Paper Money Origin / Nguồn Gốc Của Tiền Giấy
Mặc dù tư tưởng dùng tiền giấy có thể nhận thấy qua ý thức sử dụng hối phiếu và phiếu nhận của người Babylon cổ từ rất sớm khoảng 2500 TCN, những đồng tiền giấy đầu tiên lần tìm được đầu tiên ở Trung Hoa cổ đại. Năm 1282, Kubla Khan phát hành giấy bạc làm từ giấy lụa trên đó có hình triện và chữ ký của các quan trông coi ngân khố của ông ta. Tiền Quan là giấy bạc thực sự cổ nhất. Tờ tiền có kích thước 8,5×11 inches được lưu hành tại Trung Hoa vào triều đại nhà Minh trong khoảng thời gian từ năm 1368 đến 1399. Tờ giấy bạc châu Âu đầu tiên được in tại Thuỵ điển năm 1661, và nước Pháp đã đưa tiền giấy vào lưu thông rộng rãi ở thế kỷ 18. Tiền giấy đầu tiên sử dụng ở Đế quốc Anh có dạng Promissory Note (tức là chứng từ nhận nợ) cấp cho binh lính tại Massachusetts vào năm 1690, lúc này công cuộc bao vây Quebec bị thất bại và không còn tiền để trả cho họ. Tư tưởng dùng tiền giấy trở nên phổ biến với các thuộc địa khác, không chỉ với binh lính vẫn được trả theo cách như vậy.
Operating Mechanism Of Futures Transactions / Cơ Chế Hoạt Động Của Giao Dịch Futures
Mặc dù có mục tiêu khác nhau, cả người hạn chế rủi ro và người đầu cơ đều hoạt động trên cùng một thị trường. Bất kỳ biến động nào xảy ra đối với giá của một hợp đồng đều ảnh hưởng đến cả hai. Dưới đây là một ví dụ về diễn biến biến động của giá phái sinh chứng khoán và các tác động của nó: Tháng Mười Hai Tháng Ba Tháng Sáu Giá vàng là 370$/ounce trên thị trường thanh toán ngay và 358$/ounce cho một hợp đồng tháng Sáu Giá vàng là 395$/ounce trên thị trường thanh toán ngay. Hợp đồng tháng Sáu được bán với giá 398$/ounce Hợp đồng hết hạn khi giá vàng đang là 350$/ounce trên thị trường thanh toán ngay và 352$ trên thị trường futures Vào tháng 12 , giá vàng trên thị trường tiền mặt - giá mà người mua muốn trả tiền để hàng hoá giao ngay - thấp hơn 15$ có với giá của hợp đồng futures tháng 6 Vào tháng 3 , giá vàng tăng lên đến 395$ trên thị trường giao ngay. Hợp đồng future tháng 6 được bán với giá 398$. Người hạn chế rủi ro chờ đến ngày đáo hạn hợp đồng. Người đầu cơ thì bán hợp đồng đã bù, với tính toán rằng giá vàng đã đạt tới mức cao nhất rồi. Vào tháng 6 , khi hợp đồng đến hạn, cả người sản xuất và người sử dụng cân bằng lợi nhuận và thua lỗ của họ trên thị trường futures thông qua các giao dịch bù trên thị trường tiền mặt (thị trường giao ngay) Người sản xuất (người hạn chế rủi ro) Người sản xuất (người hạn chế rủi ro) Người sản xuất (người hạn chế rủi ro) Người sản xuất vàng hạn chế bằng cách bán hợp đồng futures Người sản xuất vàng không thể bán vàng được vì họ chưa có sẵn vàng Do giá HĐ futures đã giảm, người sản xuất thu được tiền lãi từ giao dịch "bù" Người sản xuất vàng bán hợp đồng futures tháng 6 bởi vì họ chưa có sẵn vàng để giao cho tới lúc đó Người mua (người hạn chế rủi ro) Thu nhập khi bán tháng 12 385 $ Sự tăng lên trong giá giao ngay của vàng chính là mối đe doạ mà những người mua cố gắng chống lại để tự bảo vệ mình Chi phí mua tháng 6 - 352$ Thu nhập khi bán vào tháng 12:385$ Kết quả giao dịch (lợi nhuận) 33$ Người sử dụng (người hạn chế rủi ro) Mặc dù người sản xuất phải bán vàng của họ trên thị trường giao ngay với giá thấp hơn giá thoả thuận, lợi nhuận từ các giao dịch futures mang lại cho họ mức lợi nhuận mong muốn Người sử dụng hạn chế bằng cách mua hợp đồng futures. Người đầu cơ Người đầu cơ sẽ bán hợp đồng với suy đoán là giá vàng sẽ đạt tới giá cao nhất. Một đặc điểm để có thể nhận ra điều đó là giá HĐ đã gần bằng giá giao ngay. Nếu người đầu cơ cho rằng có thể đạt được mức giá cao hơn nữa trên thị trường giao ngay trong tương lai gần, họ sẵn sàng trả giá cao hơn để mua HĐ futures. Người sử dụng vàng mua hợp đồng futures tháng 6 bởi vì tháng 6 là thời điểm mà họ cần vàng. Chi phí mua tháng 12: - 385$ Thu nhập trên thị trường giao ngay 350$ Người đầu cơ Lợi nhuận futures +33$ Người đầu cơ mua hợp đồngfutures vàng nếu họ cho rằng gía vàng sẽ tăng Lợi nhuận tổng 383$ Chi phí mua tháng 12: - 385$ Giá bán tháng 3 398$ Người sử dụng (người hạn chế rủi ro) Chi phí mua tháng 12 - 385$ Người sử dụng mất tiền trong hợp đồngfutures bởi vì họ phải trả nhiều tiền hơn để bán hợp đồng bù mà họ đã mua Lợi nhuận giao dịch 13$ Thu nhập trên thị trường giao ngay 350$ Lợi nhuận futures +33$ Lợi nhuận tổng 383$ Do người mua sẽ phải mất ít tiền hơn so với dự kiến để mua vàng trên thị trường tiền mặt, nên tổng chi phí là số tiền mà họ dự kiến Giá mua trên thị trường giao ngay 350$ Chi phí trên thị trường futures +33$ Giá mua vàng thực tế phải trả 383$ Trong bất kỳ một hợp đồng futures nào, lợi nhuận hay thua lỗ của những người hạn chế rủi ro có thể được bù đắp lại, tuỳ thuộc vào sự tăng giảm giá hợp đồngfutures. Tuy nhiên, cuối cùng thì lợi nhuận hay thua lỗ của họ trong các giao dịch futures cũng có thể được bù lại bằng các lợi nhuận hay thua lỗ thu được từ thị trường thanh toán ngay (cash market). Những người đầu cơ có thể thường xuyên bị thua lỗ, thậm chí bị lỗ thường xuyên hơn là thu lãi, tuỳ thuộc vào giá thay đổi và thời gian họ tham gia hay rời bỏ thị trường Xin lưu ý rằng ví dụ trên không bao gồm phí hoa hồng và các chi phí khác có thể phát sinh trong giao dịch hợp đồng futures và giả sử là mọi người đều mua một option theo cùng một giá. Hợp đồng futures cổ xưa nhất có niên đại từ thế kỷ 19 ở Nhật Bản, khi các phiếu gạo (rice tickets) mang lại một nguồn thu nhập thứ cấp ổn định cho những người chủ đất nào thu tiền thuê đất bằng gạo. Họ bán hoá đơn lưu kho của mình với mức giá lưu kho, tạo cho người nắm giữ hoá đơn đó quyền lợi đối với một số lượng gạo cụ thể, với một chất lượng nhất định và vào một ngày cụ thể trong tương lai. Thương gia đã mua phiếu đó có thể đổi chúng thành tiền mặt tại thời điểm đã ấn định hoặc bán phiếu đó cho người khác để thu lợi nhuận. Tương tự như hợp đồng futures ngày nay, những tấm phiếu này tự thân nó không có giá trị thực, nhưng chúng thể hiện một phương pháp thu lợi nhuận dựa trên một loại hàng hoá cơ bản -- đó là gạo. Khoanh vùng thị trường Một số người giao dịch một hàng hoá vật tư sản xuất nào đó không thoả mãn với số tiền họ có thể kiếm lời được từ việc đánh cược trên biến động giá của hàng hoá đó. Họ muốn kiểm soát giá bằng cách cố tạo ra một góc tài chính (financial corner), hay nói cách khác là nắm độc quyền đối với riêng loại hàng hoá đó. Federick Phillipes đã có một cách phân biệt không rõ ràng khi giới thiệu kĩ thuật (technique) này ở miền Bắc Mỹ. Năm 1666, ông đã khoanh vùng thành công thị trường wampum -- loại chuỗi vỏ sò dùng thay tiền của người Mỹ Anh-điêng -- bằng cách giấu đi một vài thùng wampum. Các thương gia da thú phải trả tiền theo giá của ông để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh của mình.
Panel Data / Dữ Liệu Panel
Một kiểu dữ liệu trong đó trong tin chéo các cá nhân được lấy mẫu với các khoảng thời gian đều đặn.
Paid-up Capital / Vốn Huy Động
Là phần vốn phát hành của một công ty mà những người góp vốn được yêu cầu phải thanh toán. Khi phát hành chứng khoán, người phát hành có thể chỉ đòi hỏi việc thanh toán một phần của giá đợt phát hành. Phần còn lại là vốn chưa huy động và có thể được huy động bất cứ lúc nào khi nhu cầu tài chính của công ty yêu cầu.
Paid-in Capital / Vốn Góp
1. Ngân hàng. Cổ phiếu vốn của ngân hàng, Ngân hàng Dự trữ Liên bang, hay ngân hàng phát triển quốc tế được đăng ký và trả bởi các cổ đông của nó. Vốn góp là số tiền đóng góp bởi cổ đông để đạt vốn điều lệ ngân hàng và tiến hành kinh doanh. Các ngân hàng thành viên của Dự trữ Liên bang được yêu cầu mua cổ phần tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang khu vực, bằng 6% vốn và thặng dư của chúng. Chỉ 50% số tiền này thực sự được thanh toán. Phần còn lại, hay vốn có thể thu hồi, có thể được thu hồi bất cứ lúc nào. 2. Tài chính. Sự chênh lệch giữa mệnh giá các cổ phiếu đang lưu hành và giá trị thị trường hiện hành của công ty. Giá trị này được điều chỉnh xuống khi một công ty mua lại cổ phiếu của chính nó. Vốn góp vượt mệnh giá hay vốn quyên tặng không được tính vào cổ phiếu vốn được gọi là thặng dư vốn.
Commodity Currency / Tiền Của Các Quốc Gia Sản Xuất Hàng Hóa
Tiền của các quốc gia sản xuất hàng hóa commodity currency là tên được đặt cho đồng tiền của các quốc gia phụ thuộc nhiều vào việc xuất khẩu nguyên liệu thô để phát triển kinh tế. Những quốc gia này thường là những nước đang phát triển, như Burundi, Tanzania, Papua New Guinea; nhưng cũng bao gồm cả các quốc gia phát triển như Australia và Iceland. Trên thị trường ngoại hối, tiền hàng hóa thường là những đồng tiền như Đôla Australia, Đôla Canada, đôla New Zealand và đồng ran Nam Phi.
P/E / Hệ Số Thị Giá Và Thu Nhập Cổ Phiếu
P/E (Price/Earnings Ratio) là hệ số giữa thị giá một cổ phiếu và thu nhập mà nó mang lại. Đây là một trong những chỉ số phổ biến được niêm yết trên thị trường chứng khoán, trước hết biểu hiện mức giá nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra cho một đồng lời thu được từ cổ phiếu đó. Ví dụ, P/E = 25 có nghĩa nhà đầu tư chịu bỏ ra 25 đồng để thu được 1 đồng lãi từ cổ phiếu này. Tuy nhiên, ý nghĩa quan trọng của P/E là phản ánh kỳ vọng của thị trường về sự tăng trưởng cổ phiếu trong tương lai hơn là kết quả làm ăn đã qua. Người ta so sánh P/E của các công ty cùng ngành, nếu chỉ số P/E của một công ty nào cao hơn mức bình quân, có nghĩa thị trường kỳ vọng công ty này sẽ ăn nên làm ra trong thời gian tới. Một công ty có chỉ số P/E càng cao thì kỳ vọng của thị trường vào lợi nhuận của công ty càng cao, do đó thu hút được càng nhiều các nhà đầu tư. Còn ngược lại khi họ ít hoặc không kỳ vọng vào khả năng sinh lời lớn của công ty thì mức giá họ sẵn sàng bỏ ra khi mua cổ phiếu thấp, dẫn đến chỉ số P/E thấp, biểu hiện giá cổ phiếu này đang trên xu hướng giảm. Chỉ số P/E nên dùng để quyết định mua hay không mua một loại cổ phiếu chỉ sau khi đã đối chiếu giữa các công ty cùng ngành và quan trọng là sau khi đã theo dõi xu hướng chỉ số này trong một thời gian tương đối dài.
Commodity / Vật Phẩm; Hàng Hoá
Bất kỳ vật nào được sản xuất ra để phục vụ tiêu dùng hay trao đổi trên thị trường.
Commodities Index / Chỉ Số Hàng Hóa
Một vài chỉ số hàng hóa theo dõi các thị trường futures và phản ánh kết quả kinh doanhcác hàng hóa như một loại tài sản, tương tự như các chỉ số cổ phiếu phản ánh các biến động của thị trường cổ phiếu. Ví dụ, khi các chỉ số được xếp chung với các chỉ số khác để so sánh với năm trước đó, những chỉ số này cho thấy các mức giá hàng hoá dao động bất ổn định. Loại chỉ số mới nhất, chỉ số hàng hóa Dow Jones - AIG, có tỷ trọng cao do tính "lỏng" trong giao dịch và bao gồm 20 loại hàng hóa trong 8 ngành chính. Chỉ số Bridge/CRB bao gồm 17 loại hàng hoá còn chỉ số hàng hóa Goldman Sachs, bao gồm 22 hàng hóa, có tỷ trọng lớn do số lượng sản xuất lớn trên toàn thế giới.
Commodities / Hàng Hóa Vật Tư Sản Xuất
Cuộc sống ngày nay phụ thuộc vào vật liệu thô - các sản phẩm duy trì hoạt động của con người và hoạt động kinh doanh. Việc dự đoán các sản phẩm này đáng giá bao nhiêu sẽ là nhân tố kích hoạt thị trường futures. Hàng hoá trên thị trường thường là nguyên nhiên vật liệu thô làm vật tư cho sản xuất: lúa mì làm bánh mì, vàng bạc làm đồ trang sức, dầu để chế biến xăng, nhớt và hàng nghìn các sản phẩm khác. Phần lớn các nhà sản xuất và người sử dụng mua, bán các hàng hoá này trên thị trường tiền mặt, thường được biết đến dưới cái tên thị trường thanh toán ngay (cash market) do hàng hoá có giá tiền mặt sẽ phải được thanh toán ngay.
Commission / Hoa Hồng
1. Phí thực hiện giao dịch của nhà môi giới. 2. Phí, trả cho người môi giới bất động sản, tính theo phần trăm giá bán tài sản. 3. Phí trả cho bộ phận ủy thác của ngân hàng, thường là phần trăm thu nhập từ tài khoản ủy thác.
1. Phí thực hiện giao dịch của nhà môi giới. 2. Phí, trả cho người môi giới bất động sản, tính theo phần trăm giá tài sản. 3. Phí trả cho bộ phận ủy thác của ngân hàng, thường là phần trăm của thu nhập từ tài khoản ủy thác.
Operating Income / Thu Nhập Kinh Doanh
Là thu nhập phát sinh từ hoạt động kinh doanh bình thường của một doanh nghiệp.
Thu Nhập Kinh Doanh (Operating Income) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Thu Nhập Kinh Doanh (Operating Income) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Commercial Standby / Tín Dụng Dự Phòng Thương Mại
Là loại thư tín dụng dự phòng được phát hành nhằm bảo lãnh cho trách nhiệm của người xin mở tín dụng phải thanh toán cho hàng hóa, hay dịch vụ trong trường hợp không thanh toán bằng các phương thức thanh toán khác. Do tính chất dự phòng, trong loại hình giao dịch này người bán vẫn đòi tiền trực tiếp người mua, và chỉ khi người mua không thanh toán thì người bán mới xuất trình chứng từ yêu cầu thanh toán đến ngân hàng. Do đó, hình thức thanh toán này vẫn thể hiện mức độ tin tưởng nhất định giữa các đối tác của hợp đồng mua bán và vì vậy, ở một mức độ nào đó có thể hay hơn hình thức thanh toán bằng tín dụng truyền thống.
Operating Gearing / Tỷ Phần Chi Phí Nghiệp Vụ Cố Định
Là một số đo tỷ lệ phần trăm các nghiệp vụ của một doanh nghiệp cấu thành nên các chi phí cố định, phép phân tích điểm hoà vốn có thể được sử dụng để xác định tỷ số này.
Commercial Practice / Tập Quán Thương Mại
Tập quán thương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại. Có rất nhiều loại tập quán thương mại được áp dụng trên thế giới và từng vùng địa lý. Trong buôn bán quốc tế, tập quán thương mại có tác dụng không những giải thích những điều khoản của hợp đồng, mà còn hướng dẫn việc thực hiện các hợp đồng đó và bổ sung cho hợp đồng những điều khoản mà các bên chưa quy định hoặc quy định chưa cụ thể. Tập quán thương mại có thể là tập quán ngành (của một ngành cụ thể), tập quán địa phương, tập quán chung của cả nước hay tập quán quốc tế. Nguyên tắc chung của việc áp dụng tập quán thương mại quốc tế là việc các bên (trong hợp đồng thương mại quốc tế) thỏa thuận về việc áp dụng tập quán thương mại quốc tế. Hiện nay, một số tập quán thương mại thường được sử dụng trong hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam và các nước là: tập quán thương mại trong giao hàng (Incoterm), thanh toán (UCP 500), ngoài ra còn có các tập quán trong việc vận chuyển hàng hóa quốc tế, bảo hiểm, ...
Operating Expenses / Operating Costs / Chi Phí Hoạt Động
Chi phí hoạt động đối với các công ty buôn bán là những chi phí xảy ra trong quá trình hoạt động bình thường của công ty, không phải là chi phí của hàng bán. Thông thường, chi phí hoạt động thường là chi phí bán hàng hoặc chi phí quản lí. Ví dụ, một công ty có thể phải trả tiền thuê văn phòng, tiền thuế, và bảo hiểm cho cả mục đích bán hàng và quản lí. Các chi phí dành cho cả bán hàng và quản lí phải được phân tích và phân chia theo tỉ lệ giữa hai mục đích này trên báo cáo thu nhập. Một trong những trách nhiệm chính mà đội ngũ quản lí phải giải quyết đó là xác định xem nên tiết kiệm chi phí hoạt động đến mức nào để không làm ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của công ty so với đối thủ. Ví dụ, chi phí tiền lương và các quỹ phân bổ cho nghiên cứu và phát triển là chi phí hoạt động. Với mục đích tăng giá hoặc tìm thị trường mới cho sản phẩm nhằm tăng lợi nhuận, một vài doanh nghiệp còn sử dụng biện pháp cắt giảm chi phí. Sa thải nhân viên và sản xuất ra sản phẩm chất lượng thấp ban đầu có thể làm tăng lợi nhuận và có thể là cần thiết trong trường hợp công ty đã bị mất năng lực cạnh tranh, nhưng cũng có rất nhiều loại chi phí thuộc chi phí hoạt động mà đội ngũ quản lí có thể cắt giảm trước khi chất lượng hoạt động của doanh nghiệp bị xuống cấp.
Commercial Policy / Chính Sách Thương Mại
Các quy tắc được một nước áp dụng để điều hành hay quản lý chi tiêu và các hoạt động ngoại thương của mình.
Commercial Policy là chính sách bao gốm các công cụ bảo hộ thương mại, được các quốc gia sử dụng để đẩy mạnh xúc tiến công nghiệp, đa dạng hóa xuất khẩu, tạo việc làm và các chiến lược phát triển mạng muốn, như thuế quan , hạn ngạch, trợ cấp
Commercial Paper Discounting / Chiết Khấu Thương Phiếu
Chiết khấu thương phiếu là một hình thức tín dụng của ngân hàng thương mại, thực hiện bằng việc ngân hàng mua lại thương phiếu chưa đáo hạn của khách hàng. Đặc điểm của nghiệp vụ tín dụng này là khoản lãi phải trả ngay khi nhận vốn. Do đó, khoản lợi tức này sẽ được khấu trừ ngay tại thời điểm chiết khấu. * Ý nghĩa của Chiết khẩu thương phiếu 1. Đối với người sở hữu thương phiếu: Giúp cho họ có tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán, biến các thương phiếu chưa đến hạn thanh toán trở thành các phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán. 2. Đối với ngân hàng: Chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ tín dụng có đảm bảo mà tài sản đảm bảo là các tài sản có tính thanh khoản cao. Vì vậy, nghiệp vụ này vừa tạo ra tài sản sinh lời cho ngân hàng vừa tạo ra một lực lượng dự trữ để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán.
Economic Agent / Đại Diện Kinh Tế
Đại diện kinh tế, theo kinh tế học thì đó là một chủ thể ra quyết định trong một mô hình. Thông thường, người đó ra quyết định bằng cách giải quyết vấn đề tối ưu hoá. Chẳng hạn, người bán và người mua là hai hình thức đại diện thường gặp trong các mô hình cân bằng cục bộ của một thị trường đơn. Các mô hình kinh tế vĩ mô, đặc biệt là mô hình cân bằng tổng quát thường dựa trên những cơ sở vi mô, và coi các hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ, hoặc ngân hàng Trung ương là những đại diện chính trong nền kinh tế - Những hình thức đại diện khác nhau như vậy sẽ đóng vai trò làm đa dạng nền kinh tế.
Operating Cash Flow - OCF / Dòng Tiền Từ Hoạt Động Kinh Doanh
Đây là lượng tiền tạo ra từ hoạt động của một công ty, thường được tính bằng cách lấy thu nhập trừ đi các khoản chi phí hoạt động, tuy nhiên việc tính toán này đã có sự điều chỉnh nhiều so với thu nhập ròng. Ta có thể tìm thấy số liệu về OCF trên các báo cáo lưu chuyển tiền tệ. OCF được tính toán theo công thức sau: OCF = EBIT + Khấu hao - Thuế Mọi người thường cho rằng OCF là một chỉ số đo lường mức lợi nhuận của một công ty tốt hơn thu nhập (earning) vì một công ty có thể cung cấp số liệu dương về thu nhập trên các báo cáo tài chính nhưng có thể vẫn không có khả năng trả nợ. Chính dòng tiền mới là yếu tố giúp công ty thanh toán cac hóa đơn và các khoản nợ đến hạn của mình. Là một nhà đầu tư, bạn cũng có thể kiểm tra tình hình thu nhập thực sự của doanh nghiệp bằng cách sử dụng chỉ số OCF. Nếu công ty thông báo số liệu về thu nhập đạt mức cao kỉ lục nhưng lại có nguồn tiền âm, điều đó chứng tỏ công ty này đang gặp vấn đề với dòng tiền (ví dụ cho nợ quá mức, không hiệu quả trong việc thu hồi tiền), và công ty này đã sử dụng các thủ thuật kế toán nhằm đánh bóng hình ảnh của công ty. Liên quan tới lượng tiền tạo ra từ hoạt động của doanh nghiệp còn có chỉ số "tỉ lệ tiền tạo ra từ hoạt động kinh doanh" (Operating Cash Flow Ratio_OCFR). Đây là chỉ số cho thấy hiệu quả của một công ty trong việc sử dụng lượng tiền tạo ra từ hoạt động kinh doanh để chi trả cho các nghĩa vụ nợ của mình. OCFR được tính bởi công thức: OCFR = Dòng tiền thu được từ hoạt động kinh doanh/Nợ ngắn hạn OCFR có thể đo lường khả năng thanh toán bằng tiền mặt của doanh nghiệp trong ngắn hạn. Sử dụng dòng tiền trong mối tương quan với thu nhập đôi khi sẽ cho ta những thông tin xác thực hơn về khả năng thanh toán nợ của công ty, đơn giản là vì thông thường các hóa đơn được thanh toán bằng tiền mặt.






