Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Municipal Bond / Trái Phiếu Đô Thị

Trái phiếu đô thị là những loại trái phiếu do Chính phủ hay chính quyền địa phương (cấp tỉnh, thành phố) phát hành nhằm huy động vốn tài trợ cho các dự án đầu tư hạ tầng như xây dựng trường học, tu bổ phát triển đường sá, xử lý nước, cầu cảng, sân bay… Kỳ hạn trái phiếu này là từ 10 đến 30 năm. Các trái phiếu này thường được các ngân hàng mua khiphát hành, sau đó các ngân hàng tổ chức bán lại trên thị trường chứng khoán cho các Công ty Bảo hiểm, Công ty Tài chính, các người có tài sản lớn, thu nhập cao. Nếu xem xét từ gốc độ kinh doanh tài chính, trái phiếu đô thị là một loại chứng khoán có giá trị đầu tư tương đối cao. Đối với các nước có thị trường tài chính phát triển ở trình độ cao, chẳng hạn như Mỹ và các nước Châu Âu thì hình thức phát hành trái phiếu đô thị phát triển mạnh và rất đa dạng. Tóm lại, trái phiếu đô thị có vị trí quan trọng trong hệ thống các công cụ tài sản tài chính của đất nước. Để trái phiếu đô thị phát huy hết tác dụng. người phát hành và người đầu tư cần hiểu rõ các đặc tính của nó. Tại các các nước phát triển (đặt biệt là Mỹ) chính quyền có thể pháthành các loại giấy nợ dưới dạng ngắn hạn (thời gian đáo hạn từ 1 đến 2 năm) hay dài hạn (thời gian đáo hạn từ 10 đến 30 năm). Loại ngắn hạn (notes) chủ yếu dùng để bù đắp nhưng thiếu hụt tạm thời ngân sách nhà nước của chính quyền địa phương. Nó có thể được phát hành để duy trùy dòng tiền mặt của chính quyền cho đến khi có các nguồn thu mới từ thuế, từ các nguồn thu khác hoặc từ các nguồn hỗ trợ từ Trung ương. Loại ngắn hạn thường được sử dụng gồm:- TANs (Tax Anticipation Notes): Công khố bù đắp thuế là loại giấy nợ được đảm bảo bằng nguồn thu từ thuế trong tương lai. Khoản ngân khố dự kiến (Revernue Anticipation Notes) được chính quyền đảm bảo bằng nguồn thu trong tương lai. Hầu hết loại này được phát hành là những ngân hàng thương mại địa phương.- BANs (Bond Anticipation Notes bonds) là loại được sử dụng tài trợ tạm thời cho dự án dài hạn trước khi phát hành trái phiếu dài hạn. BANs được phát hành để có nguồn tài chính tạm thời giúp cho dự án có thể bắt đầu trước khi trái phiếu dài hạn chính thức được phát hành.- TECP (Tac Exempt Commercial Paper) tương tự như hối phiếu thương mại của công ty có lãi suất cố định, kỳ hạn thanh toán trong vòng 270 ngày.- GANs (Grant Anticipation Notes) là loại giấy nợ đảm bảo bằng trợ cấp trong tương lai chúng được phát hành trên thị trường trái phiếu Mỹ, GANs được phát hành khi địa phương biết trước chuẩn bị có nguồn hổ trợ từ Trung ương nhằm có ngay nguồn tài trợ vốn cho các dự án.Trái phiếu đô thị dài hạn hiện nay cũng có rất nhiều loại, nhưng nhìn chung có thể chia làm 3 loại chính dựa vào các hình thức đảm bảo trả nợ là:- Trái phiếu nhận nợ chung- Trái phiếu chính quyền- Trái phiếu lợi tức.

Công cụ nợ là nghĩa vụ của một tiểu bang hoặc chính quyền đô thị, và các phân nhánh và các cơ quan chính trị của những chính quyền này. Có một số phân loại trái phiếu đô thị bao gồm trái phiếu nợ chung và trái phiếu thu nhập. Trái phiếu đánh giá đặc biệt là những trái phiếu phải trả từ sự đánh giá của các sở hữu chủ hưởng lợi từ tài sản, bao gồm phố đường sá và hành lang. Trái phiếu thuế đặc biệt là trái phiếu được phát hành vì một mục đích đặc biệt, mà số thu từ thuế đặc biệt đó được thế chấp. Trái phiếu công ty nước và cách hãng tiện ích khác phải trả chủ yếu từ doanh thu các hãng tiện ích, nhưng cũng được cơ quan thuế hỗ trợ- vì vậy được gọi là nghĩa vụ có rào chắn kép. Một số loại trái phiếu đô thị được phát hành sau tháng tám năm 198, gọi là trái phiếu mục đích tư nhân, là những trái phiếu chịu thuế đầy đủ nếu, ví dụ, hơn 10% số thu từ phát hành trái phiếu này được sử dụng cho phát triển tư nhân (trái với cải thiện công ích như phát triển đường cao tốc) và dịch vụ nợ được trả bởi những tổ chức kinh doanh tư nhân. Xem INDUSTRIAL DEVELOPMENT BOND; PRIVATE PURPOSE BOND; PUBLIC PURPOSR BOND.

Non-tariff Barriers / Hàng Rào Phi Thuế Quan

Hàng rào phi thuế quan là những hạn chế đối với thương mại quốc tế như hạn ngạch, các chính sách thu mua trong nước của chính phủ và các tiêu chuẩn về kỹ thuật và an toàn nhằm giúp cho các nhà sản xuất trong nước có lợi thế hơn so với các nhà sản xuất nước ngoài.

Dumping / Bán Phá Giá

Theo cách hiểu giản đơn, bán phá giá là hành động bán một hàng hoá nào đó với mức giá thấp hơn chi phí nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh hoặc giành thêm thị phần. Trong thương mại quốc tế, bán phá giá được hiểu là hàng hoá xuất khẩu được bán sang một nước khác với giá thấp hơn “giá trị bình thường” của nó và gây “tổn hại vật chất” đối với ngành sản xuất nội địa (theo điều VI của GATT). Có thể thấy rằng, việc xác định mức giá bị coi là “phá giá” rất phức tạp, vì nó liên quan đến hàng loạt vấn đề như xác định chi phí sản xuất, xác định mức độ thiệt hại tiềm năng và thực tế. Ở Mỹ bán phá giá được hiểu là việc bán hàng tại thị trường Mỹ với mức giá thấp hơn mức giá hàng hoá so sánh tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu; việc bán các mặt hàng đó gây ra hoặc đe dọa thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất của Mỹ.Đối với Cộng đồng châu âu (EC) thì phá giá liên quan đến bất cứ hàng hoá nhập khẩu nào với giá thấp hơn chi phí. Quy chế chống bán phá giá của EC năm 1996 cho phép áp dụng thuế chống phá giá trong các điều kiện: Thứ nhất, giá hàng hoá bán trên thị trường EC thấp hơn giá trên thị trường của nước sản xuất; Thứ hai, hàng hoá nhập khẩu gây ra hoặc đe dọa ngành sản xuất của EC như là việc mất thị phần, lợi nhuận, việc làm… Biện pháp bán phá giá có thể được sử dụng  với tư cách phản ứng ngắn hạn để đối phó với tình hình suy thoái trong nước, nghĩa là sản lượng dư ra  được đổ bán tháo ở nước ngoài; hoặc với tư cách một chiến lược dài hạn để tham nhập thị trường xuất khẩu hoặc đẩy đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường. Khi các công ty bán phá giá đã chiếm được địa vị vững chắc trên thị trường, họ thường tăng giá lên để tạo ra lợi nhuận.Cho dù được vận dụng với mục đích nào thì biện pháp bán phá giá vẫn bị coi là hình thức buôn bán không công bằng và bị các hiệp định thương mại điều chỉnh.

Bán Phá Giá (Dumping) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Nonsystematic Risks / Rủi ro phi hệ thống

Rủi ro phân tán được, tức rủi ro phi hệ thống là một phần rủi ro đầu tư mà nhà đầu tư có thể loại bỏ được nếu nắm giữ một số loại chứng khoán đủ lớn. Loại rủi ro này là kết quả của những biến cố ngẫu nhiên hoặc không kiểm soát được chỉ ảnh hưởng đến một công ty hoặc một ngành công nghiệp nào đó. Các yếu tố này có thể là những biến động về lực lượng lao động, năng lực quản trị, kiện tụng hay chính sách điều tiết của chính phủ. Vì hầu hết các nhà đầu tư có hiểu biết tối thiểu đều có thể loại bỏ rủi ro có thể phân tán được bằng cách nắm giữ một danh mục đầu tư đủ lớn từ vài chục đến vài trăm. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nếu lựa chọn chứng khoán một cách cẩn thận thì chỉ cần khoảng 15 chứng khoán là có thể làm nên một danh mục đầu tư loại bỏ được hầu hết rủi ro có thể phân tán được. Rủi ro phi hệ thống được chia làm hai loại chính là rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính. Rủi ro kinh doanh xuất phát từ tình trạng hoạt động của công ty, khi có những thay đổi trong tình trạng này công ty có thể sẽ bị sút giảm lợi nhuận và cổ tức. Nói cách khác, nếu lợi nhuận dự kiến tăng 10% hàng năm trong những năm tiếp theo, rủi ro kinh doanh sẽ cao hơn nếu như lợi nhuận tăng tới 14% hay giảm xuống 6% so với lợi nhuận nằm trong khoảng 9-11%. Rủi ro kinh doanh có thể được chia làm hai loại cơ bản: Bên ngoài và nội tại. Rủi ro kinh doanh nội tại phát sinh trong quá trình vận hành hoạt động của công ty. Mỗi công ty có một loại rủi ro nội tại riêng và mức độ thành công của mỗi công ty thể hiện qua hiệu quả hoạt động. Mỗi công ty có một kiểu rủi ro bên ngoài riêng, phụ thuộc vào các yếu tố môi trường kinh doanh cụ thể của công ty. Các yếu tố bên ngoài, từ chi phí tiền vay đến sự cắt giảm ngân sách, từ mức thuế nhập khẩu tăng đến sự suy thoái của chu kỳ kinh doanh. .., và có lẽ yếu tố quan trọng nhất là chu kỳ kinh doanh. Doanh số của một số ngành công nghiệp thép, ô tô có xu hướng bám sát chu kỳ kinh doanh trong khi doanh số của một số ngành khác lại có xu hướng đi ngược lại. Các chính sách chính trị cũng là một phần của rủi ro bên ngoài, các chính sách tiền tệ và tài khoá có thể làm ảnh hưởng đến thu nhập thông qua tác động về chi phí và nguồn vốn. Rủi ro tài chính liên quan đến việc công ty tài trợ vốn cho hoạt động của mình. Người ta thường tính toán rủi ro tài chính bằng việc xem xét cấu trúc vốn của một công ty. Sự xuất hiện của các khoản nợ trong cấu trúc vốn sẽ tạo ra cho công ty những nghĩa vụ trả lãi mà phải được thanh toán cho chủ nợ trước khi trả cổ tức cho cổ đông nên nó có tác động lớn đến thu nhập của họ. Rủi ro tài chính là rủi ro có thể tránh được trong phạm vi mà các nhà quản lý có toàn quyền quyết định vay hay không vay. Một công ty không vay nợ chút nào sẽ không có rủi ro tài chính. Bằng việc đi vay, công ty đã thay đổi dòng thu nhập đối với cổ phiếu thường. Cụ thể là, việc sử dụng tỷ lệ vay nợ gây những hệ quả quan trọng đối với những người nắm giữ cổ phiếu thường, đó là làm tăng mức biến động trong thu nhập của họ, ảnh hưởng đến dự kiến của họ về thu nhập, và làm tăng rủi ro của họ. Giả sử chúng ta có hai công ty có hoạt động kinh doanh như nhau, chỉ khác nhau về cơ cấu vốn: Công ty C, nguồn vốn hoàn toàn từ 1 triệu cổ phiếu thường, bán với giá 20 đôla/1cổ phiếu. Công ty khác, công ty D, có nguồn một nửa là từ cổ phiếu thường 500.000 cổ phiếu, bán với giá 20 đô la/ cổ phiếu và một nửa là từ vay nợ 10 triệu USD với lãi vay là 5%. Như vậy, tài sản có của mỗi công ty là 20 triệu USD, dự kiến sẽ có lợi nhuận 1 triệu USD, hay là 5% trên tổng tài sản. Chúng ta giả sử rằng không có thuế thu nhập công ty. Thu nhập 1 triệu USD có thể dễ dàng chuyển đổi sang thu nhập cho mỗi cổ phiếu. Công ty C sẽ có lãi 1 đô la/1 cổ phiếu. Công ty D phải trả lãi 500.000 đô la và phần còn lại chia cho cổ phiếu cũng được lãi 1 đô la/1cổ phiếu. Tại điểm này, cả hai công ty đều có mức thu nhập trên cổ phiếu là 1 đô la. Như vậy ta không thấy có hệ quả của việc vay nợ đối với thu nhập của cổ đông. Nhưng nếu năm tiếp sau đó, lợi nhuận cả hai công ty tăng thêm 50%, vậy trong trường hợp của công ty D, cổ đông được hưởng thêm 1 đôla/cổ phiếu nhiều hơn cổ đông của công ty C chỉ được hưởng thêm 0,5 đôla/cổ phiếu, vì lợi nhuận D lúc đó là 1,5 triệu USD mà vẫn chỉ phải trả lãi suất 5% trên số tiền cho vay. Ngược lại, nếu lợi nhuận giảm 50% sẽ làm cho lợi nhuận trên 1 cổ phiếu của công ty C giảm xuống 50% từ 1 đô la xuống 0.5 đô la nhưng lợi nhuận trên một cổ phiếu của Công ty D sẽ giảm từ 1 xuống 0. Qua đó chúng ta thấy được những hậu quả trực tiếp mà rủi ro tài chính gây ra cho thu nhập của nhà đầu tư chứng khoán.

Mundell - Fleming Model / Mô Hình Mundell - Fleming

Là một Mô hình do hai nhà kinh tế học Mundell và Fleming xây dựng một cách độc lập, nó cho thấy tác động mở rộng của các biến số chính sách, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH và CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ đều biến đổi tuỳ thuộc vào chế độ tỷ giá hối đoái được giả định.

Multivariate Analysis / Phân Tích Đa Biến Số

Là một phân tích (thường là mang tính thống kê) trong đó có từ hai biến số trở lên.

Dummy Variable / Biến Giả

Một biến nhị phân (có - không) được đưa ra để xem xét những dịch chuyển (dịch chuyển giả) hay thay đổi ngoại sinh của độ dốc (đọ đốc giả) trong mối quan hệ kinh tế lượng.

Multistage Dividend Discount Model / Mô Hình Chiết Khấu Cổ Tức Đa Bước

Đây là mô hình định giá cổ phiếu được xây dựng dựa trên mô hình tăng trưởng Gordon bằng cách đưa các tốc độ tăng trưởng khác nhau vào công thức tính toán. Theo như mô hình chiết khấu cổ tức đa bước, các tốc độ tăng trưởng cổ tức khác nhau sẽ được áp dụng cho các giai đoạn thời gian khác nhau. Có rất nhiều mô hình chiết khấu cổ tức đa bước, trong đó được sử dụng phổ biến nhất là mô hình chiết khấu hai bước, mô hình H, và mô hình chiết khấu ba bước. Mô hình chiết khấu hai bước là mô hình trong đó giai đoạn đầu tốc độ tăng trưởng cổ tức không ổn định, có thể âm hoặc dương. Vấn đề với mô hình này là tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn đầu được giả định sẽ biến động theo sự biến động của tốc độ tăng trưởng bền vững qua đêm (stable growth rate overnight.) Mô hình H là mô hình trong đó tốc độ tăng trưởng cổ tức ở giai đoạn đầu khá cao, sau đó sẽ giảm dần qua thời gian. Mô hình này giả định rằng tỉ lệ trả cổ tức của một công ty và chi phí cổ phần (cost of equity) sẽ duy trì không đổi.Mô hình chiết khấu ba bước là mô hình trong đó giai đoạn đầu tốc độ tăng trưởng cổ tức ở mức cao, ổn định và kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định. Trong giai đoạn tiếp theo, tốc độ tăng trưởng sẽ giảm tuyến tính cho đến khi đạt mức tăng trưởng ổn định cuối cùng. Mô hình này là sự hoàn thiện của hai mô hình đầu (chiết khấu hai bước và mô hình H), và có thể được áp dụng cho hầu hết các công ty.

Multisector Growth Model / Mô Hình Tăng Trưởng Đa Ngành

Là mô hình được sử dụng trong lý thuyết tăng trưởng theo đó cho phép sản xuất nhiều loại hàng hoá.

Non-rival Consumption / Sự Tiêu Dùng Không Bị Kèn Cựa; Sự Tiêu Dùng Không Bị Cạnh Tranh

Khi sự tiêu dùng của một cá nhân đối với một loại hàng hoá không hề làm giảm đi nguồn cung cấp hàng hoá đó cho những cá nhân khác thì hàng hoá đó được coi là không cạnh tranh trong tiêu dùng.

Due Diligence / Điều Tra Nghiên Cứu Ban Đầu

Điều tra nghiên cứu ban đầu là thuật ngữ dùng để chỉ trách nhiệm mà một người có lý trí cần phải thực hiện trước khi tham gia vào một hợp đồng khế ước hay một giao dịch với một Bên thứ 2. Thuật ngữ cũng nhằm tập trung miêu tả việc điều tra khảo sát hoặc kiểm toán một dự án đầu tư tiềm năng; Điều tra khảo sát phục vụ mục đích xác nhận tất cả các dữ kiện vật chất có liên quan đến một vụ mua bán cụ thể. Due diligence thực chất là cách thức để ngăn ngừa thiệt hại không cần thiết đối với một trong các Bên tham gia giao dịch.

Điều tra nghiên cứu ban đầu là thuật ngữ dùng để chỉ trách nhiệm mà một người có lý trí cần phải thực hiện trước khi tham gia vào một hợp đồng khế ước hay một giao dịch với một Bên thứ 2. Thuật ngữ cũng nhằm tập trung miêu tả việc điều tra khảo sát hoặc kiểm toán một dự án đầu tư tiềm năng; Điều tra khảo sát phục vụ mục đích xác nhận tất cả các dữ kiện vật chất có liên quan đến một vụ mua bán cụ thể. Due diligence thực chất là cách thức để ngăn ngừa thiệt hại không cần thiết đối với một trong các Bên tham gia giao dịch.

Multiproduct Firm / Hãng Sản Xuất Đa Sản Phẩm

Là một doanh nghiệp kết hợp các yếu tố sản xuất với nhau để sản xuất ra nhiều loại sản phẩm.

Charter / Corporate Charter / Article Of Incorporation / Điều Lệ Thành Lập Doanh Nghiệp

Là một bộ hồ sơ xuất trình cho cơ quan Chính phủ nhằm làm tài liệu dẫn chứng hợp pháp cho sự thành lập của doanh nghiệp. Ngoài ra còn gọi là Corporate Charter. Ở Mỹ bộ hồ sơ được nộp cho cơ quan quản lý của Bang. Sau khi đã duyệt tài liệu, Bang sẽ cấp cho doanh nghiệp 1 chứng chỉ thành lập; từ đó bộ tài liệu đem nộp và chứng chỉ được cấp sẽ trở thành Điều lệ thành lập doanh nghiệp và chứng minh cho sự tồn tại hợp pháp của doanh nghiệp. Bản Điều lệ doanh nghiệp bao gồm những thông tin như: tên doanh nghiệp, mục đích thành lập, lượng cổ phiếu phát hành, số lượng và các thông tin khác về (các) Giám đốc của doanh nghiệp. Quyền hạn và trách nhiệm của doanh nghiệp sẽ được quy định trong luật và theo các điều khoản của bản Điều lệ. Đối với các doanh nghiệp nhỏ, khi quyết định thành lập, một trong những bước đầu tiên là phải điền vào các điều khoản thành lập ( hay còn gọi là Điều lệ thành lập, chứng chỉ thành lập doanh nghiệp, hay điều khoản tổ chức) tại văn phòng Secretary of State hoặc tại Phòng Thương mại. Một công ty có thể điền vào bản điều lệ thành lập tại bang nó hoạt động hoặc bất cứ bang nào. Ở hầu hết các bang, văn phòng Secretary of State có thể cung cấp các mẫu để trống. Ở một số bang khác không có các mẫu điền sẵn vì vậy doanh nghiệp phải tự thiết kế lấy bản Điều lệ của công ty mình. Mặc dù vậy nhưng doanh nghiệp vẫn có thể tham khảo các hướng dẫn hoặc các mẫu), hoặc cũng có thể thuê luật sư để thực hiện việc này. Thông thường, bản Điều lệ thành lập gồm những mục sau:  1. Tên doanh nghiệp 2. Cá nhân đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp. Thông thường là Chủ tịch hoặc Giám  đốc. Tất cả các tài liệu và thông báo của cơ quan Pháp luật sẽ được gửi đến cho người đại diện 3. Mục đích thành lập doanh nghiệp 4. Thời gian hoạt động của doanh nghiệp. Thường được đăng ký vô thời hạn hoặc vĩnh viễn 5. Số cổ phiếu được phép phát hành, số cổ phiếu đã phát hành và phân loại cổ phần của doanh nghiệp. Các yêu cầu này cũng khác nhau giữa các bang ở Mỹ. Có thể doanh nghiệp bị yêu cầu phải kê khai tất cả các cổ phiếu được phép phát hành, số cố phiếu thực tế phát hành, loại cổ phần phát hành (phổ thông, ưu đãi, hay cả 2). 6. Các Giám đốc của doanh nghiệp và địa chỉ của họ 7. Tên và địa chỉ của Hội viên: Mục này doanh nghiệp phải điền tên của những cá nhân sáng lập nên doanh nghiệp và chuẩn bị các điều khoản trong bản Điều lệ thành lập như Luật sư, Giám đốc hay chủ sở hữu doanh nghiệp 8. Giá trị tài sản ước tính và tổng thu nhập ước tính. Khi bản điều lệ được hoàn tất, doanh nghiệp sẽ gửi đến văn phòng Secretary of State hoặc Phòng Thương mại nơi mà doanh nghiệp hoạt động. Doanh nghiệp sẽ phải gửi kèm cả phí hồ sơ hoặc thuế doanh nghiệp dựa trên giá trị cổ phần, v.v. Khi các điều khoản được gửi lại cho doanh nghiệp sau khi đã được phê duyệt bởi Bộ trưởng thì doanh nghiệp phải nộp bản điều lệ đó cho văn phòng Recorder of Deeds (Phòng lưu trữ hồ sơ) nơi mà doanh nghiệp hoạt động. Cuối cùng các điều khoản sẽ trở thành Điều lệ của doanh nghiệp và trở thành thông tin công cộng.

Non-renewable Resource / Tài Nguyên Không Tái Tạo Được

Là bất kỳ nguồn tài nguyên nào tồn tại dưới một hình thức có hạn - hay nói cách khác là với một số lượng hạn chế mà không được bổ sung thêm ngoài cách tái chế.

Duality / Phương Pháp Đối Ngẫu

Phương phá dẫn xuất các hệ phương trình cầu phái sinh phù hợp với hành vi tối ưu hoá của người tiêu dùng hay sản xuất bằng cách đơn giản là vi phân hóa một hàm thay thế cho việc giải một bài toán tối ưu có ràng buộc.

Multiplier Effect / Hiệu Ứng Số Nhân

Đây là sự mở rộng lượng cung tiền của một quốc gia bắt nguồn từ việc cho vay quá nhiều của các ngân hàng. Quy mô của hiệu ứng này tuỳ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của môt quốc gia. Nói cách khác, hiệu ứng số nhân là lượng tiền được sử dụng để tạo ra nhiều tiền hơn, tính toán bằng cách lấy tổng lượng tiền gửi ngân hàng chia cho tỉ lệ dự trữ bắt buộc. Hiệu ứng số nhân phụ thuộc vào lượng dự trữ bắt buộc quy định từ đầu. Vì vậy để tính toán tác động của hiệu ứng này đối với lượng cung tiền, ta sẽ phải bắt đầu từ lượng tiền mà ngân hàng thu được từ các khoản tiền gửi tiết kiệm, chia con số này cho tỉ lệ dự trữ bắt buộc. Giả sử rằng tỉ lệ dự trữ bắt buộc là 20%, với mỗi khoản gửi tiết kiệm ngân hàng sẽ phải giữ lại 20$. Tuy nhiên, phần 80$ còn lại có thể dùng để cho các khách hàng khác vay. Khoản 80$ này sau đó lại được các khách hàng này gửi tại một ngân hàng khác, tiếp tục được giữ lại 20%, tương đương 16$, khoản 64$ còn lại được ngân hàng này sử dụng để cho vay. Chu kì này cứ tiếp tục kéo dài, ngày càng có nhiều người gửi tiền vào ngân hàng và các ngân hàng cứ tiếp tục cho vay. Cuối cùng khoản tiền gửi 100$ đã được tăng thành $500 ($100/0.2), đây chính là hiệu ứng số nhân. Khi mức dự trữ bắt buộc càng cao, nguồn cung tiền càng được quản lý chặt chẽ. Điều này sẽ làm giảm quy mô của hiệu ứng số nhân trên mỗi đồng tiền gửi. Ngược lại, nếu dự trữ bắt buộc càng thấp thì lượng cung tiền càng lớn, do đó lượng tiền được tạo ra trên mỗi đồng tiền gửi sẽ nhiều hơn, làm tăng mức độ ảnh hưởng của hiệu ứng số nhân.

Dual Labour Market Hypothesis / Giả Thiết Thị Trường Lao Động Hai Cấp

Giả thuyết cho rằng thị trường lao động được phân thành 2 cấp: Cấp một và cấp hai.Những công việc có lương cao, có triển vọng về đề bạt, an toàn và trợ cấp cao, tạo thành khu vực cấp một của một nền kinh tế lưỡng cấp. Trong khu vực cấp hai, tiền lương được hình thành do cạnh tranh, công việc đủ nhiều để có thể sử dụng hết tất cả công nhân, tuy nhiên những công việc này có lương thấp, không ổn định và nói chung là không hấp dẫn. Những công nhân trong khu vực cấp hai do đó phải chịu tình trạng hữu nghiệp phiếm dụng.

Non-profit Institutions / Các Tổ Chức Phi Lợi Nhuận

Là các tổ chức không tồn tại vì mục đích kiếm lợi nhuận dù là tuyên bố một cách công khai hay ngầm hiểu như vây, ví dụ như nhiều tổ chức chăm sóc sức khoẻ và giáo dục.

Non-price Competition / Cạnh Tranh Phi Giá Cả

Cạnh tranh phi giá cả là việc áp dụng bất kỳ chính sách cạnh tranh nào ngoại trừ chính sách giảm giá, nhằm mục đích lôi kéo những khách hàng mới từ đối thủ của mình. Những hình thức cạnh tranh phi giá cả thường hay được nhắc đến như quảng cáo, marketing và đổi mới sản phẩm.

Cạnh Tranh Phi Giá Cả (Non-Price Competition) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Cạnh Tranh Phi Giá Cả (Non-Price Competition) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Multiplier - Accelerator Interaction / Tác Động Qua Lại Giữa Số Nhân - Gia Tốc

Một phương pháp dùng để giải thích những biến động trong mức độ phát triển của hoạt động kinh tế - CHU KỲ KINH DOANH - vốn phụ thuộc vào những tác động qua lại giữa SỐ NHÂN và GIA TỐC.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55