Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Pareto Improvement / Sự Cải Thiện Pareto

Một sự phân phối lại các nguồn lực làm cho ít nhất một người khá lên mà không làm cho bất cứ ai kém đi.

Sự Cải Thiện Pareto (Pareto Improvement) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Sự Cải Thiện Pareto (Pareto Improvement) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Opportunity Cost Approach To International Trade / Phương Pháp Sử Dụng Chi Phí Cơ Hội Trong Thương Mại Quốc Tế

Phương pháp này coi chi phí để sản xuất ra môt hàng hoá cụ thể không phải số lượng chi phí thực tế nhất định mà là hàng hoá khác phải từ bỏ để có được hàng hoá nói trên.

Pareto Conditions / Các Điều Kiện Pareto

Một loạt các quy tắc đặt ra trong kinh tế học phúc lợi, nếu thực hiện được sẽ đưa đến một tối ưu Pareto.

Opportunity Cost / Chi Phí Cơ Hội

Trong kinh tế học chi phí cơ hội là sự lựa chọn tốt nhất bị bỏ lỡ. Bất cứ quyết định nào bao gồm trong số nhiều lựa chọn đều có chi phí cơ hội. Ví dụ: nếu một thành phố quyết định xây một bệnh viện trên một khu đất trống của mình, thì chi phí cơ hội là một dự án nào khác có thể được thực hiện trên khu đất đó và kinh phí xây dựng bệnh viện. Khi xây bệnh viện, thành phố đã lỡ mất cơ hội xây một trung tâm thể thao, hay một bãi đỗ xe trên đó, hoặc khả năng bán khu đất ấy đi để thanh toán bớt các khoản nợ của chính quyền thành phố. Chi phí cơ hội với một người không nhất thiết phải được đánh giá về mặt tiền bạc mà nên được đánh giá theo thứ có giá trị nhất với người đó, hoặc với người đánh giá. Ví dụ, một người chọn xem một trận bóng đá giữa MU - Chelsea trên ti vi vào tối Chủ nhật thì sẽ không xem được bất chương trình ti vi nào khác, chi phí cơ hội với người đó có thể là một bộ phim cuối tuần tuyệt vời trên VTV1 nếu người đó thích xem phim, hoặc là một chương trình ca nhạc rất sôi động trên VTV3, nếu người đó thích ca nhạc. Chi phí cơ hội là một trong những điểm khác biệt mấu chốt giữa khái niệm chi phí kinh tếvà chi phí kế toán. Đánh giá chi phí cơ hội là cơ sở để đánh giá chính xác chi phí thực tế của bất cứ hoạt động nào. Trong trường hợp không có một chi phí kế toán, hay chi phí bằng tiền rõ ràng nào gắn với hoạt động đó, thì việc bỏ qua chi phí cơ hội có thể tạo ra ảo tưởng rằng các lợi ích có thể đạt được mà không mất một chi phí nào. Chi phí cơ hội không nhìn thấy trở thành chi phí ẩn của hoạt động đó. Ví dụ: một người có ngôi nhà mặt phố Hàng Bông mở một shop nhỏ kinh doanh quần áo thời trang, mỗi tháng cô ta phải chi ra 50tr tiền giá vốn hàng bán, 5tr cho chi phí điện thoại, điện, nước, thuế môn bài ... liên quan đến hoạt động kinh doanh. Doanh thu của cửa hàng đạt 70tr/tháng. Chủ cửa hàng cho rằng mình có lợi nhuận 15 tr. Trên thực tế, chủ cửa hàng đã bỏ qua số tiền 20tr có thể thu được nếu đem cho người khác thuê cửa hàng thay vì tự kinh doanh (20tr/tháng), và 5tr thu nhập cô ta có thể thu được nếu đi làm ở chỗ khác thay vì ở nhà bán hàng. 25tr này chính là chi phí ẩn trong hoạt động kinh doanh quần áo nói trên. Điều đáng nói là theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, những chi phí ẩn này không được hạch toán vào chi phí khi tính thuế.  Cần lưu ý chi phí cơ hội không phải là tổng giá trị các lựa chọn bị bỏ lỡ mà chỉ là giá trị của lựa chọn tốt nhất có thể bởi vì người ta không thể nào cùng một lúc sử dụng nhiều lựa chọn thay thế được. Trong ví dụ ban đầu, chi phí cơ hội của quyết định xây bệnh viện là việc mất một khu đất trống để xây trung tâm thể thao, xây bãi đậu xe, hoặc số tiền có thể thu được nếu bán khu đất đó, chứ không thể là tổng của 3 lựa chọn đó vì xét cho cùng khu đất đó không thể nào cùng lúc được sử dụng cho hơn một mục đích được. Tuy nhiên, hầu hết các chi phí cơ hội rất khó so sánh. Chi phí cơ hội chỉ có ý nghĩa trong điều kiện khan hiếm nguồn lực, vì khi đó người ta sẽ buộc phải đánh đổi, nếu tiến hành hoạt động này thì phải bỏ hoạt động khác. Chi phí cơ hội thường được thể hiện dưới dạng giá tương đối, tức là giá của một lựa chọn trong tương quan với lựa chọn khác. Ví dụ: giá một bình sữa là $4 và một ổ bánh mì là $2 thì giá của một bình sữa là 2 ổ bánh mì. Đặc trưng này thể hiện rất rõ trong phân tích lợi thế so sánh của Ricardo.   Khái niệm chi phí cơ hội được sử dụng rất rộng rãi trong nhiều lý thuyết, phân tích kinh tế như:       -Lựa chọn của khách hàng      -Khả năng sản xuất      -Giá của tư bản (vốn)      -Quản lý thời gian      -Lựa chọn nghề nghiệp      -Phân tích lợi thế so sánh.

Giá trị của thu nhập hiện tại có thể kiếm được (hay tiết kiệm được) bằng cách đầu tư vào phương án thay thế hấp dẫn nhất so với phương án đang xem xét. Chi phí theo đuổi một dự án với giá là hy sinh thu nhập từ phương án thay thế hấp dẫn nhất. Ví dụ, đầu tư vào trái phiếu chính phủ thay vì cho vay cầm cố. Cũng được gọi là chi phí thay thế.

Paradox Of Voting / Nghịch Lý Về Bỏ Phiếu

Khả năng hệ thống quy tắc đa số đơn giản có thể không đưa ra một sự lựa chọn rõ ràng giữa nhiều giải pháp.

Paradox Of Value / Diamond-water Paradox / Nghịch Lý Giá Trị

Đây là nghịch lý về giá trị của kim cương và nước; mặc dù nước hứu ích hơn rất nhiều vì nó giúp duy trì sự sống nhưng kim cương lại có giá trị cao hơn trên thị trường. Nhà kinh tế học Adam Smith thường được coi là người đầu tiên đưa ra nghịch lý này. Các nhà kinh tế học khác như Nicolaus Copernicus, John Locke, John Law, và nhiều nhà kinh tế học khác đã cố gắng giải thích sự bất cân xứng này. Học thuyết giá trị lao động Adam Smith đã giải thích nghịch lý này bằng cách nói rằng giá trị có 2 mặt: Giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Những thứ có giá trị sử dụng lớn thường có rất ít hoặc không có giá trị trao đổi; và ngược lại, những thứ có giá trị trao đổi lớn thường có ít hoặc không có giá trị sử dụng. Chi tiết hơn, ông giải thích giá trị trao đổi được quyết định bởi lao động. Giá cả thật của mọi thứ, là sự lao động vất vả và những khó khăn để có được hàng hóa ấy. Vì vậy, Smith phủ nhận mối quan hệ giữa giá và tính hữu dụng. Giá cả theo quan điểm của ông liên quan tới yếu tố sản xuất (cụ thể là lao động) và không phải trên quan điểm tiêu dùng. Những người ủng hộ học thuyết giá trị lao động coi đó là lời giải cho nghịch lý. Trái với học thuyết giá trị lao động của Smith, học thuyết lợi ích cận biên lại có cách giải thích khác. Theo học thuyết này, giá cả giao dịch trên thị trường của hàng hóa không bị quyết định bởi lao động (giống như trong học thuyết giá trị lao động) cũng không phải bởi tổng lợi ích của hàng hóa. Thay vào đó, giá cả của hàng hóa bị quyết định bởi giá trị cận biên của hàng hóa. Giá trị cận biên là giá trị ít quan trọng nhất đối với người sử dụng hàng hóa. Cụ thể như sau. Nếu một người sở hữu 1 hàng hóa, anh ta sẽ dùng nó để thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của mình - đó là thứ sẽ được ưu tiên cao nhất. Eugen Bohm-Bawerk đã minh họa điều này với ví dụ người nông dân có 5 bao lúa mỳ. Bao thứ 1 anh ta dùng để làm bánh mỳ ăn và tồn tại Bao thứ 2 anh ta dùng để làm bánh mỳ để ăn và khỏe mạnh để làm việc Bao thứ 3 dùng làm rượu whisky Bao cuối cùng cho chim bồ câu ăn Nếu một trong các bao này bị đánh cắp, anh ta sẽ không giảm mỗi hoạt động đi 1/5, mà thay vào đó anh ta sẽ không cho chim ăn nữa. Nếu anh ta bán bao lúa đó đi và bỏ qua đàn chim bồ câu, thì giá trị sử dụng thấp nhất trong các bao còn lại là để làm rượu whisky, vì vậy giá trị của bao làm whisky chính là giá trị của rượu whisky. Chỉ khi đã mất 4 bao, anh ta mới bắt đầu ăn ít đi. Đó là giá trị cao nhất của lúa mỳ. Bao cuối cùng có giá trị bằng mạng sống của anh ta. Ứng dụng trong việc giải thích nghịch lý, các nhà ủng hộ quan niệm giá trị cận biên giải thích rằng tổng giá trị của kim cương hay nước không phải là vấn đề, mà vấn đề nằm ở giá trị của mỗi đơn vị nước hoặc kim cương. Rõ ràng tổng giá trị của nước đối với con người là vô cùng lớn vì con người cần nước để tồn tại. Tuy nhiên, nguồn cung cấp nước trên thế giới là vô cùng lớn, nên giá trị cận biên của nước là nhỏ. Nói cách khác, mỗi đơn vị nước tăng thêm trở nên kém cần thiết hơn rất nhiều. Còn nguồn cung cấp kim cương rất ít vì vậy tính hữu ích của mỗi đơn vị kim cương tăng thêm cao hơn của mỗi đơn vị nước tăng thêm. Vì vậy, kim cương có giá trị cao hơn đối với con người và người ta phải trả giá cao hơn để có được kim cương.

Economic Bubble / Bong Bóng Kinh Tế

Hiện tượng bong bóng kinh tế (đôi khi còn gọi là "bong bóng đầu cơ", "bong bóng thị trường", "bong bóng tài chính" hay "speculative mania") là hiện tượng chỉ tình trạng thị trường trong đó giá hàng hóa hoặc tài sản giao dịch tăng đột biến đến một mức giá vô lý hoặc mức giá không bền vững. Mức giá cao thái quá này của thị trường không hề phản ánh mức độ thỏa dụng hay sức mua của người tiêu dùng theo như các lý thuyết kinh tế thông thường. Bong bóng kinh tế xuất hiện khi có hiện tượng đầu cơ đối với các tài sản cơ sở, làm cho giá bị đẩy lên cao, do vậy càng khuyến khích hoạt động đầu cơ hơn nữa. Theo sau bong bóng kinh tế bao giờ cũng là một cú giảm giá đột ngột, được gọi là sự sụp đổ của thị trường hay "bong bóng vỡ". Cả giai đoạn bong bóng phình to và giai đoạn bong bóng nổ đều là kết quả của hiện tượng "phản ứng thuận chiều", khi đại đa số những người tham gia thị trường đều có phản ứng đồng nhất với nhau. Giá cả trong giai đoạn bong bóng kinh tế bao giờ cũng biến động vô cùng thất thường, hỗn loạn và gần như không thể dự đoán được nếu chỉ căn cứ vào cung, cầu trên thị trường. Cơ chế của bong bóng kinh tế thường được giải thích bằng một lý thuyết có tên là "lý thuyết về kẻ ngốc hơn". Lý thuyết này giải thích hành vi của những người tham gia vào một thị trường với sự lạc quan thái quá (anh ngốc). Những anh ngốc này sẵn sàng mua những hàng hóa được định giá quá cao, với mong đợi sẽ bán được nó cho một tay đầu cơ tham lam khác (kẻ ngốc hơn) ở một mức giá cao hơn nhiều. Bong bóng sẽ tiếp tục phình to thêm chừng nào mà anh chàng ngốc này vẫn còn tìm được một kẻ ngốc hơn mình sẵn sàng mua những hàng hóa đó. Và bong bóng kinh tế sẽ kết thúc khi anh ngốc cuối cùng trở thành "kẻ ngốc nghếch nhất", người trả giá cao nhất cho thứ hàng hóa được định giá quá cao và không tìm được người mua nào khác cho chúng, lúc đó bóng nổ. Các nhà kinh tế học nhìn nhận bong bóng kinh tế như một hiện tượng gây tác động tiêu cực lên nền kinh tế, bởi vì các nguồn lực được phân bổ vào những mục đích không tối ưu. Thêm vào đó, khi bong bóng nổ, nó có thể gây thiệt hại một khối lượng của cải khổng lồ đồng thời kèm theo một giai đoạn bất ổn kinh tế kéo dài. Hậu quả của bong bóng kinh tế không chỉ tàn phá nền kinh tế của một quốc gia, mà ảnh hưởng của nó có khi còn lan ra ngoài biên giới. Một đặc trưng quan trọng của bong bóng kinh tế là ảnh hưởng của nó đến thói quen tiêu dùng. Những người tham gia vào thị trường trong đó các tài sản được định giá quá cao có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn, vì họ có cảm giác là họ giàu hơn. Nhiều nhà quan sát lấy thị trường bất động sản ở Anh, Úc, Tây Ban Nha và nhiều vùng của Mỹ trong thời gian gần đây làm ví dụ cho ảnh hưởng này. Ngay cả ở Việt Nam, năm 2006, khi thị trường chứng khoán nóng lên, thị trường bất động sản đang đóng băng bỗng nhiên cũng ấm trở lại. Đến một lúc nào đấy, sớm muộn rồi bong bóng cũng vỡ, những người nắm giữ những tài sản bị định giá quá cao này lại bắt đầu có cảm giác nghèo đi, đồng thời từ bỏ thói quen tiêu dùng tùy tiện của mình, gây cản trở đến tăng trưởng kinh tế, và tệ hơn, làm trầm trọng thêm suy thoái kinh tế. Do đó, một nhiệm vụ vô cùng quan trọng của Ngân hàng Trung ương là phải để mắt đến sự tăng giá bất thường trên các thị trường, đặc biệt là thị trường chứng khoán, để nhanh chóng tiến hành những biện pháp ưu tiên nhằm ngăn chặn tình trạng đầu cơ quá mạnh đối với các tài sản tài chính. Khi hiện tượng bong bóng kinh tế diễn ra trên thị trường chứng khoán người ta gọi đó là "bong bóng chứng khoán". Thực ra rất khó phân biệt một bong bóng chứng khoán với một thị trường theo chiều giá lên thông thường, người ta chỉ có thể làm được điều đó khi tất cả đã xảy ra rồi, nếu có sự "nổ bóng" thì đó mới đúng là bong bóng. Điểm lại lịch sử kinh tế thế giới có thể kể ra rất nhiều bong bóng kinh điển như: Vụ đầu cơ hoa Tulip (1637) Vụ công ty South Sea Company (1720) Cuộc Đại Suy Thoái (1929-1933) Bong bóng kinh tế Nhật (thập niên 1980) Bong bóng dotcom (1995 - 2000) Bong bóng Poseidon (1970)

Paradox Of Thrift / Nghịch Lý Của Tiết Kiệm

Trong một nền kinh tế không có đủ việc làm, các hộ gia đình càng tiết kiệm thì sản lượng và việc làm càng thấp.

Nghịch Lý Của Tiết Kiệm (Paradox Of Thrift) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Nghịch Lý Của Tiết Kiệm (Paradox Of Thrift) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Operational Efficiency / Hiệu Quả Vận Hành

Đây là trạng thái của thị trường mà tại đó những người tham gia có thể hoàn thành giao dịch và sử dụng các dịch vụ với mức giá đúng bằng chi phí cần thiết để tạo ra dịch vụ đó. Khi tiến hành các hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư thường phân bổ vốn một cách thận trọng. Một thị trường vận hành hiệu quả sẽ cho phép các nhà đầu tư có thể tiến hành các giao dịch có khả năng tạo ra kết quả tốt hơn nhiều so với dự kiến mà không phải chi trả các khoản "chi phí bôi trơn" quá mức. Chúng ta hãy xem xét một ví dụ. Giả sử rằng trên thị trường mỗi một người môi giới chứng khoán sẽ thu mức phí hoa hồng tối thiểu là 100 đôla cho mỗi lần thực hiện giao dịch. Nếu như bạn đại diện cho một quỹ tương hỗ giao dịch 20.000 cổ phiếu một lúc, chi phí $100/giao dịch là không đáng kể và sẽ chẳng ảnh hưởng gì đến hiệu quả hoạt động đầu tư của bạn. Nhưng nếu bạn là một nhà đầu tư nhỏ, mỗi lần chỉ giao dịch từ 10 đến 20 cổ phiếu, mức hoa hồng này sẽ gần như triệt tiêu ý định đầu tư của bạn, và do đó làm thị trường sẽ vận hành không hiệu quả. Tuy nhiên sự ra đời của hệ thống giao dịch điện tử cùng với mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường đã khiến cho phí giao dịch giảm xuống, công bằng hơn đối với các nhà đầu tư mà vẫn đảm bảo được lợi nhuận cho người môi giới. Bên cạnh thị trường chứng khoán, các lĩnh vực khác cũng có những thay đổi lớn về cấu trúc và điều tiết, mang lại hiệu quả cho "người chơi".

Parabola / Dạng Parabôn

Thông thường trong kinh tế học (mặc dù không nhất thiết) là đồ thị hình chữ U hoặc chữ U ngược của một phương trình bậc hai.

Par Value / Mệnh Giá

1. Ngân hàng. Hệ thống thu chi phiếu trong đó các định chế nhận tiền gởi trao đổi chi phiếu theo mệnh giá, mà không chịu phí (được gọi là phí trao đổi) để chấp nhận các chi phiếu được rút tại các ngân hàng khác. Nghiệp vụ ngân hàng không theo mệnh giá phổ biến trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Các ngân hàng là các ngân hàng thành viên trong Hệ thống Dự trữ Liên bang, được Fed yêu cầu thanh toán các chi phiếu theo mệnh giá, và trong thực tế, hầu hết các ngân hàng, ngay cả các ngân hàng không thành viên, đều thanh toán các chi phiếu trao đổi theo mệnh giá. Dự trữ Liên bang duy trì một danh mục, được gọi là danh mục mệnh giá, của các ngân hàng chi trả các chi phiếu theo mệnh giá. 2. Chứng khoán. Giá trị bề mặt của chứng khoán hay công cụ tài chính. Mệnh giá của một cổ phiếu thường là giá trị danh nghĩa được ấn định bởi điều lệ công ty, và không có liên quan tài chính cụ thể nào sau ngày phát hành. Mệnh giá của chứng khoán nợ, ví dụ trái phiếu, thì rất liên quan, vì đó là giá sẽ được trả cho chủ trái phiếu khi đáo hạn. Phiếu lãi (coupon) trái phiếu phải trả theo bán niên là số phần trăm của mệnh giá một trái phiếu. Cổ tức cổ phiếu ưu đãi thường được phát biểu theo phần trăm của mệnh giá đã ấn định, nhưng cũng có thể được xác định bằng việc chào giá đấu thầu định kỳ. Mệnh giá không liên quan đến giá trị thị trường, vốn bị ảnh hưởng nhiều bởi việc định giá thị trường. Lơi suất trên chứng khoán được chào bán, giá trị tài sản ròng và giá cả của các chứng khoán tương tự trong thị trường thứ cấp.  Xem ACCRETION OF DISCOUNT. Đối với cổ phiếu, mệnh giá là một khái niệm rất cũ. Mệnh giá của một cổ phiếu là giá của cổ phiếu đó trong lần chào bán đầu tiên; công ty phát hành cổ phiếu cam kết sẽ không phát hành thêm một cổ phiếu nào dưới mệnh giá đó, nhờ vậy các nhà đầu tư có thể tin tưởng rằng không ai có thể được mức hưởng giá tốt hơn họ. Đối với thị trường chứng khoán không bị quản lý, điều này có ý nghĩa hơn nhiều so với thị trường bị kiểm soát chặt như ngày nay. Hầu hết các cổ phiếu phổ thông ngày nay không còn có mệnh giá nữa, những cổ phiếu buộc phải có mệnh giá (theo qui định của pháp luật) thì luôn ghi mệnh giá cực kì thấp (thường tương đương với đơn vị tiền tệ nhỏ nhất), ví dụ: một cổ phiếu có giá phát hành $25 có thể có mệnh giá 1 xu. Cổ phiếu phi mệnh giá sẽ không in mệnh giá lên trên giấy chứng nhận cổ phần. Thay cho giá chuẩn, một số bang của Mỹ cho phép cổ phiếu phi mệnh giá có một mức giá công bố, do ban giám đốc của công ty đưa ra, có chức năng tương tự như giá chuẩn là đặt ra mức vốn pháp định mà công ty phải có sau khi trả hết cổ tức hay mua lại tất cả cổ phiếu của nó. Đối với cổ phiếu ưu đãi thì mệnh giá vẫn còn có ý nghĩa, khi mà nó phản ánh mức giá phát hành của cổ phiếu đó. Nó là căn cứ để tính toán cổ tức. Với cổ phiếu phổ thông có khả năng thu hồi thì mệnh giá cũng khá quan trọng, giá thu hồi thường chính là mệnh giá hoặc một mức phần trăm cố định của mệnh giá. Ở Mỹ, việc các công ty phát hành cổ phiếu dưới mệnh giá để làm loãng vốn danh nghĩa là hợp pháp. Tuy nhiên, việc này sẽ làm phát sinh nghĩa vụ nợ của công ty đối với người mua cho phần chênh lệch giữa mệnh giá và giá thực thanh toán. Trên thị trường trái phiếu, giá chuẩn là mức giá ngang bằng với mệnh giá trái phiếu. Trái phiếu kho bạc Mỹ được phát hành với mệnh giá $1000, nhưng giá giao dịch của nó được niêm yết dưới dạng (xx:yy), hai số đầu là số phần trăm, hai số tiếp theo tính theo 1/3200. Ví dụ: giá ghi 100:00 được hiểu là giá chuẩn, tương đương với mệnh giá, giá 75:31 nghĩa là trái phiếu đó có giá (75+31/32)/100 x 1000 = $759.6875 - giá chiết khấu trước thời hạn. Hiện nay chỉ còn các loại trái phiếu, tín phiều kho bạc Mỹ là áp dùng cách yết giá 1/32 thế này, còn tất cả các loại trái phiếu khác đều yết giá theo %. Ngoài ra, trên thị trường tiền tệ, khi hai đồng tiền được trao đổi ở mức giá ngang nhau, thì người ta cũng nói là nó được trao đổi ở mức giá chuẩn. Ví dụ: năm 1964, Trinidad và Tobago chuyển từ đồng Dollar Đông Ấn sang đồng Dollar Trinidad & Tobago, mỗi đồng dollar cũ được đổi lấy 1 đồng dollar mới.

Economic Base Multiplier / Nhân Tử Cơ Sở Kinh Tế

Một dạng của nhân tử khu vực ước tính ảnh hưởng của những thay đổi trong một cơ sở kinh tế vùng đối với toàn bộ nền kinh tế của vùng.

Operational Audit / Kiểm Toán Hoạt Động

Trong phân loại kiểm toán, kiểm toán hoạt động là một quá trình đánh giá có hệ thống về sự hữu hiệu, tính hiệu quả, và tính kinh tế của các hoạt động dưới sự kiểm soát của nhà quản lý và báo cáo cho các cá nhân thích hợp về kết quả của việc đánh giá, đồng thời đưa ra những kiến nghị để cải tiến. Kiểm toán hoạt động đánh giá các hoạt động, nghiệp vụ dưới ba khía cạnh: - Tính kinh tế (Economy) - Tính hiệu quả (Efficiency)  - Sự hữu hiệu (Effectiveness) Một số đặc điểm của kiểm toán hoạt động là: - Chủ thể: chủ yếu là kiểm toán viên nội bộ - Kết thúc kiểm toán: phát hành Báo cáo kiểm toán và Thư quản lý - Cơ sở pháp lý: các văn bản pháp quy có liên quan - Khách thể: một bộ phận, một chương trình, dự án hoặc toàn bộ đơn vị được kiểm toán - Tính chất pháp lý của cuộc kiểm toán: phụ thuộc vào kiểm toán viên thực hiện.

Par Rate Of Exchange / Tỷ Giá Hối Đoái Tương Đương

Việc thể hiện các tỷ giá hối đoái bằng vàng hoặc đồng Mỹ.

Operating Surplus / Thặng Dư (Operating Surplus)

Được đánh giá gần như là một biện pháp của việc quản lý dòng ngân lưu của công ty dựa trên dữ liệu từ báo cáo thu nhập của công ty. Thặng dư được tính bằng cách dựa vào thu nhập trước khi khấu trừ chi phí lãi vay, thuế, khấu hao tài sản cố định và sự thanh toán nợ, hay còn được gọi là lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBITDA) hoặc dòng tiền hoạt động. Thặng dư là một khái niệm kế toán được sử dụng trong thống kê tài khoản quốc gia, nó có thể được sử dụng trong kinh tế vĩ mô như là một giá trị đại diện cho tổng thu nhập lợi nhuận trước thuế, mặc dù doanh thu có thể là một sự đánh giá tốt hơn so với lợi nhuận kinh doanh. Theo SNA 2008 thì thặng dư là thước đo của thặng dư được tích lũy từ sản xuất trước khi khấu trừ thu nhập tài sản. Ví dụ tiền thuê đất và lãi suất thuê. Giá trị thặng dư là một phần của giá trị gia tăng và GDP. Thuật ngữ “tổng thu nhập” được sử dụng khi thặng dư không được phân biệt với thu nhập từ tiền lương, ví dụ trong trường hợp của sở hữu tư nhân. Hầu hết các loại thặng dư thông thường sẽ bao gồm cả thu nhập từ lợi nhuận gộp. Về nguyên tắc, nó bao gồm (riêng từng khoản) cả khoản tăng giá trị sản lượng hàng tồn kho, có hoặc không có điều chỉnh giá trị phản ánh giá trung bình trong kỳ kế toán. Vì vậy giá trị thặng dư không nhất thiết phải đề cập đến tất cả các khoản thu nhập từ lợi nhuận gộp thực hiện trong một nền kinh tế. Lợi nhuận cũng thu được từ tất cả các loại giao dịch bất động sản mà không liên quan đến việc sản xuất mới, và lợi nhuận cũng bao gồm cả các khoản thu nhập từ nước ngoài. Ngoài ra, lợi nhuận phát sinh từ việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, đất đai và tài sản tài chính (trong tất cả các hình thức thu nhập lãi) sẽ không được tính trong đó.

Economic Base / Cơ Sở Kinh Tế

Những hoạt đông kinh tế mà sự tăng trưởng và phát triển của chúng được coi là có vai trò quyết định đối với tăng trưởng kinh tế của một vùng hay của một thị trấn.

Cơ Sở Kinh Tế (Economic Base) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Paper Profit (Loss) / Lợi Nhuận/Thua Lỗ Trên Giấy

Là khoản lãi (lỗ) chưa thực hiện với một khoản đầu tư. Đây có thể là các khoản lãi (lỗ) chưa thực hiện với một danh mục đầu tư cổ phiếu, với các hợp đồng quyền chọn, hoặc với các hợp đồng tương lai. Các khoản lãi(lỗ) này được tính toán dựa trên chênh lệch giữa thị giá chứng khoán với giá mua vào ban đầu của nó. Nhà đầu tư mới xác định được các khoản lãi (lỗ) này về mặt danh nghĩa mà thôi, chúng chỉ trở thành hiện thực khi anh ta bán cổ phiếu trong danh mục đầu tư, khi thực hiện quyền chọn hoặc khi thanh lý chênh lệch các hợp đồng tương lai. Lợi nhuận/thua lỗ trên giấy tờ không phải là đối tượng đánh thuế mà chỉ là căn cứ để nhà đầu tư ra quyết định cho mình. Mặc dù nhận thấy cổ phiếu của mình sụt giá, tức là đã thua lỗ trên giấy tờ, thì nhiều nhà đầu tư vẫn tin rằng mình chưa mất đồng xu nào khi mà họ chưa bán cổ phiếu. Tuy nhiên, trong khi khoản đầu tư của bạn chưa bị sụt giảm về mặt thuế khóa, thì nó đã thực sự suy giảm về mặt giá trị. Ngược lại, vụ bùng nổ các công ty dotcom đã chứng kiến sự xuất hiện của rất nhiều triệu phú trên giấy nhờ quyền chọn mua cổ phiếu mà họ có. Vấn đề là, các ràng buộc trong hợp đồng quyền chọn mua cổ phiếu khiến những người này chưa thể bán cổ phiếu của mình để thu thực lợi. Kết quả là, sau sự sụp đổ của thị trường dotcom, nhiều nhà triệu phú trên giấy trong số này đã trắng tay.

Operating Profit Margin / Hệ Số Lợi Nhuận Hoạt Động

Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết lãnh đạo doanh nghiệp đã thành công đến mức nào trong việc tạo ra lợi nhuận từ hoạt động của doanh nghiệp.

Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết lãnh đạo doanh nghiệp đã thành công đến mức nào trong việc tạo ra lợi nhuận từ hoạt động của doanh nghiệp. Hệ số lợi nhuận hoạt động được tính bằng lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) chia cho doanh thu: Hệ số biên lợi nhuận hoạt động = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay / Doanh thu Hệ số biên lợi nhuận hoạt động được tính cho các giai đoạn khác nhau, chẳng hạn cho 4 quý gần nhất hoặc 3 năm gần nhất. Ví dụ: Nếu EBIT lên tới 200 tỷ VNĐ trong khi doanh thu là 1000 tỷ VNĐ, thì Hệ số lợi nhuận hoạt động là: 200 tỷ VNĐ / 1000 tỷ VNĐ = 20%. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động là một thước đo đơn giản nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một doanh nghiệp đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết một đồng doanh thu có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động. Các nhà quản lý cần phải tìm ra các nguyên nhân khiến hệ số lợi nhuận hoạt động cao hay thấp để từ đó họ có thể xác định xem doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không, hoặc xem giá bán sản phẩm đã tăng nhanh hơn hay chậm hơn chi phí vốn.

Operating Profit / Lợi Nhuận Kinh Doanh

Là khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp sẽ kiếm được nếu không có nguồn lực nào dành cho việc mở rộng doanh nghiệp trong tương lai.

Lợi Nhuận Kinh Doanh (Operating Profit) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Lợi Nhuận Kinh Doanh (Operating Profit) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Commodity Money / Tiền Bằng Hàng Hóa

Đây được coi là một hệ thống tiền tệ dựa trên một hàng hóa cụ thể. Bản thân tiền tệ có thể được làm bằng hàng hóa, ví dụ bằng vàng hoặc bạc, hay nó có thể gồm một phần hoặc toàn bộ các vật qui ước. Ví dụ: tiền giấy có thể chuyển thành tiền kim loại nguyên cốt hoặc đơn giản thành một lượng lớn hàng hóa. Trong một hệ thống như vậy, đơn vị tiền tệ thường gắn với số lượng xác định của hàng hóa và giá trị của nó được xác định bằng giá trị hàng hóa tương ứng (mặc dù bản thân giá trị này cũng bị ảnh hưởng bởi vị thế tiền tệ của hàng hóa đó). Bản vị vàng là một hệ thống tiền bằng hàng hóa.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55