Chief Investment Officer / Giám Đốc Đầu Tư
Giám đốc đầu tư (CIO - viết tắt giống Giám đốc Thông tin: Chief Information Officer) là một chức danh công việc trong cấp quản lý của doanh nghiệp chịu trách nhiệm về các khoản đầu tư trong một tổ chức. Mục tiêu của một CIO là hiểu, quản lý và giám sát danh mục tài sản của doanh nghiệp, đưa ra chiến lược cho sự phát triển, hoạt động như một đầu mối liên lạc với cộng đồng đầu tư, và nhận diện và tránh những rủi ro nghiêm trọng, kể cả những rủi ro chưa bao giờ gặp phải.
Chief Information Officer - CIO / Giám Đốc Thông Tin
Cùng với CEO, CFO, CIO ngày càng chứng minh vai trò quan trọng của mình trong tổ chức. Chief Information Officer hoặc CIO là chức vụ của người đứng đầu nhóm công nghệ thông tin trong một tổ chức. Giám đốc thông tin thường báo cáo cho CEO (trong kinh tế). Không có tiêu chuẩn chung dành cho các CIO. Tuy nhiên, vị trí này ngày càng giữ vai trò quan trọng trong tổ chức do càng ngày công nghệ thông tin càng đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh. Trong quá khứ, nhiều người có bằng cấp trong ngành khoa học tin học, kĩ sư phần mềm, hệ thống thông tin, nhưng họ chỉ là các nhân viên kĩ thuật. Ngày nay, CIO đã chứng minh được vai trò của mình trong tổ chức và được bổ nhiệm vị trí từ bộ phận kinh doanh của tổ chức. Chức vụ CIO thường được trao cho một người trong doanh nghiệp để chịu trách nhiệm cho mảng công nghệ thông tin và hệ thống máy tính để ủng hộ cho các mục tiêu kinh doanh. Khi công nghệ thông tin trở thành một phần quan trọng, nhiều tổ chức đã coi CIO là một người đóng góp cốt lõi vào thành công kinh doanh. Thông thường, CIO sẽ đề nghị mảng công nghệ thông tin mà doanh nghiệp cần phải áp dụng để đạt được mục tiêu và sau đó làm việc với phần ngân sách được giao để tiến hành công việc. CIO liên quan đến việc phân tích và cơ cấu lại những quá trình kinh doanh đang có, phát hiện và phát triển những công cụ mới, định hình lại hệ thống và kết cấu cho phép truy cập vào mạng lưới mạng và máy tính.
Numeraires Option Pricing Technique / Numeraire: Một Kỹ Thuật Định Giá
Quá trình tính toán xác định giá trị quyền chọn (option) trở nên đơn giản đáng kể với cách tiếp cận sử dụng phương pháp Numeraire (phát âm là: nu-mơ-ghe). Thông qua việc định giá một tài sản trên cơ sở một tài sản được trao đổi khác (gọi là numeraires), kỹ thuật này cắt giảm số nguồn tạo ra rủi ro cần xem xét trong quá trình định giá. Bởi vậy, kỹ thuật này được áp dụng phổ biến trong định giá các sản phẩm phái sinh phức tạp. Lịch sử phát triển và ứng dụng Numeraire trong định giá quyền chọn Ý tưởng sử dụng một numeraire để đơn giản hóa quá trình định giá quyền chọn dường như xuất hiện cùng lúc với thời điểm ra đời công thức Black-Scholes- trong đó, đồng đô-la được sử dụng như một numeraire. Năm 1973, năm công trình của Black và Scholes được công bố, Merton cũng sử dụng thay đổi numeraire (mặc dù không sử dụng tên gọi này) để tính giá trị một quyền mua kiểu châu Âu (một số lượng trái phiếu không coupon lãi) với lợi suất đầu tư http://saga.vn/dictview.aspx?id=2279 ngẫu nhiên bằng 0 (A Rational Theory of Option Pricing.” Bell Journal of Economics and Management Science, 4 (1973), pp.141-183.) Công trình của Margrabe vào năm 1978 trên Journal of Finance (The Value of an Option to Exchange One Asset for Another.” Journal of Finance, 33, 1 (1978), pp. 177-186.) lần đầu tiên giới thiệu rộng rãi thuật ngữ Numeraire. Margrabe cũng được xem như người đầu tiên sử dụng thuật ngữ Numeraire, mặc dù trong bài viết của mình, ông có nhắc tới việc sử dụng gợi ý này từ Steve Ross. Ross là người gợi mở ý tưởng sử dụng một tài sản làm Numeraire nhằm tối giản bài toán về giải pháp của Black-Scholes và loại bỏ bớt các tính toán phức tạp. Cùng trong năm bài báo cuả Margrabe được công bố, hai công trình của Brenner-Galai (The Determinants of the Return on Index Bonds.” Journal of Banking and Finance, 2 (1978), pp.47-64) và Fisher (“Call Option Pricing When the Exercise Price Is Uncertain, and the Valuation of Index Bonds.” Journal of Finance, 33 (1978), pp. 169-176) cũng sử dụng cách tiếp cận này. Trong năm tiếp theo, Harrison-Kreps (“Martingales and Arbitrage in Multiperiod Securities Markets.” Journal of Economic Theory, 11 (1981), pp. 418-443) sử dụng giá của một chứng khoán có giá luôn tăng làm numeraire. Do đó, tài sản numeraire không có rủi ro thị trường và thanh toán mức lãi suất bằng 0, giả thiết này rất thuận tiện cho việc tính toán. Các công trình của Geman (“The Importance of Forward Neutral Probability in a Stochastic Approach of Interest Rates.” Working paper, ESSEC, 1989) và Jamshidian (“An Exact Bond Option Formula.” Journal of Finance, 44 (1989), pp. 205-209) năm 1989 hoàn tất các cơ sở toán học cho cách tiếp cận numeraire. Nguyên lý cơ bản Giả sử một quyền chọn có giá phụ thuộc vào tài sản rủi ro. Giá của quyền chọn có thể được xác định như sau: (1) Chọn một chứng khoán tiêu biểu trong số các tài sản rủi ro để làm numeraire (2) Thể hiện giá các chứng khoán trên thị trường, bao gồm cả giá các chứng khoán trong quyền chọn, theo numeraire đã lựa chọn. Nói cách khác, diễn đạt các tính toán theo một hệ thống giá tương đối. (3) Do tài sản numeraire trong hệ thống giá mới là phi rủi ro (theo định nghĩa), các nhân tố rủi ro được giảm bớt, chỉ còn . Ví dụ, nếu bắt đầu với quyền chọn gồm 2 chứng khoán, khi lựa chọn một chứng khoán làm numeraire thì sẽ chỉ còn duy nhất một nguồn rủi ro và có thể áp dụng các coogn thức định giá quyền chọn (kiểu như công thức Black-Scholes). (4) Xác định giá của quyền chọn the numeraire. Việc qui đổi numeraire về đồng tiền sử dụng sẽ cho biết giá trị (đo bằng đơn vị tiền tệ sử dụng) của quyền chọn. Ứng dụng Kỹ thuật Numeraire có thể được ứng dụng trong: Định giá các kế hoạch sở hữu cổ phần của người lao động (ESOP) Định giá quyền chọn có giá thực hiện biểu diễn bằng loại tiền tệ khác với giá chứng khoán cơ sở Định giá trái phiếu chuyển đổi. Địh giá kế hoạch tiết kiệm dựa cung cấp lựa chọn chỉ số (choice of indexing) Định giá quyền chọn có giá thực hiện tương quan với lãi suất ngắn hạn.
Chief Human Resources Officer / Giám Đốc Nhân Sự
Một giám đốc nhân sự (CHRO) là một người thuộc cấp quản lý của công ty giám sát tất cả nhân sự và hoạt động quan hệ công nghiệp cho côgn ty đó. Chức danh công việc tương tự (trong tiếng Anh) bao gồm Chief People Officer, Chief Personnel Officer, Senior Vice President of HR. Vai trò và trách nhiệm của một CHRO điển hình có thể được phân loại như sau: 1. Xây dựng chiến lược nhân sự 2. Dẫn dắt tổ chức và hoạt động 3. Làm chủ các cuộc tuyển dụng 4. Đề ra nội quy doanh nghiệp. CHRO cũng có thể tham gia vào việc lựa chọn và định hướng thành viên hội đồng quản trị, và lên kế hoạch kế nhiệm.
Chief Financial Officer - CFO
Chức vụ cao nhất về điều hành tài chính trong doanh nghiệp, do CEO bổ nhiệm. Tiếng Việt có thể gọi là Giám đốc tài chính.
Chief Executive Officer / Tổng Giám Đốc Điều Hành
CEO là chức vụ cao nhất của bộ máy điều hành quản lý doanh nghiệp do Hội đồng quản trị bầu. Tiếng Việt có thể gọi tương đương như Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
Numeraire / Đơn Vị Tính Toán
Là một đơn vị hạch toán, hoặc là một biểu thức của tiêu chuẩn giá trị.
Chief Data Officer/CDO / Giám Đốc Dữ Liệu
Giám đốc dữ liệu thuộc nhóm quản trị viên cấp cao và là người quản lí việc xử lí và khai thác dữ liệu. Giám đốc giữ liệu thường báo cáo cho Giám đốc công nghệ và CEO. Vai trò của giám đốc dữ liệu trong việc xử lí dữ liệu không được coi là vai trò quan trọng trong đội ngũ quản lí cấp cao trước những năm 1980. Chỉ khi các tổ chức nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ thông tin cũng như là thông minh kinh doanh và thu thập - xử lí dữ liệu đối với chức năng hoạt động hàng ngày của ngành kinh doanh, vai trò này mới trở nên quan trọng và thiết yếu. Vai trò của giám đốc dữ liệu bao gồm đưa ra những ưu tiên chiến lược của công ty trong hệ thống dữ liệu, nhận ra cơ hội kinh doanh liên quan đến dữ liệu, tối ưu hóa doanh thu tạo ra thông qua dữ liệu, và luôn coi dữ liệu là một tài sản kinh doanh chiến lược của công ty. Với sự ra tăng của các cấu trúc định hướng dịch vụ (Service-oriented Architectures), thu thập dữ liệu hệ thống trên diện rộng, và việc lưu trữ dữ liệu/cơ chế trao đổi dữ liệu đa dạng (Databases, XML, EDI...), việc đưa ra những hướng dẫn cá nhân để tạo ra và áp dụng chiến lược dữ liệu là rất cần thiết. Ngoài cơ hội tạo ra doanh thu, chiến lược thâu tóm, và chiến lược dữ liệu khách hàng, Giám đốc dữ liệu phải chịu trách nhiệm giải thích với các quản trị viên, nhân viên, và khách hàng giá trị chiến lược của dữ liệu và vai trò quan trọng của nó như một tài sản kinh doanh và nhân tố kích thích tạo lợi nhuận. Điều này trái ngược hẳn với quan niệm cũ cho rằng hệ thống dữ liệu chỉ là một phần của hệ thống công nghệ thông tin. Dr. Usama Fayyad là giám đốc dữ liệu của Yahoo, người đầu tiên được biết đến giữ vị trí chính thức trong công việc này. Một người khác đó là Thomas Muller giám đốc dữ liệu của tập đoàn Allied Management Group. John Bottega trởi thành giám đốc dữ liệu của CitiGroup, ông là người đầu tiên trong lĩnh vực tài chính giữ chức vụ này.
Number Of Unemployment / Số Thất Nghiệp
Số khai báo thất nghiệp mới để lấy bảo hiểm thất nghiệp cho biết cơ bản về tình trạng số người mất việc làm. Số thất nghiệp giảm xuống là một trong các dấu hiệu nền kinh tế đang tăng trưởng. Mặt trái của thất nghiệp thấp là nỗi lo về lạm phát tăng lên. Dấu hiệu này ít nhất cũng có ý nghĩa là trong quá khứ, người tuyển dụng lao động đã tăng lương để thu hút thêm nhân công mới khi cạnh tranh tìm nhân công căng thẳng. Liệu khả năng mô hình như thế có còn tiếp diễn hay không trong loại hình thái kinh tế mà các nhà kinh tế học đang xem xét là một môi trường kinh tế mới, hiện vẫn đang là một câu hỏi.
Chief Compliance Officer / Giám Sát Trưởng
Giám sát trưởng có tên viết tắt tiếng Anh là CCO, tuy nhiên nên tránh viết tắt từ này bởi nó trùng với cách viết tắt của nhà quản lý cấp cao hơn và của nhiều chức danh khác. Các giám sát trưởng của một công ty là người chủ yếu chịu trách nhiệm giám sát và quản lý các vấn đề tuân thủ trong công ty đó. Nói chung, một giám sát trưởng có trách nhiệm đảm bảo công ty mình tuân thủ các yêu cầu pháp lý, và công ty và các nhân viên của mình đang thực hiện theo đúng chính sách và thủ tục nội bộ. Giám sát trưởng thường phải lập báo cáo cho Tổng Giám đốc. Vai trò này từ lâu đã tồn tại tại các công ty hoạt động trong các ngành có quy định chặt chẽ như dịch vụ tài chính và y tế. Các trách nhiệm của vị trí này thường bao gồm việc tăng cường nỗ lực tuân thủ yêu cầu của doanh nghiệp, thiết kế và thực hiện kế hoạch kiểm soát nội bộ, quản lý kiểm tra và điều tra các vấn đề pháp lý và tuân thủ; và đáp ứng yêu cầu thông tin từ các cơ quan quản lý nhà nước.
Null Hypothesis / Giả Thiết Không
Trong những kiểm định giả thuyết, đó là giả thiết mà trong đó thống kê kiểm định sẽ dựa vào một hàm phân phối xác suất cho trước.
Chief Communications Officer / Giám Đốc Truyền Thông
Giám đốc truyền thông (viết tắt là CCO) là một chức danh công việc cho người đứng đầu về truyền thông, quan hệ công chúng, truyền thông xã hội và quan hệ cộng đồng trong một tổ chức. Các CCO có thể là một thành viên của ban điều hành của doanh nghiệp, nhưng điều này cũng phụ thuộc vào loại hình tổ chức. CCO của một công ty chủ yếu chịu trách nhiệm về quản lý rủi ro thông tin và cơ hội truyền thông của một doanh nghiệp, cả trong lẫn ngoài. Người này thường chịu trách nhiệm về thông tin liên lạc đến một loạt các bên liên quan, bao gồm nhân viên, cổ đông, các phương tiện truyền thông, các blogger, các thành viên có tầm ảnh hưởng lớn của cộng đồng doanh nghiệp, báo chí, và công chúng. Thông thường, các CCO có thể hợp tác với những bộ phận hoặc người khác trong tổ chức để giao tiếp với các nhà đầu tư, các nhà phân tích, khách hàng và thành viên Hội đồng quản trị. Hầu hết các tổ chức sẽ dựa vào các CCO để tư vấn và tham gia vào các quyết định có thể ảnh hưởng đến danh tiếng của công ty.
Myrdal, Gunnar K / 1898-1987
Là một nhà kinh tế học, chính trị gia và nhà hoạt động quốc tế người Thuỵ Điển, Myrdal đã kiên định thách thức tư duy kinh tế chính thống trên một loạt các chủ đề. Trong các lĩnh vực, Myrdal đều bày tỏ quan điểm rằng các yếu tố về thể chế quan trọng hơn các quan hệ thị trường trong việc quyết định những sự kiện kinh tế. Myrdal cũng có những đóng góp cho học thuyết kinh tế "thuần tuý", và những tác phẩm trước đó của ông, đặc biệt là các tác phẩm Cân bằng tiền tệ (1931) đã phát triển thêm kinh tế học của Knut Wicksell và dự báo được phần lớn những nghiên cứu sau này của J.M.Keynes. Trong phạm vi vấn đề này, Myrdal là người đã đưa ra những khái niệm EX ANTE VÀ EX POST. Ông đã sử dụng những ý tưởng này để bàn về những quyết định đầu tư chủ chốt và mối quan hệ của chúng với tổng sản lượng quốc dân ở điểm cân bằng theo cách thức mà người ta cho là giống của Keynes. Những tác phẩm quan trọng khác của ông bao gồm: Một nền kinh tế quốc tế: Những vấn đề về triển vọng (1956); Học thuyết kinh tế và các khu vực kém phát triển (1957); Thách thức với sự phong lưu (1963); và Lội ngược dòng (1973). Myrdal được trao giải thưởng Nobel kinh tế (cùng với F.A.von HAYEK) vào năm 1974 do có những nỗ lực mở rộng phạm vi nghiên cứu kinh tế học.
NPV - Net Present Value / Giá Trị Hiện Tại Thuần
Giá trị hiện tại thuần là hiệu số của giá trị hiện tại dòng doanh thu (cash inflow) trừ đi giá trị hiện tại dòng chi phí (cash outflow) tính theo lãi suất chiết khấu lựa chọn. Khái niệm giá trị hiện tại thuần đựơc sử dụng trong hoạch định ngân sách đầu tư (capital budgeting), phân tích khả năng sinh lợi của một dự án đầu tư, hay cả trong tính toán giá cổ phiếu. NPV được tính theo công thức sau Trong đó: t - thời gian tính dòng tiền n - tổng thời gian thực hiện dự án r - tỉ lệ chiết khấu Ct - dòng tiền thuần tại thời gian t C0 - chi phí ban đầu để thực hiện dự án Việc tính toán NPV rất hữu ích khi chuẩn bị ngân sách cho một dự án, bằng phép tính này nhà đầu tư có thể đánh giá liệu tổng giá trị hiện tại dòng doanh thu dự kiến trong tương lai có bù đắp nổi chi phí ban đầu hay không. Với một dự án cụ thể, nếu NPV dương thì nhà đầu tư nên tiến hành dự án và ngược lại khi NPV âm. Tuy nhiên trong trường hợp có hai sự lựa chọn đầu tư loại trừ lẫn nhau trở lên thì nhà đấu tư còn phải xét đến chi phí cơ hội nữa, lúc này, dự án nào có NPV cao nhất sẽ được tiến hành. Ví dụ: một doanh nghiệp dự định đưa ra thị trường một dòng sản phẩm mới. Chi phí ban đầu để sản xuất sản phẩm này (tiền mua sắm máy móc, thiết bị, chi phí đào tạo nhân viên...) là $100,000. Các chi phí quản lý dự kiến là $5,000/năm. Doanh thu từ sản phẩm này dự kiến là $30,000/năm. Tỉ suất hoàn vốn là 10%. Sản phẩm này dự kiến sẽ bán trong vòng 6 năm. Theo công thức ở trên ta có thể tính toán giá trị hiện tại thuần của dự án là: NPV = -100000 + (30000-5000)/1.11 + (30000-5000)/1.12 + (30000-5000)/1.13 + (30000-5000)/1.14 + (30000-5000)/1.15 + (30000-5000)/1.16 = $8881.52 > 0 Vậy nên tiến hành sản xuất loại sản phẩm mới này. Việc tính toán NPV phụ thuộc rất nhiều vào tham số tỉ lệ chiết khấu r, mỗi nhà đầu tư lại có cách đánh giá r riêng của mình. Ngoài ra dòng doanh thu, dòng chi phí không đồng đều, giá trị thanh lý tài sản cố định giữa các năm cũng sẽ làm cho việc tính toán trở nên phức tạp hơn nhiều.
Mutually Exclusive Projects / Các Dự Án Loại Trừ Lẫn Nhau
Đây là nói tới tình huống trong đó có hai hoặc nhiều dự án không thể cùng thực thi vì chúng cần có một đầu vào mà chỉ có thể được dùng cho một dự án.
Chief Business Development Officer / Giám Đốc Phát Triển Kinh Doanh
Một giám đốc phát triển kinh doanh (CBDO) là một chức vụ trong một công ty được ủy nhiệm bên cạnh các chức năng điều hành khác. Chức danh này được sử dụng để xác định một vị trí cấp cao cùng với CEO. Các CBDO được trông chờ có một kiến thức rộng và toàn diện về tất cả các vấn đề liên quan đến việc kinh doanh của công ty với tầm nhìn định hướng về quan điểm xác định doanh số bán hàng mới và thúc đẩy tăng trưởng kinh doanh và yêu cầu việc phát triển sản phẩm đó sẽ được phối hợp với R&D.Trách nhiệm của CBDO có thể bao gồm: * Xây dựng kế hoạch phát triển kinh doanh, thiết kế và thực hiện các quy trình để hỗ trợ tăng trưởng kinh doanh, thông qua khái niệm của công ty về khách hàng và thị trường. * Tạo thuận lợi cho phát triển kinh doanh bằng cách làm việc cùng với khách hàng cũng như đối tác kinh doanh (nhà cung cấp, nhà thầu phụ, liên doanh đối tác, nhà cung cấp công nghệ, vv.) * Xây dựng và duy trì liên lạc ở mức cao với khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng, đối tác kinh doanh và đối tác dự án. * Định hướng triển vọng kinh doanh thông qua xác định các khách hàng và thị trường mới, phát triển các phương pháp tiếp cận thị trường, xác định các cơ hội, chuẩn bị các bản đề nghị phát triển đầu tư, vv) * Xây dựng chiến lược marketing, quản lý quan hệ khách hàng.
Chief Administrative Officer / Giám Đốc Hành Chính
Một giám đốc hành chính (CAO) chịu trách nhiệm quản lý hành chính trong các công ty tư nhân, doanh nghiệp nhà nước. CAO là một trong những thành viên cao cấp của một tổ chức, quản lý hoạt động hàng ngày và thường báo cáo trực tiếp với tỏng giám đốc điều hành. Chức danh này ở nước ngoài rất giống với một giám đốc điều hành (COO), và cần phân biệt là nó không giống với tổng giám đốc điều hành (CEO). Thực chất ở Việt Nam thường có đến chức danh Trưởng phòng Hành chính - Nhân sự (tức là kèm theo công tác nhân sự) vì chủ yếu các doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Mutually Exclusive Projects / Các Dự Án Loại Trừ Nhau
Đây là tình huống trong đó có hai hay nhiều dự án không thể thực hiện đồng thời cùng lúc vì chúng cần cùng một đầu vào mà chỉ có thể sử dụng cho một dự án. Ví dụ, một mảnh đất có thể được dùng để xây một khu nhà văn phòng hoặc một khu căn hộ nhưng không thể thực hiện cả hai. Trong trường hợp này, cần phải xếp hạng các dự án. Thường thì việc xếp hạng dựa trên giá trị hiện tại ròng sẽ đem lại lợi tức tối đa cho chủ dự án khi bị thiếu vốn.
Notional Value / Giá Trị Khái Toán
Là tổng giá trị của các tài sản của một vị thế đòn bẩy tài chính. Thuật ngữ này thường được sử dụng trong quyền chọn (options), giao sau (futures) và thị trường tiền tệ bởi vì chỉ cần bỏ vào một lượng tiền đầu tư rất nhỏ có thể kiểm soát được một vị thế lớn, tức là có thể có được một kết quả thu lợi lớn cho các nhà kinh doanh (trader). Ví dụ, một hợp đồng giau sau chỉ số S&P500 buộc người mua đối với 250 đơn vị của chỉ số S&P500. Nếu chỉ số được giao dịch tại mức $1000, ngay sau đó thì một hợp đồng giao sau đơn lẻ tương tự đang đầu tư $250,000 (250x $1000). Do vậy giá trị $250,000 được gọi là giá trị khái toán của hợp đồng giao sau cơ sở.
Mutual Fund's Profit Evaluation Tools / Công Cụ Đánh Giá Lợi Nhận Của Quỹ Tương Hỗ
Bạn có thể sử dụng một số các benchmarks (cách thức chuẩn đánh giá) và khung thời gian nào đó làm tiêu chuẩn để đánh giá lợi nhuận của một quỹ. Có một số công cụ bạn có thể sử dụng để đánh giá một quỹ đơn lẻ hoạt động tốt đến mức nào hoặc các quỹ tương hỗ nói chung đang có lãi nhiều đến đâu. Tờ tạp chí phố Wall thường xuất bản đều đặn một bảng các chỉ số chuẩn đánh giá và chỉ số trung bình - bảng này theo dõi các hạng mục đầu tư khác nhau, bao gồm các cổ phiếu và trái phiếu là những khoản đầu tư của các quỹ tương hỗ. Ngoài ra còn có các chỉ số khác theo dõi các quỹ phân loại theo mục tiêu đầu tư. Ví dụ, nếu bảng chỉ số cổ phiếu chuẩn S&P 500 thông báo một khoản lãi của cổ phiếu một công ty lớn, điều rất hợp lý mà bạn có thể dự đoán là một quỹ tương hỗ nào đó cũng sẽ thu về một khoản lãi nào đó. Tương tự nếu bạn cảm thấy nản lòng với kết quả của một quỹ cổ phiếu vốn nhỏ nào đó của bạn, có lẽ bạn sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn nếu biết rằng quỹ Chỉ số công ty nhỏ Vanguard - theo dõi chỉ số Russell 2000 (một chỉ số chuẩn các công ty vốn nhỏ) được thông báo là đã lỗ một khoản trong năm vừa qua. Các công cụ sau đây: 1. Các chỉ số quỹ tương hỗ2. Bảng tiêu chuẩn so sánh kết quả 3. Các đồ thị lợi nhuận 4. Tác động của các loại phí






