Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Cheque / Séc

Là một mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện của người chủ tài khoản, ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người có tên trong séc, hoặc trả theo lệnh của người ấy, hoặc trả cho người cầm séc một số tiền nhất định, bằng tiền mặt hay chuyển khoản. Thời hạn hiệu lực của tờ séc được luật pháp quy định và được ghi rõ trên tờ séc. Séc du lịch (traveller's cheque) thì không quy định hiệu lực (do ngân hàng phát séc và người hưởng lợi thoả thuận quy định, có thể là có hạn và có thể là vô hạn).

Norm following behaviour / Hành vi theo định mức lương

Lập luận cho rằng trong một giai đoạn của chính sách thu nhập khi tồn tại một định mức lương do luật định hoặc được áp dụng một cách tự nguyện thì đinh mức này trên thực tế sẽ trở thành cái đích cho mọi thoả thuận về lương, hay nói cách khác nó sẽ trở thành mức lương cơ bản.

Lập luận cho rằng trong một giai đoạn của chính sách thu nhập khi tồn tại một định mức lương do luật định hoặc được áp dụng một cách tự nguyện thì đinh mức này trên thực tế sẽ trở thành cái đích cho mọi thoả thuận về lương, hay nói cách khác nó sẽ trở thành mức lương cơ bản.

Check Off / Trừ Công Đoàn Phí Trực Tiếp

Việc chủ thuê trừ trực tiếp phí công đoàn từ lương nhân viên. Phí này sau đó được trả cho công đoàn.

Norm / Định Mức Tăng Lương

Là mức tăng lương thông thường được xác định tại từng thời điểm trong chính sách thu nhập.

Dutch Auction / Đấu Giá Hà Lan

Đấu giá kiểu Hà Lan là một kiểu đấu giá trong đó người điều khiển cuộc đấu giá đưa ra giá rất cao, sau đó giá này sẽ hạ xuống dần cho đến khi người tham dự chấp nhận mức giá ấy. Đấu giá Kiểu Hà Lan còn được gọi là Đấu giá giảm dần (descending price auction) và thường được các công ty phát hành tổ chức để bán cổ phiếu. Đấu giá kiểu Hà Lan cũng được áp dụng đối với IPO của Vietcombank. Cái tên Đấu giá kiểu Hà Lan được đặt sau những vụ đấu giá củ hoa tuylip nổi tiếng ở Hà Lan vào thế kỉ thứ 17. Đấu giá kiểu Hà Lan dựa trên hệ thống định giá đưa ra bởi nhà kinh tế đoạt giải Nobel William Vickrey.

Cheap Money / Tín Dụng Giá Rẻ

Một khoản vay hoặc tín dụng với lãi suất thấp, hoặc được thiết lập các mức lãi suất thấp bởi ngân hàng trung ương như Cục dự trữ liên bang. Tín dụng giá rẻ là điều được khách hàng vay mong muốn nhưng nó lại không mang lại nhiều lợi ích cho các nhà đầu tư, những người sẽ tìm được một mức lãi suất thấp trong đầu tư ví dụ như tài khoản tiết kiệm, quỹ thị trường tiền tệ, đĩa CD và trái phiếu. Tín dụng giá rẻ có thể mang lại những hậu quả bất lợi cho nền kinh tế đó là những người vay đã gây ra các ảnh hưởng quá lớn đối với tỷ suất vay nợ. Khi tín dụng được thiết lập ở mức rẻ thì đó là thời điểm tốt cho khách hàng có nhu cầu vay nợ mới hoặc củng cố lại các khoản nợ hiện có. Tuy nhiên, việc khách hàng vay nhiều hơn khả năng trả nợ của họ lại là một trong những yếu tố làm chất xúc tác chính gây nên cuộc suy thoái kinh tế năm 2008. Dưới đây là một vài ví dụ về tín dụng giá rẻ: - Một thẻ tín dụng với lãi suất bình quân năm cho 12 tháng đầu tiên được đưa ra là 0% - Một lãi suất cố định cho 30 năm với mức lãi suất của tài sản thế chấp là 4% - Một khoản vay tự động với lãi suất là 0.5%

No-par Value-stock / Cổ Phiếu Không Mệnh Giá

Cổ phiếu mà chúng ta biết đến thường là cổ phiếu có mệnh giá - tức là giá trị được ghi trên bề mặt cổ phiếu. Trong khi đó, một loại cổ phiếu không kém phần thịnh hành và thậm chí có phần áp đảo cổ phiếu có mệnh giá trên thị trường thế giới hiện nay, đó là cổ phiếu không có mệnh giá. Cổ phiếu không mệnh giá là loại cổ phiếu không ghi giá trị trên bề, tất nhiên không đồng nghĩa với việc nó không có giá trị gì. Đối với cổ phiếu này, chỉ tồn tại khái niệm thị giá - tức là giá cả của loại cổ phiếu này trên thị trường do cung và cầu quyết định. Khi các nhà đầu tư chơi loại cổ phiếu này, họ không có căn cứ là mệnh giá để làm mốc đặt lệnh mua bán cổ phiếu ban đầu. Chính vì vậy hoàn toàn họ dựa vào các chỉ số của phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật, nói đơn giản là có thể dựa vào kỳ vọng của thị trường đối với khả năng sinh lợi nhuận của công ty (P/E), tình hình kinh doanh hiện tại, uy tín của công ty. Tại sao các công ty lại phát hành cổ phiếu không mệnh giá? Có nhiều lợi ích đối với công ty khi phát hành loại cổ phiếu này. Cổ phiếu không có mệnh giá cho phép công ty linh hoạt trong việc định giá cho lần phát hành cổ phiếu tiếp theo và công ty cũng giảm trách nhiệm đối với cổ đông nếu cổ phiếu không mệnh giá này xuống giá trên thị trường. Để hình dung rõ hơn về loại cổ phiếu này, chúng ta hãy tìm hiểu qua về các quy định trong Bộ Luật Thương mại Nhật Bản về chúng, và luật của Việt Nam về công ty cổ phần và cổ phiếu cũng có nhiều điểm tương đồng với Luật này. Trước năm 2001, Bộ Luật Thương mại Nhật Bản quy định tại Điều 199 cho phép công ty phát hành hai loại cổ phiếu - có ghi mệnh giá và không ghi mệnh giá. Về nguyên tắc, các công ty không được bán "cổ phiếu có mệnh giá" với giá thấp hơn giá trị được ghi trên bề mặt cổ phiếu. Do đó, cổ phiếu không có mệnh giá ra đời nhằm mục đích giúp các công ty huy động thêm vốn khi gặp khó khăn về tài chính. Đơn cử một công ty cổ phần A sắp thành lập và dự định phát hành cổ phiếu có mệnh giá là 500 yên/cổ phiếu. Vốn của công ty là 100.000 yên. Vậy công ty có 200 cổ phiếu. Công ty A trong quá trình hoạt động có thể lỗ hoặc lãi. Nếu lỗ thì giá cổ phiếu sẽ xuống, có thể dưới mức 500 yên và nếu công ty cần thêm vốn thì không thể phát hành thêm cổ phiếu có mệnh giá và bán chúng với giá thấp hơn giá 500 yên. Và vì vậy công ty sẽ phát hành cổ phiếu không có mệnh giá, sáng lập viên xác định giá bán 500 yên hoặc thấp hơn là 480 yên để thu hút nhiều người mua hơn. Tuy nhiên, cho đến năm 1999, chỉ có hơn 10 công ty ở Nhật phát hành loại cổ phiếu này. Lý do làm cho các công ty e ngại phát hành loại cổ phiếu này là việc phát hành chúng sẽ là dấu hiệu cho thấy công ty đang gặp khó khăn về tài chính, ảnh hưởng đến uy tín của công ty. Như vậy, ý định của các nhà làm luật về cổ phiếu không có mệnh giá đã không đạt được. Hoạt động đầu tư vốn và huy động vốn bị cản trở. Do đó, 8/2001, Bộ Luật Thương mại của Nhật đã loại bỏ cổ phiếu có mệnh giá. Điều 199 được sửa thành: cổ phiếu của công ty cổ phần chỉ có thể dưới dạng cổ phiếu không có mệnh giá. Khi phát hành cổ phiếu mới hoặc khi phát hành cổ phiếu thành lập công ty, Đại hội đồng cổ đông hoặc Đại hội đồng cổ đông sáng lập phải quy định giá bán ban đầu, đây được coi là thị giá ban đầu của cổ phiếu. Sau đó, giá này sẽ do cung và cầu của thị trường điều chỉnh. Hiện tại, việc cho ra đời loại cổ phiếu này ở Việt Nam còn quá sớm và có thể lặp lại thất bại của các công ty Nhật Bản. Chúng ta cần thời gian để ban hành đầy đủ và sát thực tế hơn nữa các quy định pháp luật về cổ phiếu đặc biệt này để thị trường chứng khoán VN vượt qua giai đoạn trứng nước và người dân nói chung, giới kinh doanh nói riêng hiểu và sử dụng (không chỉ là biết) về cổ phiếu này.

Durbin- Watson / Số Thống Kê (D Hoặc D.W.)

Phân tích liên thời gian về hệ thống kinh tế. Nền kinh tế có thể đi từ một điểm cân bằng này sang điểm cân bằng khác (tức là hai điểm cân bằng so sánh tĩnh) hoặc có thể liên tục không đạt đến điểm cân bằng tĩnh nào.

Chattel/ Personal Property / Động Sản

Động sản là các tài sản, không phải là Bất động sản, được sở hữu bởi một cá nhân, động sản còn được gọi là Tài sản cá nhân.

Durbin H - Statistic / Số Thống Kê Durbin - H

Số thống kê dự báo bài toán tương quan chuỗi hay các hệ số sai số trong phép hồi quy, bao gồm một biến nội sinh trễ hoãn trong trường hợp số thống kê Durbin - Watson-d thông dụng hơn không thể áp dụng được.

Non-wage Labour Costs / Các Chi Phí Lao Động Phi Tiền Lương

Là những chi phí lao động mà doanh nghiệp phải trả ngoài mức thu nhập tính theo giờ.

Mutual Fund / Quỹ Tương Hỗ

Là quỹ được điều hành bởi công ty đầu tư nhằm huy động vốn cổ đông và đầu tư vào chứng khoán, trái phiếu, hợp đồng option, hàng hoá hay các chứng khoán trên thị trường tiền tệ, thường phát hành chứng khoán quỹ để huy động vốn. Đây là một loại chứng khoán tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nhỏ có khả năng tiếp cận với một danh mục đầu tư đa dạng và có một sự quản lý chuyên môn. Mỗi cổ đông đều có cơ hội được hưởng lãi từ hoạt động đầu tư của quỹ nhưng đồng thời cũng phải chịu lỗ nếu như đầu tư không thành công. Tổng tài sản ròng của quỹ (net asset valua) được tính toán theo từng ngày. Mỗi quỹ tương hỗ đều tiến hành đầu tư theo danh mục đã xác định rõ từ đầu trong các bản cáo bạch. Tuy nhiên các nghiên cứu đều cho thấy phần lớn các quỹ đầu tư đều không đạt được mục tiêu. Quỹ tương hỗ đã ngày càng trở nên phổ biến trong vòng 20 năm qua. Phương thức đầu tư vốn chẳng mấy được chú ý này bỗng trở nên vô cùng hấp dẫn. Khoảng hơn 80 triệu người Mỹ, và một nửa số hộ gia đình đầu tư vào các quỹ tương hỗ. Điều đó có nghĩa là chỉ tính riêng nước Mỹ thôi cũng đã có tới hàng nghìn tỉ đô la được đầu tư vào các quỹ này. Trên thực tế, đối với nhiều người đầu tư có nghĩa là mua cổ phiếu của các quỹ tương hỗ. Họ cho rằng đầu tư vào các quỹ tương hỗ thì tốt hơn là để tiền nằm im lìm trong các tài khoản tiết kiệm, và đối với phần lớn thì đó là tất cả những gì họ hiểu về quỹ tương hỗ. Tuy nhiên đó chưa phải là tất cả. Ban đầu, quỹ tương hỗ được thành lập như là một cách để người ta có thể kiếm lợi từ thị trường. Thay vì tiêu tốn thời gian để ngồi đọc thời báo Wall Street, tất cả những việc mà bạn cần làm đó là mua cổ phiếu quỹ tương hỗ và thế là bạn đã tự giải phóng mình khỏi những áp lực về mặt tài chính như nên đầu tư vào đâu, làm gì để sinh lợi, ngày mai giá cả sẽ biến động ra sao...Nhưng trên thực tế thì mọi chuyện không dễ dàng như thế. Về mặt lý thuyết quỹ tương hỗ là một ý tưởng tuyệt vời nhưng không phải quỹ đầu tư nào cũng có đủ khả năng khiến cho tiền của bạn sinh sôi nảy nở. Bạn sẽ phải đánh giá khả năng chịu đựng rủi ro của mình trước khi quyết định xem quỹ nào tương xứng với khả năng. Ngoài ra, việc định thời điểm mua hay bán còn tuỳ thuộc vào bối cảnh kinh tế, tình trạng thị trường chứng khoán trái phiếu, lãi suất và các nhân tố khác.

Côn ty đầu tư tổ hợp vốn từ cổ đông bằng cổ phiếu, trái phiếu, chúng khoán chính phủ, và công cụ thị trường tiền tệ ngắn hạn. Những quỹ hỗ tương có thể cũng đầu tư trong những tài sản khả mại khác, như hợp đồng ký hạn, quyền chọn bộ sưu tập. Một quỹ hỗ tương cũng được biết đến như một công ty dạng mở, có nghĩa là có sự phát hành liên tục những cổ phần mơi và mua lại những cổ phần đang lưu hành. Khi cổ phần được bán, giá trị vốn hóa của quỹ tăng lên, nó giảm xuống khi các cổ phần được chủ đầu tư mua lại (không giống như dạng quỹ đóng, cổ phần không giao dịch trên sàn giao dịch có tổ chức). Các chủ sở hữu một quỹ hỗ tương sẽ nắm giữ tỉ lệ cổ phần trong tổ hợp các chứng khoán mà quỹ này đầu tư, và trả thuế trên các khoản phân phối từ quỹ này. Hầu hết các cổ phần của quỹ hỗ tương sẽ có thể mua lại với giá trị tài sản thuần hiện tại, mặc dù một số có phí trả sau hoặc phí mua lại, khi các cổ phần được thanh toán. Trong bất kỳ quỹ hỗ tương nào, thì giá trị cổ phần sở hữu phụ thuộc vào giá trị thị trường hiện tại của danh mục đầu tư, thường được xác định lại hàng ngày. Xem ANNUITY; MONEY MARKET FUND.

Duration Of Unemployment / Thời Gian Thất Nghiệp

Khoảng thời gian trung bình mà một cá nhân trải qua khi đăng ký thất nghiệp.

Chartered Financial Analyst - CFA

CFA là một chứng chỉ chuyên môn phân tích tài chính chuyên nghiệp trong các lĩnh vực: chứng khoán, đầu tư và quản lý rủi ro, ngân hàng và tài chính. CFA không phải là một bằng cấp học thuật (academic degree). CFA là một chương trình được tiêu chuẩn hóa khá tốt để đánh giá năng lực của nhà phân tích tài chính trên cơ sở củng cố và phát triển những kiến thức cơ bản của đầu tư. Các thí sinh sẽ phải trải qua 3 đợt thi CFA (gọi là Level), từ Level 1 đến Level 3, với thời gian là 6 tiếng cho mỗi đợt thi. Đợt thi đó sát hạch năng lực phân tích và đầu tư ở trình độ có thể thực hành. Theo yêu cầu bài thi thường thí sinh cần 200-250 giờ học và ôn tập. Hàng năm, các kỳ thi CFA được tổ chức ở hơn 70 quốc gia trên thế giới. Một người được gọi là có chứng chỉ CFA có nghĩa là đã vượt qua 3 kỳ thi nói trên và có một số năm kinh nghiệm làm việc chuyên nghiệp trong lĩnh vực tài chính-đầu tư. Ngoài ra, còn cần tham gia Hiệp hội CFA (CFA Institute). Trước đây, người Việt Nam muốn có chứng chỉ CFA thường phải ra nước ngoài, phổ biến là Hồng Kông (khá thường xuyên) hoặc Bang Kok, Singapore, để thi CFA nhưng hiện nay các cuộc thi CFA đã được tổ chức ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Chương trình học tập của CFA bao gồm các môn chủ yếu: Ethical and Professional Standards Quantitative Methods Economics Financial Statement Analysis Corporate Finance Analysis of Equity Investments Analysis of Debt Investments Analysis of Derivatives Analysis of Alternative Investments Portfolio Management.

Duopsony / Lưỡng Độc Quyền Mua

Một thị trường chỉ có hai người mua cùng một loại sản phẩm hay dịch vụ đem trao đổi.

Non-wage Attributes / Các Thuộc Tính Phi Tiền Lương

Là các đặc điểm phi tiền tệ của một quan hệ hợp đồng lao động, chẳng hạn như các điều kiện làm việc, uy tín và cơ hội thăng tiến.

CFA Chartered Financial Analyst / Chứng Chỉ Chuyên Gia Phân Tích Tài Chính

CFA là một chứng chỉ chuyên môn phân tích tài chính chuyên nghiệp trong các lĩnh vực: chứng khoán, đầu tư và quản lý rủi ro, ngân hàng và tài chính. CFA không phải là một bằng cấp học thuật (academic degree). CFA là một chương trình được tiêu chuẩn hóa khá tốt để đánh giá năng lực của nhà phân tích tài chính trên cơ sở củng cố và phát triển những kiến thức cơ bản của đầu tư. Các thí sinh sẽ phải trải qua 3 đợt thi CFA (gọi là Level), từ Level 1 đến Level 3, với thời gian là 6 tiếng cho mỗi đợt thi. Đợt thi đó sát hạch năng lực phân tích và đầu tư ở trình độ có thể thực hành. Theo yêu cầu bài thi thường thí sinh cần 200-250 giờ học và ôn tập. Hàng năm, các kỳ thi CFA được tổ chức ở hơn 70 quốc gia trên thế giới. Một người được gọi là có chứng chỉ CFA có nghĩa là đã vượt qua 3 kỳ thi nói trên và có một số năm kinh nghiệm làm việc chuyên nghiệp trong lĩnh vực tài chính-đầu tư. Ngoài ra, còn cần tham gia Hiệp hội CFA (CFA Institute). Trước đây, người Việt Nam muốn có chứng chỉ CFA thường phải ra nước ngoài, phổ biến là Hồng Kông (khá thường xuyên) hoặc Bang Kok, Singapore, để thi CFA nhưng hiện nay các cuộc thi CFA đã được tổ chức ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Chương trình học tập của CFA bao gồm các môn chủ yếu: Ethical and Professional Standards Quantitative Methods Economics Financial Statement Analysis Corporate Finance Analysis of Equity Investments Analysis of Debt Investments Analysis of Derivatives Analysis of Alternative Investments Portfolio Management.

Duopoly / Lưỡng Độc Quyền Bán

Một cơ cấu thị trường chỉ có 2 hãng. Các mô hình lý giải có ý giải thích sự xác định sản lượng và giá cả trên cơ cấu thị trường này đặt cơ sở phân tích của mình lên những giả định xem xét đến việc đưa ra quyết định trong đó có sự phụ thuộc lẫn nhau được thấy rõ.

Non-uniqueness / Tính Phi Độc Nhất

Trong lý thuyết cân bằng bộ phận và cân bằng tổng thể, đây là một tình huống trong đó tồn tại từ hai mức giá tại điểm cân bằng trở lên.

Charter Capital / Vốn Điều Lệ

Vốn điều lệ là số vốn do tất cả thành viên góp và được ghi vào Điều lệ công ty. Vốn điều lệ ít nhất phải bằng vốn pháp định để được phép thành lập công ty nếu có quy định. Trường hợp này xảy ra gọi là vốn điều lệ tối thiểu. Theo luật doanh nghiệp, thường các không ty không bị yêu cầu mức vốn điều lệ tối thiểu, trừ một số ngành nghề đặc biệt như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán...

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55