện bằng chênh lệch này. Cùng với tài khoản vốn, và thay đổi trong dự trữ ngoại hối, nó hợp thành cán cân thanh toán. Tài khoản vãng lai thặng dư khi quốc gia xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, hay khi tiết kiệm nhiều hơn đầu tư. Ngược lại, tài khoản vãng lai thâm hụt khi quốc gia nhập nhiều hơn hay đầu tư nhiều hơn. Mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn hàm ý quốc gia gặp hạn chế trong tìm nguồn tài chính để thực hiện nhập khẩu và đầu tư một cách bền vững. Theo cách đánh giá của IMF, nếu mức thâm hụt tài khoản vãng lai tính bằng phần trăm của GDP lớn hơn 5, thì quốc gia bị coi là có mức thâm hụt tài khoản vãng lai không lành mạnh.     2. Tài khoản vãng lai trong nghiệp vụ ngân hàng: Trong hoạt động ngân hàng, một tài khoản vãng lai là một tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng hoặc tổ chức tài chính nào đó, với mục đích cung ứng một cách nhanh chóng và an toàn phương tiện tiếp cận thường xuyên tới các món tiền gửi theo nhu cầu, thông qua một loạt các kênh khác nhau.Tài khoản vãng lai cho phép chủ tài khoản thực hiện hay nhận các khoản thanh toán bằng một trong các hình thức sau, tùy theo quốc gia:  Tiền mặt  Séc và Phiếu gửi tiền (giấy tờ cam kết thanh toán)  Chuyển khoản (giro, ký quỹ trực tiếp)  Ghi nợ trực tiếp/ghi có trực tiếp (tại Anh và các nước trong khối Thịnh vượng chung người ta sử dụng hệ thống BACS-Bankers Automated Clearing Services hay CHAPS-Clearing House Automated Payment System).  Chỉ thị hiện hành (chỉ dẫn từ phía chủ tài khoản đối với ngân hàng để chuyển một khoản tiền nhất định sau một khoảng thời gian nhất định sang một/nhiều tài khoản khác)  Thẻ ghi nợ hay thẻ ATM  EFTPOS (thanh toán trực tiếp không sử dụng tiền mặt tại cửa hàng)  Thông qua hệ thống SWIFT (tài khoản của ngân hàng ở ngân hàng nước ngoài để chuyển khoản). Tất cả các tài khoản vãng lai đều cung cấp các danh sách liệt kê các khoản giao dịch tài chính, hoặc là dưới dạng bản kê tài khoản hoặc là trong sổ tiền gửi. Có một số phương thức để tiếp cận các khoản tiền gửi tại tài khoản vãng lai: Các chi nhánh của ngân hàng Máy rút tiền tự động (ATM) Thông qua điện thoại và ngân hàng trực tuyến Nghiệp vụ ngân hàng thư Các cửa hàng và các nhà buôn cung cấp cách tiếp cận EFTPOS. Không giống như các tài khoản tiền gửi tiết kiệm trong đó lý do chủ yếu để gửi tiền là để sinh lãi, chức năng chính của tài khoản vãng lai là giao dịch, vì thế phần lớn các nhà cung cấp tài khoản vãng lai hoặc là không trả tiền lãi hoặc là trả lãi ở mức lãi suất thấp hơn trên số dư có. Phí dịch vụ:   Chính sách tính phí để thực hiện các giao dịch tài chính phụ thuộc vào một loạt các yếu tố, bao gồm các mức lãi suất tổng thể đối với việc cho vay và tiết kiệm của mỗi quốc gia, cũng như phụ thuộc vào giá trị của giao dịch và số lượng các kênh tiếp cận nguồn tiền gửi mà tổ chức tài chính đó cung cấp. Điều đó giải thích tại sao các loại ngân hàng ảo, hoạt động với rất ít hoặc không có các chi nhánh lại có thể đưa ra các nghiệp vụ ngân hàngvới mức phí thấp hoặc miễn phí cũng như giải thích tại sao ở một số quốc gia thì không có các khoản phí giao dịch nhưng mức lãi suất cho vay rất cao lại là một tiêu chuẩn. Các khoản phí giao dịch tài chính có thể được tính theo từng khoản mục giao dịch hoặc tính theo tỷ lệ cố định cho một số lượng giao dịch nhất định nào đó ( thông thường tính trên cơ sở hàng tháng). Thông thường, đối với một loạt các loại khách hàng nào đó, tổ chức tài chính có thể không thu phí đối với các giao dịch tài chính cơ bản, chẳng hạn như đối với tầng lớp sinh viên, thanh niên, người già hay các khách hàng có số tiền gửi rất lớn chẳng hạn. Một số tổ chức tài chính còn đưa ra các giao dịch miễn phí nếu khách hàng duy trì số dư trung bình rất cao trong tài khoản của mình. Các khoản phí dịch vụ khác được áp dụng đối với sự bội chi, hay khi số dư tiền gửi không đủ để thanh toán séc, cũng như khi sử dụng mạng liên ngân hàng bên ngoài v.v. Tại các quốc gia mà ở đó không có các khoản phí dịch vụ đối với các giao dịch thì người ta lại thu phí hàng năm đối với các dịch vụ tuần hoàn, chẳng hạn như thẻ ghi nợ.

Tài Khoản Vãng Lai (Drawing Account) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Bureaux / Văn Phòng

Trong HỌC THUYẾT KINH TẾ VỀ SỰ QUAN LIÊU, những tổ chức phi lợi nhuận được tài trợ, ít nhất một phần từ trợ cấp định kỳ và cung ứng một tổng sản lượng để đổi lấy một ngân sách chứ không phải những đơn vị sản phẩm theo giá.

Bureaucracy, Economic Theory Of / Lý Thuyết Kinh Tế Về Hệ Thống Công Chức

Mô hình này giả định rằng các cơ quan nhà nước sẽ cư xử như những tác nhân tối đa hoá ngân sách. Ngân sách lớn hơn cho phép các công chức thoả mãn ý thích của mình về lương, chức tước, bảo đảm việc làm và những lợi ích phi tiền tệ như quyền lực, danh tiếng và cơ hội phân bổ các hợp đồng.

Bundesbank / Ngân Hàng Trung Ương Liên Bang Đức

Deutsche Bundesbank là ngân hàng Trung ương Liên bang Đức, là một thành viên của Hệ thống Ngân hàng Châu Âu.

Charge Account / Tài Khoản Tín Dụng

Một phương tiện tín dụng người bán lẻ dành cho khách hàng.

Một phương tiện tín dụng người bán lẻ dành cho khách hàng.

Draft / Bill Of Exchange / Hối Phiếu

Hối phiếu là một mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một bên kí phát đòi tiền bên kia. Người kí phát hối phiếu thường là người xuất khẩu kí đòi tiền người nhập khẩu hoặc đại lí của người nhập khẩu trả cho một số tiền xác định ghi trên bề mặt hối phiếu. Có hai loại hối phiếu: Hối phiếu trả tiền ngay (sight draft); Hối phiếu trả sau (time draft).

Bulls / Người Đầu Cơ Giá Lên

Các cá nhân tin rằng chứng khoán hoặc trái khoán sẽ tăng giá và do đó mua chúng và hy vọng có thể bán với giá cao hơn sau đó. Người đầu cơ giá xuống gọi là NGƯỜI BÁN KHỐNG.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55