Commercial Paper / Hối Phiếu Thương Mại
Phiếu hẹn thanh toán ngắn hạn hay khoản nợ của thị trường tiền tệ không bảo đảm, được phát hành bởi các công ty thương mại và công ty tài chính theo lãi suất cơ bản, có kỳ đáo hạn từ hai đến 270 ngày. Thị trường hoạt động nhất tại các kỳ phát hành dưới 30 ngày. Hối phiếu thương mại trong thực tế là phiếu hẹn thanh toán của công ty phát hành, được dùng để tài trợ khoản nợ hiện tại, và là công cụ cho trả có thể chuyển nhượng được xác định bởi mã số thương mại thống nhất. Lãi suất trên hối phiếu thương mại thường thấp hơn lãi suất tiền vay ngân hàng, khiến thị trường hối phiếu thương mại trở thành sự lựa chọn hấp dẫn các công ty phát hành, đặc biệt trong các giai đoạn tiền tệ thắt chặt và lãi suất cao. Hầu hết lãi suất hối phiếu thương mại được tính trên cơ sở chiết khấu, mặc dầu một vài hối phiếu sinh lãi. Các công ty phát hành tiếp thị hối phiếu của họ thông qua các đại lý hay qua tiếp thị trực tiếp của nhà đầu tư. Hối phiếu thương mại được đánh giá bởi cơ quan xếp hạng nowk, và thường được bảo đảm bởi hạn mức tín dụng ngân hàng. Doanh số tại thị trường thứ cấp rất giới hạn, vì các công ty phát hành có thể phải đáp ứng chặt chẽ nhu cầu đáo hạn của các nhà đầu tư.
Phiếu hẹn thanh toán ngắn hạn, hay khoản nợ của thị trường tiền tệ không bảo đảm, được phát hành bởi các công ty thương mại và công ty tài chính theo lãi suất cơ bản, có kỳ đáo hạn từ hai đến 270 ngày. Thị trường hoạt động nhất tại các kỳ phát hành dưới 30 ngày. Hối phiếu thương mại trong thực tế là phiếu hẹn thanh toán của công ty phát hành, được dùng để tài trợ khoản nợ hiện tại, và là công cụ chi trả có thể chuyển nhượng được xác định bởi mã số thương mại thống nhất. Lãi suất trên hối phiếu thương mại thường thấp hơn lãi suất tiền vay ngân hàng, khiến thị trường hối phiếu thương mại trở thành sự lựa chọn hấp dẫn cho các công ty phát hành, đặc biệt trong các giai đoạn tiền tệ thắt chặt và lãi suất cao hơn. Hầu hết lãi suất hối phiếu thương mại được tính trên cơ sở chiết khấu mặc dầu một bào hối phiếu sinh lãi. Các công ty phát hành tiếp thị hối phiếu của họ thông qua các đại lý hay qua tiếp thị trực tiếp của nhà đầu tư. Hối phiếu thương mại được đánh giá bởi cơ quan xếp hạng nợ, và thường được đảm bảo bởi hạn mức tín dụng ngân hàng. Doanh số tại thị trường thứ cấp rất giới hạn, vì các công ty phát hành có thể phải đáp ứng chặt chẽ nhu cầu đáo hạn của các nhà đầu tư.
Econometrics / Kinh Tế Lượng
Kinh tế lượng là một ngành khoa học thuộc kinh tế, và phần lý thuyết của nó thường được xem là gần gũi với thống kê toán. Theo tác giả Damodar Gujarati, tác giả của hai cuốn rất nổi tiếng Essentials of Econometrics và Basic Econometrics, thì có thể xem kinh tế lượng một cách "nôm na" là bộ môn khoa học về các hệ thống độ đo và phép đo lường kinh tế. Có một điểm khác biệt là độ bao phủ và mức độ ảnh hưởng trong quan sát của kinh tế lượng vượt ra xa rất nhiều so với những khái niệm đơn thuần như tính toán GDP, thất nghiệp, lạm phát, xuất nhập khẩu. Định nghĩa được sử dụng rộng rãi và có tính mô tả cao hơn có thể được xem xét dưới đây. Kinh tế lượng được định nghĩa như một ngành khoa học xã hội trong đó các công cụ lý thuyết kinh tế, toán học và suy diễn thống kê được ứng dụng để phân tích các hiện tượng kinh tế. Một cách nhìn khác được đưa ra như sau. Kinh tế lượng, với tư cách kết cục của một đánh giá nhất định về vai trò của kinh tế học, bao gồm việc ứng dụng các khái niệm-phương pháp của thống kê toán lên các dữ liệu kinh tế để đưa ra những lập luận ủng hộ có tính thực chứng đối với những mô hình xây dựng trên kinh tế toán. Kinh tế lượng có ý nghĩa cung cấp cả những kết quả tính toán số.
Kỹ thuật lập mô hình kinh tế tìm cahcs gải thích theo thuật ngữ toán học những liên hệ giữa các biến số kinh tế then chốt, như chi tiêu vốn, tiền lương, lãi suất ngân hàng, khuynh hướng dân số, và cả những chính sách tiền tệ và lãi khoa của chính phủ. Một mô hình kinh tế lượng giúp những người lập kế hoạch của doanh nghiệp kiểm tra những giả thuyết khác nhau, nhằm giải thích tại sao nền kinh tế vận hành như vậy, ví dụ, quan hệ giữa Yêu Cầu Dự Trữ Của Ngân Hàng và sự biến động lãi suất ngân hàng. Điều này giúp cho các tổ chức thăm dò những phương án khác nhau trong dự án tăng trưởng kinh doanh. Xem REGRESSION ANALYSIS: TECHNICAL ANALYSIS.
Opening Prices / Giá Mở Cửa
Là mức giá quy định cho các giao dịch khi một ngày kinh doanh bắt đầu trên một thị trường.
Commercial Mortgage Backed Securities - CMBS / Chứng Khoán Được Đảm Bảo Bằng Cầm Cố Thương Mại
Chứng khoán thế chấp đảm bảo bằng tài sản thương mại như các tòa nhà chung cư, cao ốc văn phòng, tòa nhà công nghiệp, khách sạn, và các cửa hàng bán lẻ. Các chứng khoán cầm cố thương mại thường được thế chấp bởi tài sản cầm cố lãi suất cố định được chốt lại trong thời hạn 5 đến 10 năm, nhưng cũng có thể có trái phiếu lãi suất thả nổi được thế chấp bởi thế chấp trả trước thời hạn ngắn hơn. Việc gộp chung các chứng khoán có cơ cấu đa cấp, bắt đầu bằng việc các trái phiếu đầu tư được đánh giá AAA- mở rộng xuống đến các trái phiếu cấp thấp hơn. Nếu bất kỳ khoản vay cầm cố nào vỡ nợ, thì các khoản lỗ được phân bổ cho các trái phiếu cấp thấp nhất và các khoản thu hồi được tính vào các chứng khoán cấp độ đầu tư cao cấp. Sự phân bổ khoản lỗ này giúp toàn bộ khoản cho vay thế chấp được bán cho các nhà đầu tư khác nhau. Sự phân tích của các nhà đầu tư thường tập trung vào khả năng không thể chi trả và thanh lý của tổ hợp chứng khoán, để trả trước cho các tín dụng thứ hạng cao và ghi lỗ cho các cấp độ tín dụng thấp hơn.
Econometric Model / Mô Hình Kinh Tế Lượng
Một mô hình toán học của một nền kinh tế hay một bộ phận của một nền kinh tế mà các tham số của nó được ước tính bằng phương pháp kinh tế lượng.
Commercial Bill / Hối Phiếu Thương Mại
Một HỐI PHIẾU được rút để tài trợ cho các hoạt động sản xuất, buôn bán hoặc thương mại khác. Nó khác với HỐI PHIẾU BỘ TÀI CHÍNH hay hối phiếu của chính quyền địa phương vì đó là công cụ của các nghiệp vụ tài chính công cộng.
Opening Gap / Chênh Giá Mở Cửa Thị Trường
Trong giao dịch cổ phiếu chênh giá mở cửa thị trường là hiện tượng giá mở cửa chênh lệch rất lớn so với giá đóng cửa ngày hôm trước, thông thường là do những thông tin đặc biệt tốt hoặc đặc biệt xấu trong thời gian thị trường đóng cửa. Hầu hết các nhà đầu tư cổ phiếu không để ý nhiều lắm đến giá mở cửa và ít có chuyên trang của tờ báo chứng khoán nào lại đưa ra giá mở cửa, mà thường chỉ nêu lên các mức cao nhất, thấp nhất và mức đóng cửa trong những ngày trước đó. Tuy nhiên, những người giao dịch hợp đồng tương lai, đặc biệt là những nhà đầu tư nội nhật hoặc đầu tư ngắn hạn lại sống bằng giá mở cửa. Nguy cơ về chênh giá mở cửa thị trường chính là một trong những động lực đầu tiên khiến họ quyết định trở thành những nhà đầu tư nội nhật, vì họ lo ngại xảy ra một khoảng chênh giá bất ngờ mà họ không kịp phòng ngừa. Ví dụ: một nhà đầu tư nắm 1,000,000 cổ phiếu X qua đêm có thể "mất trắng" 2 triệu USD qua một đêm mà không thể nào làm được gì, nếu giá mở cửa phiên sau thấp hơn giá đóng cửa phiên trước $2/cổ phiếu. Ngược lại, nếu chỉ giao dịch nội nhật, nhà đầu tư có thể căn cứ vào xu hướng biến động thị trường để tránh được những khoản lỗ lớn. Một giả định trong phân tích kỹ thuật cho rằng mọi yếu tố cơ bản đã biết đều được phản ánh đầy đủ trong giá cổ phiếu vào bất kỳ thời điểm nào. Giá cổ phiếu chỉ thay đổi khi có những thông tin mới về giá trị tương lai của cổ phiếu hay hàng hóa xuất hiện trên thị trường. Hầu hết các thị trường chỉ mở cửa nhiều nhất là 7 giờ mỗi ngày. Ngay cả các tài sản tài chính được giao dịch toàn cầu cũng phải có lúc ngừng giao dịch trong ngày. Trong suốt thời gian thị trường đóng cửa thì các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội vẫn xảy ra gây ảnh hưởng đến giá trị tương lai của các loại hàng hóa, của các công ty thương mại và công nghiệp... Những sự kiện này sẽ được phản ánh vào giá chứng khoán ngay khi thị trường mở cửa. Kết quả là, vào ngày hôm sau, giá mở cửa của hầu hết các loại tài sản tài chính đều khác với giá đóng cửa ngày hôm trước, do đó mới xuất hiện "mức chênh giá mở cửa thị trường". Giá mở cửa được coi là kết quả thực tế của "bản báo cáo toàn cầu" về những sự kiện xảy ra sau khi đóng cửa phiên trước. Một số đặc trưng lý thú từ mức chênh giá mở cửa thị trường: 60% trường hợp mà mức chênh giá thị trường dương (giá mở phiên sau cao hơn giá đóng phiên trước) dẫn đến giá đóng cửa cũng tăng lên. 70% trường hợp mà mức chênh giá thị trường âm (giá mở phiên sau thấp hơn giá đóng phiên trước) dẫn đến giá đóng cửa cũng giảm xuống.
Commercial Bans / Ngân Hàng Thương Mại
Ngân hàng tiểu bang hay ngân hàng quốc gia, do các chủ cổ phiếu sở hữu, chấp nhận tiền gởi kỳ hạn, cho vay thương mại và công nghiệp, và thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác cho công chúng. Thuật ngữ ngân hàng thương mại đồng nghĩa với ngân hàng dịch vụ toàn diện, bởi vì nhiều ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụ ủy thác, hối đoái, tài trợ mậu dịch, và nghiệp vụ ngân hàng quốc tế. Hầu hết các công ty ủy thác do tiểu bang cấp phép cũng là các ngân hàng thương mại. Tiền gửi tại ngân hàng thương mại được bảo đảm bởi quỹ bảo hiểm ngân hàng, một quỹ bảo hiểm liên bang do Công ty Bảo hiểm Dự trữ Liên bang quản lý. Xem INDEPENDENT BANK; NONBANK BANK; SECURITIES AFFILIATE.
Ecolabel / Nhãn Sinh Thái
Là sự công bố bằng lời hoặc ký hiệu hoặc sơ đồ nhằm chỉ rõ các thuộc tính môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ. Nói cách khác, nhãn sinh thái cung cấp các thông tin về sản phẩm hoặc dịch vụ trong mối liên hệ với đặc tính môi trường, các khía cạnh môi trường chung và đặc thù của sản phẩm hoặc dịch vụ đó.Mục đích của nhãn sinh thái là khuyến khích việc sản xuất và tiêu dùng những sản phẩm thân thiện với môi trường, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường trong xã hội gắn với lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp. Tuy nhiên hiện nay, do sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng trở nên gay gắt, các yếu tố môi trường đang có nguy cơ bị lợi dụng để làm các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế. Năm 1978, Cộng hoà liên bang Đức bắt đầu cuộc vận động về nhãn sinh thái cùng với việc giới thiệu mác “Thiên thần xanh” cho các sản phẩm đã được lựa chọn. Kể từ đó đến nay, hơn 30 quốc gia trên thế giới đã chấp nhận các chương trình tương tự về nhãn sinh thái, trong đó có các nước phát triển như Mỹ, EU, Nhật... và một số nước đang phát triển trong đó có Thái Lan... Các quy định liên quan đến nhãn sinh thái đã được đề cập đến trong luật Môi trường năm 2005.
Commercial Bank / Ngân Hàng Thương Mại
Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho những người sở hữu nó tránh mất mát, đổi lại người chủ sở hữu phải trả cho người cầm giữ hộ một khoản tiền công. Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn thì ngân hàng trở thành nơi giữ tiền cho những người có tiền và cung cấp tiền cho những người cần tiền. Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng chính tiền đó cho các cá nhân và tổ chức vay lại, và rất hiếm khi có tình trạng cùng một lúc tất cả chủ tiền gửi đến đòi nợ ngân hàng, đó chính là nguyên tắc cơ bản đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng. Căn cứ vào chức năng, ngân hàng được chia làm hai loại: ngân hàng thương mại và ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu. Hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là "vốn- tiền", trả lãi suấthuy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của ngân hàng thương mại.. Hoạt động của ngân hàng thương mại phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội. Khác hẳn với ngân hàng thương mại, ngân hàng Nhà nước (ngân hàng Trung ương) không hoạt động vì mục đích lợi nhuận và cũng không kinh doanh tiền tệ. Mỗi một quốc gia chỉ có một ngân hàng Nhà nước duy nhất, có thể gọi là ngân hàng mẹ có chức năng phát hành tiền, quản lý, thực thi và giám sát các chính sách tiền tệ; và có rất nhiều ngân hàng thương mại, có thể coi là các ngân hàng con có chức năng thực hiện lưu chuyển tiền trong nền kinh tế. Trong trường hợp ngân hàng thương mại đứng trên bờ vực phá sản, ngân hàng Trung ương sẽ là nguồn cấp vốn cuối cùng mà ngân hàng thương mại tìm đến. Trong ngân hàng thương mại, tiền huy động được của người gửi gọi là tài sản "nợ", tiền cho công ty và các cá nhân vay cũng như tiền gửi ở các ngân hàng khác và số trái phiếungân hàng sở hữu gọi là tài sản "có" của ngân hàng. Phần chênh lệch giữa số tiền huy động được và số tiền đem cho vay, gủi ngân hàng và mua trái phiếu gọi là vốn tự có. Phần tài sản có tính thanh khoản cao được giữ để đề phòng trường hợp tiền gửi vào ngân hàng bị rút đột ngột gọi là tỉ lệ dự trữ của ngân hàng. Toàn bộ số vốn của ngân hàng được chia làm hai loại vốn cấp 1 và vốn cấp 2. Vốn cấp 1 còn gọi là vốn nòng cốt, về cơ bản bao gồm vốn điều lệ, lợi nhuận không chia và các quỹ dự trữ lập trên cơ sở trích từ lợi nhuận của tổ chức như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển. Vốn cấp 2 bao gồm: phần giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản của tổ chức, nguồn vốn gia tăng hoặc bổ sung từ bên ngoài (như trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãivà một số công cụ nợ khác). Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, ngân hàng thương mại thực sự đóng một vai trò rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng vốn) của nền kinh tế được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn cho hoạt động của một nền kinh tế thị trường còn non yếu. Năm 2005-2006 Việt Nam đã tích cực đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại Nhà nước với mục đích quan trọng nhất là nâng cao năng lực tài chính của các tổ chức này. Tính đến tháng 2-2007 đã có 34 ngân hàng thương mại hoàn tất việc cổ phần hóa với tổng số vốn điều lệ trên 21.000 tỷ đồng , trong đó Ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn Thương tín có số vốn điều lệ cao nhất là trên 2.089 tỷ đồng.
Ngân hàng tiểu bang hay ngân hàng quốc gia, do các chủ cổ phiếu sở hữu, chấp nhận tiền gởi kỳ hạn, cho vay thương mại và công nghiệp, và thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác cho công chúng. Thuật ngữ ngân hàng thương mại đồng nghĩa với ngân hàng dịch vụ toàn diện, bởi vì nhiều ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụ ủy thác, hối đoái, tài trợ mậu dịch và nghiệp vụ ngân hàng quốc tế. Hầu hết các công ty ủy thác do tiểu bang cấp phép cũng là các ngân hàng thương mại. Tiền gửi tại ngân hàng thương mại được bảo đảm bởi quỹ bảo hiểm ngân hàng, một quỹ bảo hiểm liên bang do Công ty Bảo hiểm Dự trữ Liên bang quản lý. Xem INDEPENDENT BANK; NONBANK BANK; SECURITIES AFFILIATE.
Collusion / Sự Thông Đồng
Sự thông đồng là một hình thức thoả thuận bao che các hành động thị trường của các doanh nghiệp liên kết. Các doanh nghiệp này cùng mục tiêu chung - tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh giá. Nó có thể được thực hiện công khai hoặc ngấm ngầm. Nếu là sự thông đồng công khai thường thì thường qua ký kết văn bản, hoặc miệng dưới sự chứng kiến trực tiếp của các doanh nghiệp liên quan; Nếu là sự thông đồng ngấm ngầm sẽ được thể dưới dạng "cảm thông" diễn ra nhiều lần giữa các doanh nghiệp liê kết. Sự thông đồng thường không vì khách hàng, bởi nó nhằm chiếm thế độc quyền trên thị trường; cũng có khi đó là phản ứng tự vệ để tránh trượt giá trong điều kiện kinh doanh không thuận lợi. Tuy nhiên, kết quả của nó thường đi lại mục tiêu công bằng trong lĩnh vực kinh doanh nên bị cấm hoàn toàn trong chính sách cạnh tranh.
EC Agricultural Livies / Thuế Nông Nghiệp Của EC
Thuế do các thành viên của cộng đồng châu Âu (EC) đánh vào hàng nông phẩm nhập khẩu từ các nước không phải là thành viên.
Open-End Fund And Closed-End Fund / Quỹ Tương Hỗ Mô Hình Mở Và Mô Hình Đóng
1. Khái niệm quỹ tương hỗ 2. Cách thành lập quỹ tương hỗ 3. Mô hình đóng và mở của quỹ tương hỗ Phần lớn các quỹ tương hỗ là các quỹ mô hình mở (quỹ mở). Điều này có nghĩa là nhà đầu tư muốn mua bao nhiêu cổ phiếu thì quỹ sẽ bán bấy nhiêu. Khi tiền đã đầu tư vào quỹ, quỹ sẽ phát triển hơn. Nếu nhà đầu tư muốn bán, quỹ đó sẽ mua lại cổ phiếu (chứng chỉ quỹ) của họ. Đôi khi, một quỹ tương hỗ mô hình mở này sẽ "đóng cửa" đối với các nhà đầu tư mới, khi quỹ đó đã phát triển quá lớn để có thể quản lý một cách hiệu quả - trong khi đó lại không đóng cửa đối với các nhà đầu tư hiện tại - họ vẫn có thể tiếp tục đầu tư thêm tiền vào quỹ. Khi một quỹ đóng cửa theo kiểu này, công ty đầu tư thường tạo ra một quỹ tương tự để tận dụng nguồn vốn của các nhà đầu tư. Quỹ tương hỗ mô hình đóng (quỹ đóng) thì rất giống với các cổ phiếu về cách cổ phiếu của quỹ được giao dịch. Bởi vì các quỹ này đầu tư tiền vào vô số chứng khoán, nên họ chỉ có thể nâng số tiền đầu tư trong một lần duy nhất và họ cũng chỉ chào bán một số lượng cố định nào đó các cổ phiếu của mình - những cổ phiếu sẽ được giao dịch trên một thị trường (vì thế loại quỹ này còn có tên là quỹ giao dịch trên thị trường quỹ) hoặc qua quầy (OTC). Giá thị trường của cổ phiếu một quỹ tương hỗ thường thay đổi theo nhu cầu của các nhà đầu tư cũng như theo giá trị mà quỹ hiện đang nắm giữ.
Collusion / Thông Đồng
Thông đồng (hay cấu kết) là thuật ngữ dùng để chỉ hành động liên kết hoặc hợp tác giữa các đối thủ cạnh tranh nhằm thực hiện một mục đích cụ thể nào đó nhằm mục đích đôi bên cùng có lợi. Cấu kết thường diễn ra trong thị trường cạnh tranh độc quyền, khi quyết định thông đồng giữa một số công ty có thể làm ảnh hưởng rất lớn tới thị trường. Cartel là một dạng thông đồng rất dễ thấy, ngược lại, còn có một dạng khác gọi là thoả thuận ngầm. Theo Lý thuyết trò chơi, nếu các nhà cung cấp hàng hoá hoạt động độc lập với nhau thì tự giá cả trên thị trường sẽ điều chỉnh xuống mức thấp nhất, làm tăng hiệu quả thị trường và làm giảm khả năng ảnh hưởng tới việc quyết định mức giá của mỗi công ty riêng biệt; nếu một công ty tăng giá sản phẩm lên, đối thủ cạnh tranh của nó sẽ không có xu hướng làm theo, bởi vì như vậy số lượng hàng bán ra rất có thể sẽ bị giảm. Những quy luật này nằm trong nội dung cơ bản của Học thuyết méo mó về cầu. Nếu các công ty thông đồng với nhau nhằm tăng giá lên, thì sự suy giảm về cầu được giữ ở mức tối thiểu bởi vì khách hàng không có lựa chọn nào khác để tìm được mặt hàng rẻ hơn. Như vậy, các công ty thực hiện hành động thông đồng đã đạt được lợi ích tại mức chi phí hiệu quả đối với xã hội. Những biện pháp nhằm thực hiện hành động cấu kết ngầm gồm có: - Thống nhất mức giá chung- Phạt vì bán giảm giá- Thông báo trước khi có sự thay đổi về giá- Trao đổi thông tin- Trao đổi và giao dịch về hàng hoá nội bộ Thông đồng là một hình thức phạm tội ở Mỹ (cả ở Canada và hầu hết các nước EU) theo Luật chống độc quyền, nhưng những hành động cấu kết ngầm dưới dạng Giá ấn định theo (price leadership) và Ngầm hiểu (tacit understandings) vẫn diễn ra. Các ví dụ cụ thể của hành động thông đồng ở Mỹ: - Thông đồng về giá và phân chia thị trường trong ngành sản xuất trang thiết bị điện những năm 1960- Các chủ Hiệp hội Bóng rổ lớn thông đồng nhằm hạn chế mức lương của cầu thủ vào giữ thập kỉ 80- Thông đồng về giá giữa các công ty sản xuất thực phẩm cung cấp cho các quán ăn tự phục vụ trong các trường học và quân đội năm 1993- Phân chia thị trường và sản lượng đầu ra trong các công ty sản xuất thức ăn phụ gia cho vật nuôi ở Mỹ, Nhật, Hàn Quốc vào năm 1996. Có rất nhiều con đường khiến thông đồng ngầm phát triển: Những cuộc hội nghị phân tích giá chứng khoán và hội nghị trong ngành công nghiệp hầu hết giúp cung cấp sự minh bạch về giá và chiến lược. Điều này cho phép các doanh nghiệp thấy được vì sao và biện pháp mà các công ty khác đang sử dụng để định giá sản phẩm.Nếu các biện pháp định giá trở nên phức tạp, làm cho khách hàng không thể hiểu nổi (ví dụ định giá dựa trên mức độ rủi ro, thuế và chi phí ẩn, định giá có thể thương lượng), việc làm này có thể dẫn đến việc cạnh tranh dựa trên giá cả là vô nghĩa (bởi vì giá có rẻ cũng khó mà giải thích được với khách hàng nếu chỉ qua một mẩu tin quảng cáo ngắn). Từ đó dẫn đến giá cả của các công ty phải tương đương nhau và cạnh tranh lại bắt đầu từ quảng cáo và xây dựng hình ảnh. Tuy nhiên, việc thông đồng cũng gặp phải một số rào cản lớn, đó là: - Số lượng các doanh nghiệp: nếu số lượng các doanh nghiệp ra nhập ngành càng cao, thì càng khó điều phối và giao tiếp lẫn nhau.- Sự khác nhau giữa chi phí và nhu cầu ở các công ty khác nhau: nếu chi phí ở các công ty khác nhau rất nhiều, thì rất khó để có thể thiết lập được mức giá để ấn định được mức sản lượng.- Lừa đảo: Có rất nhiều nhân tố kích thích để doanh nghiệp không thực hiện theo thoả thuận, bởi vì nếu doanh nghiệp phá vỡ thoả thuận và bán với giá rẻ hơn thì sẽ tạo ra một cuộc chiến về giá và doanh nghiệp thực hiện việc này sẽ kiếm được một món lợi khổng lồ.- Sự ra nhập ngành tiềm năng: Những doanh nghiệp mới sẽ ra nhập ngành, thiếp lập một hệ thống định giá mới và loại bỏ việc cấu kết (mặc dù luật chống bán phá giá, và hàng rào thuế quan ngăn cản các công ty nước ngoài vào trong nước).- Suy thoái kinh tế: Việc gia tăng tổng chi phí trung bình hoặc suy giảm doanh thu dẫn đến động lực cạnh tranh lại với các đối thủ nhằm chiếm được mảng thị phần lớn hơn và kích cầu đối với sản phẩm của mình.
EBIT Margin / Hệ Số Biên Lợi Nhuận Trước Thuế Và Lãi Vay
Hệ số biên lợi nhuận trước thuế và lãi vay (thường được biết đến nhiều hơn với cái tên hệ số biên lợi nhuận hoạt động - tiếng Anh: operating profit margin) phản ánh hiệu quả quản lý tất cả chi phí hoạt động, bao gồm giá vốn và chi phí bán hàng, chi phí quản lý của doanh nghiệp.
Open-End Fund / Quỹ Mở
Hình thức công ty đầu tư bán các cổ phần mới cho công chúng và sẵn sàng mua lại (thu hồi) cổ phần của nó theo giá thị trường khi các nhà đầu tư muốn bán. Các công ty đầu tư mở được công chúng biết đến như các quỹ hỗ tương, và được gọi như thế vì các công ty này liên tục tạo ra các cổ phần mới khi chúng bán chứng khoán. Kết quả là, giá trị tài sản ròng của các quỹ hỗ tương này tăng hay giảm khi các nhà đầu tư mua cổ phần hay mua lại chúng. Các quỹ thường đầu tư vào nhiều loại công cụ tài chính, bao gồm cổ phiếu thường, trái phiếu công ty, trái phiếu miễn thuế, và các công cụ thị trường tiền tệ ngắn hạn, ngược với quỹ đóng. Quĩ đầu tư mở khá phổ biến ở hầu hết các nước phát triển, tuy nhiên thuật ngữ và qui tắc hoạt động có thể hơi khác nhau. Ví dụ: ở Mỹ người ta gọi nó là mutual fund (quĩ tương hỗ), ở Anh là Unit trusts (đơn vị ủy thác đầu tư) hoặc OEIC (công ty đầu tư mở rộng), còn hầu hết các nước châu Âu gọi nó là SICAV (công ty đầu tư không cố định vốn). Hầu hết các quĩ mở là các quĩ quản lý tích cực, tuy nhiên cũng có một số quĩ mở lại áp dụng chiến lược đầu tư thụ động. Một quĩ đầu tư mở được chia đều làm nhiều cổ phần (hoặc đơn vị) mà giá của nó có thể thay đổi với một tỉ lệ cố định theo giá trị thuần của quĩ. Mỗi khi có thêm tiền được đầu tư vào quĩ, lại có một lượng cổ phiếu tương ứng được tạo ra phù hợp với giá cổ phiếu hiện hành, ngược lại, mỗi khi một số lượng cổ phiếu nhất định được quĩ mua lại thì một lượng tài sản tương ứng cũng được bán ra. Theo cách thức này, không bao giờ có dư cung hay cầu đối với cổ phiếu quỹ đầu tư mở, và chúng luôn phải ánh đúng giá trị của các tài sản gốc. Giá cổ phiếu quĩ, hay giá trị tài sản thuần (NAV), được tính toán bằng cách chia tổng tài sản của quĩ sau khi đã trừ đi các khoản nợ cho số cổ phiếu đang lưu hành. NAV = (Tổng tài sản - Tổng nợ)/(số cổ phiếu đang lưu hành) Công việc tính toán này thường được thực hiện vào cuối mỗi ngày giao dịch, đó là lý do khiến các nhà đầu tư chỉ mua được cổ phiếu của các quĩ mở vào cuối ngày giao dịch. Khi các nhà đầu tư mua hoặc bán cổ phiếu của quĩ, anh ta có thể phải chịu một mức phí nhất định, trong trường hợp này, quĩ này là một quĩ "có tải"; nếu quĩ không thu phí đó, thì đây là một quĩ "không tải". Tuy nhiên, những người môi giới thường vẫn thu một mức hoa hồng nhất định đối với việc mua cổ phiếu quĩ, cho dù đó là quĩ "không tải". Ngoài ra còn có các loại phí khác như phí duy trì, và phí rút vốn để hạn chế việc các cổ đông liên tục "nhảy ra" - "nhảy vào" Ngược lại với quĩ đầu tư mở là các quĩ đầu tư đóng.
Collective Products / Sản Phẩm Công Cộng
Sản phẩm công cộng là thuật ngữ dùng để chỉ những hàng hoá/dịch vụ cung ứng cho một nhóm người xác định chứ không phải cho một cá nhân cụ thể. Tuy nhiên, trên thực tế người tiêu dùng sẽ không thể hiện là họ sẵn sàng ưu tiên cho những sản phẩm công cộng, nhưng vẫn hy vọng chi phí bỏ ra giảm tối đa mà số lượng nhận được không bị ảnh hưởng. Chính bởi vậy, những sản phẩm công cộng thường không bán và người ta cũng không áp giá thị trường để đo giá trị của những sản phẩm này.
Collective Goods / Hàng Hoá Tập Thể
Hàng hoá hay dịch vụ mang tính chất KHÔNG LOẠI TRỪ. Xem PUBLIC GOODS
Open Unemployment / Thất Nghiệp Mở
Là một cụm thuật ngữ thường được sử dụng trong bối cảnh của các nước đang phát triển. Là tình trạng mà một cá nhân thừa nhận rằng anh ta đang khôg có công ăn việc làm và sau đó anh ta có thể đăng ký với một cơ sở giao dịch lao động.
Easy-Money Policy / Chính Sách Tiền Tệ Dễ Dàng
Chính sách tiền tệ dễ dàng là chính sách tiền tệ trong đó cơ quan tiền tệ trung ương, như Cục dự trữ Liên Bang, tìm kiếm các biện pháp để tạo ra nhiều tiền với tỉ lệ lãi suất thấp. Chính sách tiền tệ dễ dàng được áp dụng nhằm khuyến khích đầu tư và phát triển kinh tế. Tuy nhiên việc này cũng có thể dẫn đến lạm phát. Từ năm 2007 đến nay, Cục dự trữ Liên Bang đã liên tục theo đuổi chính sách tiền tệ dễ dàng nhằm kích thích nền kinh tế và giúp nước Mỹ thoát khỏi nguy cơ suy thoái do cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn gây ra. Trái với Chính sách tiền tệ dễ dàng là Chính sách tiền chặt.






