Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Occupational Wages Differentials / Những Chênh Lệch Về Mức Lương Theo Nghề Nghiệp

Là chênh lệch trong tiền lương trung bình của các nhóm công nhân được phân loại theo nghề nghiệp mà họ đang làm.

Occupational Licensing / Cấp Bằng Hành Nghề

Là một sự thoả thuận trong đó những người hành nghề thuộc một lĩnh vực nghề nghiệp nào đó cấp bằng hành nghề trong lĩnh vực nói trên bằng cách quy định về tiêu chuẩn gia nhập và quyền hạn.

Objective Function / Hàm Mục Tiêu

Là một hàm số liên hệ mục tiêu (biến số cần tối ưu hoá) với biến số lựa chọn trong một bài toán tối ưu hoá.

Obamanomics / Triết Lý Kinh Tế Obama

Đó là một cách ghép từ để mô tả triết lý kinh tế của Tổng thống Mỹ Barack Obama. Obamanomics kêu gọi mức thuế suất thấp hơn cho các công ty đáp ứng những tiêu chí nhất định, chẳng hạn như cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt và duy trì ổn định lực lượng lao động và các chi nhánh, trụ sở. Nền tảng kinh tế của Obamanomics cũng yêu cầu các loại thuế cao hơn áp dụng cho các gia đình có thu nhập cao và đầu tư vào giáo dục, y tế và khoa học. Obamanomics đứng đối lập với thuyết ủng hộ cung ứng, hoặc thuyết Trickle-down (ủng hộ việc cắt giảm thuế thu nhập cá nhân), cùng một số học thuyết kinh tế khác cho rằng người dân (bao gồm cả những người giàu) nên giữ lại nhiều hơn những gì họ kiếm được vì họ sẽ chi tiêu số tiền đó, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Obamanomics có một số điểm tương đồng với trường phái Keynes, trong đó sự can thiệp của chính phủ và chính sách tiền tệ có thể làm nhẹ bớt gánh nặng cho nền kinh tế và thúc đẩy sự ổn định.

Clayton Act / Đạo Luật Clayton

Được thông qua ở Mỹ năm 1914. Mục đích của đạo luật là xác định cụ thể những vi phạm chống độc quyền nhằm làm cho đạo luật Sherman rõ ràng hơn. (Xem CELLER- KEFAUVER ACT and ROB INSON- PATMEN ATC).

Clay-Clay / Đất Sét- Đất Sét

Một khía cạnh của HÀM SẢN XUẤT trong THUYẾT TĂNG TRƯỞNG không cho phép tỷ lệ vốn - lao động biến đổi trước hoặc sau khi thực hiện đầu tư. Cụm thuật ngữ "đất sét" dùng để chỉ vốn, do đất sét được cho là kém tính cán mỏng hơn so với "mát tít" (Xem PUTTY-CLAY and PUTTY- PUTTY).

Clawback / Sự Thu Hồi

Có hai định nghĩa về thuật ngữ này: 1. Một lợi ích tài chính hay một lợi ích nào khác được cấp nhưng sau đó lại được thu hồi lại do một số hoàn cảnh đặc biệt. Một ví dụ phổ biến nhất cho trường hợp này đó là khi khoản trợ cấp cụ thể được đưa ra, khoản trợ cấp này có thể bị đánh thuế cho người được hưởng trợ cấp, nhưng nếu những khoản trợ cấp này được cấp trước khi xác minh một số điều kiện để hưởng trợ cấp thì những lợi ích từ trợ cấp phải được thu hồi lại. 2. Một sự giảm điểm của thị trường chứng khoán xẩy ra ngay sau khi thị trường chứng khoán có phiên tăng điểm.

Classical Techniques / Các Kỹ Thuật Cổ Điển

Một cụm thuật ngữ dùng để miêu tả kỹ thuật thống kê chuẩn nhằm phân biệt chúng cụ thể với các kỹ thuật BAYES.

Classical Economics / Kinh Tế Học Cổ Điển

Kinh tế học cổ điển là tư tưởng kinh tế phần lớn xuất hiện ở Anh quốc trong giai đoạn từ giữa thế kỷ 18 đến giữa thế kỷ 19 nhưng có nguồn gốc ở Pháp trong thời kỳ trước đó. Đại diện chủ yếu của nó là Adam Smith, David Ricardo, Robert Malthus, Jean-Baptist Say, Senior và James S. Mill. Về cơ bản, kinh tế học cổ điển quan tâm tới quá trình tăng trưởng và phát triển. Nó đặt ra mục tiêu nghiên cứu bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia, vấn đề phân phối sản phẩm quốc dân cho các nhân tố sản xuất và trong điều kiện dân số ngày càng tăng và nguồn lực có hạn, cũng như vấn đề cạnh tranh tự do trong những nền kinh tế chỉ bao gồm các doanh nghiệp tư nhân. Trọng tâm của kinh tế học cổ điển là quá trình tích lũy tư bản (hay tích lũy vốn), sự mở rộng thị trường và phân công lao động. Kinh tế học cổ điển cũng rất chú trọng việc nêu ra các khuyến nghị chính sách, mặc dù sự can thiệp của chính phủ chỉ được coi là chỉ có tính tạm thời, thực dụng, khi thị trường không họat động. Kinh tế học cổ điển cũng đề cập việc nghiên cứu các vấn đề kinh tế vi mô. Lý thuyết cổ điển về giá trị chú trọng tới chi phí sản xuất và giá trị lao động. Kinh tế học cổ điển khác với các trường phái khác ở chỗ nó bao gồm cả lý thuyết về dân số. Điểm yếu của nó là không sử lý đúng khái niệm tổng cầu và thiếu đi sự rõ ràng trong việc nêu ra các yếu tố quyết định mức cung về vốn để đáp ứng nhu cầu thanh toán tiền lương( tức quỹ lương) và đầu tư mua sắm tài sản cố định. Xét về phương pháp luận, kinh tế học cổ điển chia thành hai trường phái. Một trường phái đi theo phương pháp quy nạp (như Adam Smith), nó tạo ra tiền đề rút ra từ kinh nghiệm, lập luận trên cơ sở các tiên đề, quy luật này và kiểm định kết quả bằng cách sử dụng số liệu thực nghiệm. Trường phái thứ hai (người nổi tiếng nhất là Ricardo) sử dụng phương pháp diễn giải. Họ nêu ra các tiền đề mang tính giả thuyết, suy luận theo phương pháp diễn giải để từ đó rút ra các kết luận, nhưng không tìm cách kiểm chứng nó.

Classical Dichotomy / Thuyết Lưỡng Phân Cổ Điển

Nội dung của học thuyết này là việc xác định riêng biệt và độc lập giá tương đối và tuyệt đối trong kinh tế học cổ điển và tân cổ điển.Trong phân tích cổ điển và tân cổ điển về việc làm và sản lượng, tất cả các biến lúc đầu được biểu thị bằng giá trị hiện thực và giá tương đối. Ở dạng đơn giản nhất, sản lượng là một hàm của lao động và kỹ thuật sản xuất. Lao động phụ thuộc vào tiền lương thực tế, tiền lương thực tế lại phụ thuộc vào cung và cầu của lao động. Để xác định giá cả và tiền công tuyệt đối, lý thuyết định lượng tiền tệ và các hình thái của nó được giới thiệu riêng biệt.Phương pháp này hàm ý rằng tiền tệ mang tính trung lập và không có ảnh hưởng tới các giá trị thực tế. Đây là một trong các định đề của trường phái Keynes nhằm liên kết tiền tệ và các biến thực tế rằng tiền tệ là không trung lập. Tiền có thể được giữ làm tài sản là tiền nhàn rỗi với tương lai không chắc chắn, và quyết định này có thể dẫn đến giảm cầu hữu hiệu đối với một mặt hàng hóa và dịch vụ nào đó cùng với tình trạng thất nghiệp do việc đó gây nên. Thuyết này vi phạm đến quan điểm cổ điển về tính trung lập của tiền tệ.Đến lượt mình, quan điểm trường phái Keynes cũng bị những người thuộc trường phái thích tiền mặt công kích. Họ đề xuất thuyết kỳ vọng hợp lý và lập luận rằng hành vi kinh tế bị chi phối bởi các đại lượng thực tế chứ không phải các đại lượng danh nghĩa. Điều này hàm ý rằng ngoại trừ trường hợp ngắn hạn khi việc nhận biết các sự kiện có thể được hình thành một cách không hoàn hảo, tiền tệ sẽ xác định các giá trị danh nghĩa nhưng không có ảnh hưởng tới các đại lượng thực tế như sản phẩm và việc làm. Với quan điểm đó thì thuyết lưỡng phân cổ điển vẫn đúng.

Clark, John Bates / (1847-1938)

Được phong giáo sư tại trường đại học Columbia năm 1895. Những ấn phẩm chính của ông bao gồm Triết lý về của cải (1885), Phân phối của cải (1899),Các yếu tố cốt yếu của thuyết kinh tế (1897), và Các vấn đề độc quyền (1904). Ông có đóng góp trong việc khám phá độc lập về nguyên lý phân tích biên và được coi là người sáng lập ra HỌC THUYẾT NĂNG SUẤT BIÊN ở Mỹ. Con đường riêng của ông tiến tới lý thuyết năng suất biên là đi từ việc khái quát hoá khái niệm của RICARDO về giá thuê. Ông đã tiến xa hơn VON THUNEN, JEVONS, MENGER và WALRAS bằng việc tuyên bố rằng phân phối thu nhập theo quy luật năng suất biên là "công bằng".

Circular Flow Of Income / Luồng Luân Chuyển Thu Nhập

Đây là luồng tiền thu và chi giữa các hãng và hộ gia đình trong nước. Tiền đi từ các hộ gia đình đến các hãng để đổi lấy hàng hóa và dịch vụ do các hãng sản xuất ra và tiền đi từ các nhà sản xuất tới hộ gia đình để đổi lấy các dịch vụ yếu tố sản xuất do các hộ gia đình cung cấp. Khái niệm đơn giản là giá trị thu nhập bằng tiền của hộ gia đình phải bằng giá trị tiền tệ của sản lượng của hãng sản xuất, và giá trị chi tiêu bằng tiền của hộ gia đình để mua sản phẩm là cơ sở để tính thu nhập quốc dân. Nên lưu ý rằng tổng chi tiêu hay thu nhập, hoặc giá trị bằng sản lượng tiền thực trong một thời kỳ thường sẽ gấp vài lần giá trị lượng tiền trong mô hình đơn giản vì một đơn vì tiền tệ sẽ được trao tay nhiều lần trong thời kỳ đó. Việc rút tiền dẫn đến giảm luồng luân chuyển thu nhập, trong khi bơm tiền lại bổ sung thêm. Để cân bằng mức thu nhập quốc dân thì lượng tiền bơm vào phải bằng với lượng rút ra.

CIF / COST, Insurance And Freight

CIF (Cost, Insurance and Freight) một thuật ngữ chuyên ngành trong thương mại quốc tế nghĩa là Giá thành, Bảo hiểm và Cước, được sử dụng rộng rãi trong các hợp đồng mua bán trong thương mại quốc tế khi người ta sử dụng phương thức vận tải biển. Khi giá cả được nêu là CIF, nó có nghĩa là giá của bên bán hàng đã bao gồm giá thành của sản phẩm, cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm. CIF là một thuật ngữ thương mại quốc tế. CIF, ngoại trừ phần bảo hiểm, là đồng nhất với giá thành và cước (CFR) trong mọi khía cạnh, và các dẫn giải như vậy được áp dụng, bao gồm cả khả năng áp dụng được của nó đối với hàng hải theo tập quán. Bổ sung thêm các trách nhiệm của CFR, bên bán hàng theo các điều kiện giá CIF cần phải có bảo hiểm đơn có thể chuyển nhượng được để bảo chứng (tiền đảm bảo) cho các rủi ro trong quá trình vận chuyển từ các nhà bảo hiểm. Giá trị của bảo hiểm đơn cần bảo chứng cho giá CIF cộng 10 phần trăm và khi có thể cần phải là loại hình tiền tệ đã được ghi trong hợp đồng mua bán. Lưu ý rằng chỉ có bảo chứng cơ bản nhất được yêu cầu tương đương với các khoản mục của điều khoản "C", và bên mua hàng thông thường hay đòi hỏi bảo hiểm đơn dạng bảo chứng cho "mọi rủi ro" ("all risks") phù hợp với các khoản mục trong điều khoản "A". Trách nhiệm của bên bán hàng đối với hàng hóa kết thúc khi hàng hóa được giao cho nhà vận tải hàng hải hoặc khi được giao lên boong tàu vận tải tại điểm đi, phụ thuộc vào các thuật ngữ trong hợp đồng bảo hiểm. Thuật ngữ này chỉ thích hợp cho vận tải hàng hải tập quán, không phải là ro/ro hay vận chuyển container quốc tế.

Choice Variable / Biến Lựa Chọn

Một biến trong bài toán tối ưu mà giá trị của biến được "chọn" để tối ưu hoá giá trị của HÀM MỤC TIÊU. Các biến lựa chọn thường là biến độc lập của hàm mục tiêu.

Chi-Square Distribution / Phân Phối Kai Bình Phương (Phân Phối Khi Bình Phương)

Một phân bố xác suất với tham số n bậc tự do của tham số. Xem CONTINGENCY TABLES.

Child Allowance / Trợ Cấp Trẻ Em

Trong hầu hết các hệ thống THUẾ THU NHẬP đều trợ cấp cho trẻ em ăn theo.Ý tưởng này là giảm nhẹ gánh nặng chi phí nuôi dạy con cái mà gia đình phải gánh chịu.

Chief Technology Officer / Giám Đốc Kỹ Thuật

Một Giám đốc kỹ thuật (Chief Technology/Technical Officer - viết tắt là CTO) là một vị trí điều hành trong một công ty hoặc tổ chức tập trung vào các vấn đề khoa học và công nghệ. Nó thường bao gồm việc giám sát nghiên cứu và phát triển (R&D), xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn ở cấp quản lý. Về cơ bản, một CTO chịu trách nhiệm về việc chuyển vốn đầu tư - có thể là tiền tệ, trí tuệ, hoặc chính trị - vào công nghệ, xúc tiến các mục tiêu của công ty. Họ thường phải kết hợp một nền tảng kỹ thuật, khoa học mạnh mẽ với các kỹ năng phát triển kinh doanh. Vai trò này trở nên nổi bật với sự đi lên của công nghệ thông tin, và từ đó phổ biến trong các ngành công nghiệp dựa trên công nghệ (ví dụ như năng lượng, công nghệ sinh học, vv.) Công việc của các CTO có thể tương phản với công việc của một Giám đốc thông tin - CIO. CIO có khả năng giải quyết vấn đề của tổ chức thông qua việc thích ứng với công nghệ hiện có, trong khi một CTO chủ yếu giám sát phát triển công nghệ mới. Nhiều công ty lớn có cả hai vị trí này. CTO tập trung vào công nghệ tích hợp vào sản phẩm đang được bán cho khách hàng, trong khi các CIO theo định hướng tập trung vào công nghệ cần thiết để điều hành công ty (và trong lĩnh vực CNTT, để duy trì phần mềm nền tảng cho bất kỳ ứng dụng mới nào) . Theo đó, CTO nhiều khả năng được gắn với xây dựng liên quan đến sở hữu trí tuệ các chiến lược và khai thác các công nghệ độc quyền.

Chief Risk Officer / Giám Đốc Quản Lý Rủi Ro

Các Giám đốc quản lý rủi ro (Chief Risk Officer - CRO hay Chief Risk Management Officer - CRMO) của một công ty là nhà quản lý có trách nhiệm phải quản trị những rủi ro một cách hiệu quả, và cả các cơ hội liên quan. Các rủi ro thường được phân loại là rủi ro chiến lược, rủi ro uy tín, rủi ro hoạt động, rủi ro tài chính, hoặc rủi ro liên quan đến giám sát tuân thủ. Trong nhiều tổ chức có cơ cấu phức tạp, các CRO có trách nhiệm phối hợp các phương pháp tiếp cận quản lý rủi ro doanh nghiệp.Vị trí này đã trở nên phổ biến hơn sau khi Công ước Basel, Đạo luật Sarbanes-Oxley, Báo cáo Turnbull.Một ưu tiên chính của các CRO là đảm bảo rằng công ty tuân thủ đầy đủ các quy định được áp dụng (công việc giám sát của Giám đốc giám sát tuân thủ, hay Trưởng nhóm giám sát - CCO). Họ cũng có thể phải đối phó với các vấn đề liên quan đến bảo hiểm, kiểm toán nội bộ, điều tra doanh nghiệp, gian lận, và an ninh thông tin. Các CRO thường có bằng cấp sau đại học và ít nhất 20 năm kinh nghiệm kinh doanh về kế toán, thống kê bảo hiểm, kinh tế, và kiến thức pháp lý.

Chief Operating Officer / Giám Đốc Điều Hành

Chief Operating Officer, hay Chief Operations Officer, viết tắt là COO có thể dịch ra tiếng Việt là Giám đốc điều hành. COO là một trong những lãnh đạo cao cấp nhất trong một tổ chức, là một cấu thành của "bộ C" (tiếng Anh gọi là "the C-suite" - tức là những chức danh quản lý với từ "Chief"). COO chịu trách nhiệm về các hoạt động hàng ngày của công ty. COO thường xuyên báo cáo với giám đốc điều hành cấp cao nhất, hay gọi là Tổng Giám đốc điều hành (CEO). Với tiếng Việt, người ta vẫn gọi COO là Giám đốc điều hành. Tuy nhiên ở các nước phương Tây, trong trường hợp CEO hay Chủ tịch Hội đồng quản trị là nhà điều hành cấp cao nhất, thì COO có thể được coi là President.

Giám Đốc Điều Hành (Chief Operating Officer) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Giám Đốc Điều Hành (Chief Operating Officer) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Chief Marketing Officer / Giám Đốc Marketing

Giám đốc Marketing (viết tắt tiếng Anh là CMO) là một chức danh giám đốc chịu trách nhiệm về các hoạt động marketing khác nhau trong một tổ chức. Với trách nhiệm chính về các lĩnh vực như quản lý bán hàng, phát triển sản phẩm, quản lý kênh phân phối, truyền thông (bao gồm cả quảng cáo và khuyến mãi), quyết định giá cả, nghiên cứu thị trường, và dịch vụ khách hàng, một CMO phải có kiến thức đa dạng của các ngành chuyên môn. Thách thức này có tính biến đổi bởi hoạt động hằng ngày bao gồm từ các công việc phân tích (ví dụ: lên giá và nghiên cứu thị trường) đến công việc cần tính sáng tạo (quảng cáo và khuyến mãi).Không nên nhầm lẫn CMO với Giám đốc Truyền thông (CCO), người có trách nhiệm truyền thông nội bộ và bên ngoài. Thực tế, trong hầu hết các trường hợp, các CMO và CCO đều phải làm báo cáo trực tiếp cho Giám đốc điều hành (CEO) và có thể chia sẻ trách nhiệm về thương hiệu công ty.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55