Partnership / Công Ty Hợp Danh
Công ty hợp danh là một loại hình công ty trong đó các thành viên chia sẻ lợi nhuận cũng như thua lỗ của công ty mà họ cùng nhau đầu tư vào. Tại hầu hết các nước, công ty hợp danh được tạo nên từ một hợp đồng hợp tác giữa các cá nhân, những người với tinh thần hợp tác, đồng ý thành lập nên doanh nghiệp, đóng góp cho nó bằng tài sản, hiểu biết, hoạt động và cùng chia sẻ lợi nhuận. Giữa các thành viên có thể có một hợp đồng hợp tác hoặc một bản tuyên bố hợp tác và trong một số hệ thống luật pháp, những thỏa thuận như vậy có thể được đăng ký và công bố rộng rãi cho công chúng. Ở nhiều nước, công ty hợp danh có thể được coi là có tư cách pháp nhân, trong khi một số nước khác lại có quan điểm trái ngược. Công ty hợp danh thường có lợi thế hơn so với công ty cổ phần vì nó không phải đóng thuế cổ tức, trên số lợi nhuận thu được, hay nói cách khác tránh được việc bị đánh thuế hai lần. Hình thức cơ bản nhất của công ty hợp danh là công ty hợp danh trách nhiệm chung (GP) trong đó mọi thành viên đều tham gia vào điều hành kinh doanh và đều chịu trách nhiệm cá nhân về các khoản nợ của công ty. Hai hình thức khác cũng khá phát triển ở hầu hết các nước là Công ty hợp danh hữu hạn (LP) và Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP), Trong công ty hợp danh hữu hạn, ngoài các thành viên quản trị còn có các "thành viên trách nhiệm hữu hạn", những người này từ bỏ quyền điều hành doanh nghiệp để đổi lấy "trách nhiệm hữu hạn" đối với các khoản nợ của công ty. Còn với Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP), tất cả các thành viên đều có trách nhiệm hữu hạn trong một mức độ nhất định.
Common Stock Equivalent / Tương Đương Chứng Khoán Thường
Tương đương chứng khoán thường Chứng khoán ưu đãi (preferred stock) hay trái phiếu có thể chuyển sang chứng khoán thường hay chứng chỉ (warrant) mua chứng khoán với giá đặc biệt hay giá thấp hơn giá thị trường. Chứng khoán dùng để chuyển qua chứng khoán thường có tiềm năng làm loãng trị giá của cổ đông sở hữu chứng khoán thường đang lưu hành và việc hoán chuyển hay thực hiện được người ta nhận biết khi thấy tỷ lệ lợi nhuận/cổ phần bị giảm hoàn toàn.
Partly Rational Expectations / Những Kỳ Vọng Hợp Lý Riêng Phần
Một giả định rằng người ta kỳ vọng một cách hợp lý sự cân bằng dài hạn nhưng lại không chắc chắn về con đường mà nến kinh tế sẽ đi đến vị trí đó, cho nên các kỳ vọng sẽ được xem xét lại ở từng thời kỳ để tính đến sự không nhất quán giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng.
Common Stock And Preferred Stock / Cổ Phiếu Thường Và Cổ Phiếu Ưu Đãi
Cổ phiếu thường (phổ thông) Là loại chứng khoán đại diện cho phần sở hữu của cổ đông trong một công ty hay tập đoàn, cho phép cổ đông có quyền bỏ phiếu và được chia lợi nhận từ kết quả hoạt động kinh doanh thông qua cổ tức và/hoặc phần giá trị tài sản tăng thêm của công ty theo giá thị trường. Về mặt thanh khoản, cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường sẽ có các quyền lợi đối với tài sản của công ty sau khi quyền lợi của người nắm giữ trái phiếu công ty, những người nắm giữ các tài khoản nợ khác và người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi đã được hoàn thành. Thông thường, các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường có 1 quyền bỏ phiếu/cổ phiếu để bầu ra ban Giám đốc (mặc dù số phiếu bầu luôn luôn không tương ứng về số lượng với số cổ phiếu được sở hữu). Ban Giám đốc là một nhóm các thành viên đại diện cho những người sở hữu công ty và đưa ra các quyết định chính cho hoạt động của công ty. Những cổ đông thường cũng có quyền bỏ phiếu liên quan đến các vấn đề khác của công ty như tách cổ phiếu và xây dựng mục tiêu cho công ty. Ngoài quyền bỏ phiếu, các cổ đông thường còn có quyền "ưu tiên mua trước". Quyền ưu tiên mua trước cho phép các cổ đông thường duy trì tỷ lệ cổ phần của mình (bằng cách mua thêm cổ phiếu) trong trường hợp công ty phát hành thêm cổ phiếu. Điều này có nghĩa rằng các cổ đông thường với quyền ưu tiên mua trước có quyền nhưng không bị bắt buộc phải mua số cổ phiếu mới được phát hành thêm để duy trì tỷ lệ cổ phần như cũ trong công ty. Cổ phiếu ưu đãi Cổ phiếu ưu đãi cho phép cổ đông nắm giữ nó được trả cổ tức trước cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường xét về tính thanh khoản. Cũng giống như cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi địa diện cho phần vốn sở hữu của 1 cá nhân trong công ty, mặc dù cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi không có quyền biểu quyết giống như cổ đông thường. Không giống như cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi trả 1 lượng cổ tức nhất định cho cổ đông nắm giữ và không hề thay đổi ngay cả khi công ty không có đủ năng lực tài chính để trả trong trường hợp làm ăn thua lỗ. Lợi ích lớn nhất khi sở hữu cổ phiếu ưu đãi là nhà đầu tư có khả năng thu hồi phần tài sản của công ty lớn hơn cổ đông thường. Cổ đông nắm cổ phiếu ưu đãi luôn được nhận cổ tức đầu tiên, và khi công ty bị phá sản thì họ cũng là những người được công ty trả trước sau đó mới đến cổ đông thường. Nhìn chung, có 2 loại cổ phiếu ưu đãi khác nhau, đó là cổ phiếu ưu đãi tích luỹ, cổ phiếu ưu đãi không tích luỹ, cổ phiếu ưu đãi tham gia và cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi. Nhìn chung cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi có lợi là thu nhập cổ tức ổn định và trong bất cứ trường hợp nào cũng được trả cổ tức, nhưng cũng có nhược điểm ở chỗ khi công ty làm ăn phát đạt thì số cổ tức họ nhận được vẫn không hề tăng lên.
Cổ phiếu thường (phổ thông) Là loại chứng khoán đại diện cho phần sở hữu của cổ đông trong một công ty hay tập đoàn, cho phép cổ đông có quyền bỏ phiếu và được chia lợi nhận từ kết quả hoạt động kinh doanh thông qua cổ tức và/hoặc phần giá trị tài sản tăng thêm của công ty theo giá thị trường. Về mặt thanh khoản, cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường sẽ có các quyền lợi đối với tài sản của công ty sau khi quyền lợi của người nắm giữ trái phiếu công ty, những người nắm giữ các tài khoản nợ khác và người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi đã được hoàn thành. Thông thường, các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường có 1 quyền bỏ phiếu/cổ phiếu để bầu ra ban Giám đốc (mặc dù số phiếu bầu luôn luôn không tương ứng về số lượng với số cổ phiếu được sở hữu). Ban Giám đốc là một nhóm các thành viên đại diện cho những người sở hữu công ty và đưa ra các quyết định chính cho hoạt động của công ty. Những cổ đông thường cũng có quyền bỏ phiếu liên quan đến các vấn đề khác của công ty như tách cổ phiếu và xây dựng mục tiêu cho công ty. Ngoài quyền bỏ phiếu, các cổ đông thường còn có quyền "ưu tiên mua trước". Quyền ưu tiên mua trước cho phép các cổ đông thường duy trì tỷ lệ cổ phần của mình (bằng cách mua thêm cổ phiếu) trong trường hợp công ty phát hành thêm cổ phiếu. Điều này có nghĩa rằng các cổ đông thường với quyền ưu tiên mua trước có quyền nhưng không bị bắt buộc phải mua số cổ phiếu mới được phát hành thêm để duy trì tỷ lệ cổ phần như cũ trong công ty. Cổ phiếu ưu đãi Cổ phiếu ưu đãi cho phép cổ đông nắm giữ nó được trả cổ tức trước cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường xét về tính thanh khoản. Cũng giống như cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi địa diện cho phần vốn sở hữu của 1 cá nhân trong công ty, mặc dù cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi không có quyền biểu quyết giống như cổ đông thường. Không giống như cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi trả 1 lượng cổ tức nhất định cho cổ đông nắm giữ và không hề thay đổi ngay cả khi công ty không có đủ năng lực tài chính để trả trong trường hợp làm ăn thua lỗ. Lợi ích lớn nhất khi sở hữu cổ phiếu ưu đãi là nhà đầu tư có khả năng thu hồi phần tài sản của công ty lớn hơn cổ đông thường. Cổ đông nắm cổ phiếu ưu đãi luôn được nhận cổ tức đầu tiên, và khi công ty bị phá sản thì họ cũng là những người được công ty trả trước sau đó mới đến cổ đông thường. Nhìn chung, có 2 loại cổ phiếu ưu đãi khác nhau, đó là cổ phiếu ưu đãi tích luỹ, cổ phiếu ưu đãi không tích luỹ, cổ phiếu ưu đãi tham gia và cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi. Nhìn chung cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi có lợi là thu nhập cổ tức ổn định và trong bất cứ trường hợp nào cũng được trả cổ tức, nhưng cũng có nhược điểm ở chỗ khi công ty làm ăn phát đạt thì số cổ tức họ nhận được vẫn không hề tăng lên.
Participatory Note / Chứng Chỉ Đầu Tư
Là Chứng chỉ tham gia đầu tư. Về cơ bản là một dạng công cụ tài chính phái sinh được phát hành riêng cho nhà đầu tư nước ngoài bởi các tổ chức đầu tư đang hoạt động tại những thị trường chứng khoán mới nổi. P-Notes đặc biệt thu hút nhà đầu tư nhờ đặc điểm vừa mang tính chất của một chứng chỉ quỹ, vừa mang tính chất của một công cụ thanh toán tương tự như thương phiếu và tín phiếu. Về phương diện tương đồng với chứng chỉ quỹ, giá trị của P-Notes cũng xuất phát từ giá trị danh mục chứng khoán mà tổ chức đầu tư phát hành P-Notes đang nắm giữ. Tuy nhiên, đặc điểm riêng đáng chú ý và rất thu hút giới đầu tư nước ngoài của P-Notes nằm ở chỗ: về phương diện phát hành, sở hữu và chuyển quyền sở hữu, P-Notes được xem như một công cụ thanh toán thương mại tương tự như thương phiếu và tín phiếu. Chính nhờ tính chất lai tạp này mà chủ sở hữu và chuyển nhượng P-Notes, trong mối tương quan so sánh với chủ sở hữu chứng chỉ quỹ, sẽ thụ hưởng ba lợi điểm sau đây: Thứ nhất, do P-Notes được coi là một công cụ thanh toán thương mại, nên khi mua vào hay chuyển nhượng P-Notes, chủ sở hữu hoàn toàn không phải đăng ký với cơ quan quản lý thị trường chứng khoán (ở Việt Nam là Ủy ban Chứng khoán Nhà nước). P-Notes được chuyển nhượng tự do trên thị trường thông qua phương pháp ký hậu. Thứ hai, chủ sở hữu P-Notes cũng được hưởng cổ tức và các khoản lãi vốn từ danh mục đầu tư của tổ chức phát hành. Thứ ba, xuất phát từ đặc điểm không thông qua giai đoạn đăng ký với cơ quan quản lý, P-Notes rất được ưa chuộng bởi các nhà đầu tư nước ngoài, xuất phát từ những nguyên nhân “chủ quan” nào đó mà không muốn công khai thông tin của mình. Như vậy, một nhà đầu tư nước ngoài, có thể là cá nhân hoặc tổ chức, hoàn toàn có thể tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán một quốc gia mà không cần đăng ký với cơ quan quản lý tại quốc gia đó và qua đó, hoàn toàn có thể không công khai thông tin của chính mình. Tại nhiều thị trường chứng khoán mới nổi ở các quốc gia đang phát triển, nguồn vốn đầu tư được các tổ chức đầu tư huy động từ phát hành P-Notes thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư nước ngoài trên thị trường. Câu hỏi được đặt ra ở đây, với một lượng vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng không nhỏ trong các phiên giao dịch, làm thế nào để các cơ quan quản lý có thể nắm bắt và quản lý tốt rủi ro trên thị trường nhằm đảm bảo quyền lợi cho giới đầu tư trong nước cũng như sự phát triển bền vững của thị trường, khi hoàn toàn không có một thông tin nào về chủ thể đứng sau lượng vốn đầu tư nước ngoài đó? Hơn thế nữa, liệu có hay không sự tồn tại của các hoạt động rửa tiền có tổ chức tiềm ẩn đằng sau các khoản vốn đầu tư “nặc danh” thông qua P-Notes? Tất cả những vấn đề vừa nêu đòi hỏi cơ quan quản lý cần nhanh chóng đưa ra những cơ chế quản lý phù hợp, mà trọng tâm và quan trọng hơn hết, phải loại bỏ được yếu tố không thông qua đăng ký của các chủ thể sở hữu P-Notes.
Common Stock / Cổ Phiếu Thường
Chứng khoán tượng trưng cho quyền sở hữu vốn trong một công ty. Các chủ sở hữu cổ phiếu thường có quyền chọn các giám đốc và nhận cổ tức được chia. Trái quyền của cổ phiếu được xếp dưới trái quyền của chủ trái phiếu, các chủ sở hữu cổ phiếu ưu đãi, và các chủ nợ khác.
Options Backdating / Ghi Lùi Ngày Quyền Chọn
Ghi lùi ngày quyền chọn là việc ghi ngày trả quyền chọn mua cổ phiếu cho nhân viên công ty lùi về một ngày trước ngày trả quyền chọn thực tế. Ví dụ: công ty X đã trả lương cho CEO của mình bằng quyền chọn mua cổ phiếu vào ngày 15/9/2006 nhưng sau đó, trong báo cáo tài chính cuối năm sự kiện này lại được ghi nhận vào ngày 15/3/2006? Việc ghi lùi ngày quyền chọn có ý nghĩa như thế nào? Liệu người ta có bao giờ ghi tiến ngày quyền chọn hay không? Việc ghi lùi quyền chọn, nếu được tiến hành một cách cố ý sẽ tương đương với việc lấy tiền từ túi của cổ đông để trả cho người được hưởng quyền mua cổ phiếu. Việc quyết định xem hành vi này có phải là bất hợp pháp hay không còn phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tế. Người được hưởng quyền chọn mua cổ phiếu sẽ chỉ được quyết định thực hiện quyền của mình vào một ngày nào đó sau ngày được nhận quyền này. Rõ ràng, giá cổ phiếu vào thời điểm mua càng thấp thì người có quyền mua càng có lợi. Bằng việc ghi lùi ngày quyền chọn về một thời gian trước ngày quyền chọn thực tế được trả, người được hưởng quyền này có thể "đưa" giá mua cổ phiếu về một thời điểm trong quá khứ để tận dụng giai đoạn giá cổ phiếu ở mức thấp. Quay lại ví dụ trên: nếu giá cổ phiếu trong năm chạm đáy vào một thời điểm nào đó sau 15/3 và trước 15/9, thì việc "đẩy lùi" ngày quyền chọn về 15/3 giúp CEO của công ty X được quyền mua cổ phiếu công ty ở một mức giá vô cùng hấp dẫn trong giai đoạn này. Việc làm này thực ra là một hành động gian lận, nhằm hợp lý hoá khoản thu nhập mà CEO này đáng lẽ không được hưởng. Tuy nhiên, nếu giá cổ phiếu lại đạt thấp nhất vào sau ngày 15-9 thì CEO này không cần phải lùi ngày quyền chọn mà vẫn nghiễm nhiên được hưởng giá tốt. Cũng từ ví dụ trên có thể thấy rằng, việc ghi tiến ngày quyền chọn được trả thực sự không đem lại lợi ích gì cho người hưởng quyền, những người thường lại nắm các vị trí cấp cao. Do đó người ta chỉ nghe thấy việc ghi lùi quyền chọn chứ ít khi nghe thấy việc ghi tiến ngày quyền chọn. Tại Mỹ, từ năm 1992, Uỷ ban Chứng khoán đã áp dụng một qui định yêu cầu các công ty phải báo cáo chi tiết về quyền chọn mua cổ phiếu dành cho các nhân viên cấp cao. Nếu không vì qui định này, các nhân viên cấp cao chắc chắn sẽ vẫn còn giấu diếm cổ đông về việc ghi lùi ngày quyền chọn của mình. Việc ghi lùi ngày quyền chọn còn liên quan đến các thuật ngữ sau: Bullet dodging: việc trì hoãn việc trả quyền chọn đến ngay sau khi đưa ra thông tin xấu, đương nhiên vào thời điểm này giá cổ phiếu sẽ hạ. Spring-loading: tính toán việc trả quyền chọn vào thời điểm ngay trước khi công bố thông tin tốt, trong đó lại chia làm 2 trường hợp nhỏ: Symmetric spring-loading: khi các thành viên ban quản trị thông qua việc trả quyền chọn có biết về các thông tin tốt sắp tới asymmetric spring-loading: khi các thành viên ban quản trị thông qua việc trả quyền chọn không biết về các thông tin tốt sắp tới
Common Market / Thị Trường Chung
Thị trường chung là khu vực gồm nhiều nước trong đó tất cả các nước đều có thể buôn bán trên cơ sở bình đẳng. Trong khu vực này yêu cầu cần phải có một liên minh thuế quan với hệ thống thuế quan đối ngoại thống nhất, quyền tự do di chuyển của nhân tố sản xuất, hàng hóa và dich vụ, cũng như sự thống nhất đáng kể về chính sách thuế và các chính sách khác, lập ra chính sách ngoại thương thống nhất khi quan hệ với các nước ngoài khối. Trên thế giới hiện nay đã hình thành một số thị trường chung như: Thị trường chung Châu Âu EEC hay thường gọi là EC ( European Economic Community). Bao gồm các nước thành viên của Liên minh Châu Âu, mục tiêu là lập liên minh thuế quan trong khuôn khổ cộng đồng; xoá bỏ những cản trở việc tự do di chuyển tư bản, lao động và dịch vụ; xây dựng chính sách buôn bán thống nhất với các nước ngoài cộng đồng; thành lập liên minh kinh tế và tiền tệ; đề ra các nguyên tắc cho chính sách kinh tế thống nhất; thực hiện chính sách chung trong lĩnh vực nông nghiệp, giao thông vận tải... để đến năm 1992 sẽ tạo ra "thị trường không biên giới, tự do lưu chuyển lao động, tư bản, dịch vụ và hàng hoá", mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực mới như công nghệ và bảo vệ môi trường. Thị trường chung A Rập ( Arab Common Market). Thị trường chung do Hội đồng Thống nhất kinh tế A Rập đề nghị thành lập vào năm 1964, HIện nay bao gồm các nước thành viên là Ai Cập, Irac, Goocđani, Xuđăng và Xyri. Trong khối thị trường này người ta dỡ bỏ nhiều hàng rào đối với thương mại và các luồng di chuyển vốn nhưng chưa áp dụng liênm minh thuế quan. Thị trường chung Trung Mỹ ( Central American Common Market). Thị trường chung Trung Mỹ thành lập năm 1960. Mục tiêu của nó là cắt giảm thuế quan và dỡ bỏ hàng rào thương mại giữa các nước thành viên . Nó cũng tìm cách thiết lập liên minh thuế quan Trung Mỹ. Hiện nay Thị trường chung Trung Mỹ (CACM) bao gồm các nước thành viên là: Costa Rica, Honduras, Guatemala, Nicargua, Panama, El Salvador.
Options / Quyền Chọn
Quyền chọn là công cụ tài chính mang lại quyền, chứ không phải là nghĩa vụ, tham gia một giao dịch trong tương lai nhằm mua bán các tài sản cơ sở. Hợp đồng quyền chọn bao gồm quyền chọn Mua (Call option) và quyền chọn Bán (Put option). Giá trị lý thuyết của quyền chọn có thể được xác định bằng một số kĩ thuật. Những mô hình này, được phát triển bởi các nhà phân tích định lượng, có thể dự đoán giá trị của hợp đồng quyền chọn sẽ thay đổi như thế nào khi các điều kiện liên quan thay đổi. Vì vậy, cácrủi ro liên quan đến việc mua bán và sở hữu quyền chọn có thể được hiểu và quản lí ở một mức độ chính xác nhất định. Những hợp đồng quyền chọn được giao dịch trên các sàn giao dịch chứng khoán tạo thành một lớp hợp đồng quyền chọn có các tiêu chuẩn chuẩn hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch giữa các bên có quan hệ độc lập. Quyền chọn OTC được giao dịch giữa các bên tư nhân, thường là các tổ chức đã được vốn hóa, và đã thương lượng trước với nhau về các giao dịch và thanh toán. Một lớp quan trọng khác của quyền chọn, đặc biệt là ở Mỹ, đó là quyền mua cổ phần dành cho người lao động, công ty trao quyền chọn này cho người lao động nhằm mục đích khuyến khích tinh thần làm việc. Một số các dạng khác của quyền chọn là Quyền chọn bất động sản, thường được sử dụng để mua bán một mảnh đất lớn, và quyền chọn trả trước được sử dụng trong các khoản cho vay có thế chấp. Mô hình định giá quyền chọn là Black Scholes và các mô hình Stochastic Volatility.
Common Facility Co-Operative / Các Hợp Tác Xã Có Thiết Bị Chung
Một biện pháp chính sách được xây dựng nhằm tạo điều kiện cho việc tăng cường công nghệ tiên tiến bằng cách thành lập các hợp tác xã sử dụng những trang thiết bị chung hay các công xưởng sản xuất chung để nâng cao năng suất của thợ thủ công lành nghề địa phương và ngành công nghiệp. Xem ALTERNATIVE TECHNOLOGY.
Participation Rate / Tỷ Lệ Tham Gia
Trong điều kiện của thị trường lao động, đây là khái niệm về số lượng các cá nhân đang tìm kiếm hoặc nỗ lực tìm kiếm việc làm. Tỷ lệ này chỉ bao gồm những cá nhân đã đến tuổi lao động (15 tuổi trở lên). Người nhập cư bất hợp pháp hoặc những cá nhân làm những công việc bí mật không công khai cũng không được tính vào số lượng này. Trong suốt thời kỳ suy thoái kinh tế, nhiều người lao động thường cảm thấy chán nản và ngừng tìm kiếm việc làm. Và kết quả của nó là tỷ lệ tham gia thị trường lao động giảm sút. Tỷ lệ tham gia là một chỉ số quan trọng cần lưu ý khi nghiên cứu số liệu thất nghiệp bởi vì con số thất nghiệp phản ánh số lượng những người đang tìm kiếm việc làm nhưng không thể tìm được việc làm. Số lượng những người không còn chủ động tìm kiếm việc làm sẽ không được đưa vào số liệu người trong thống kê tỷ lệ thất nghiệp. Tỷ lệ tham gia cũng rất quan trọng trong việc xác định số lượng các cá nhân sẵn sàng làm việc, đang làm việc hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm. Những người không quan tâm đến công việc không được tính vào số này.
Common External Tariff / Biểu Thuế Đối Ngoại Chung
Mức THUẾ QUAN do các thành viên của một liên minh thuế quan, một THỊ TRƯỜNG CHUNG hay một CỘNG ĐỒNG KINH TẾ áp dụng ở một mức được thống nhất và giống nhau đối với hàng nhập khẩu từ các nước không phải là thành viên.
Participants In Foreign Exchange Markets / Tác Nhân Trên Thị Trường Ngoại Hối
Các bên tham gia giao dịch chính trên thị trường ngoại hối là các ngân hàng thương mại, ngân hàng trung ương, các tập đoàn đa quốc gia, và người môi giới ngoại hối. Các ngân hàng có thể giao dịch trực tiếp với nhau hoặc thông qua môi giới. Trên thị trường ngoại hối các ngân hàng luôn chiếm vị trí thống lĩnh cả về doanh thu lẫn số lượng giao dịch; thị trường liên ngân hàng chiếm tới 70% tổng số lượng giao dịch ngoại hối. Các ngân hàng thực hiện các giao dịch vì các lí do sau: 1. Ngân hàng mua và bán ngoại hối theo nhu cầu khách hàng. 2. Các ngân hàng giao dịch do nhu cầu nội tại của chính bản thân các ngân hàng hoặc để đảm bảo cho các giao dịch trong tương lai. 3. Ngân hàng thực hiện giao dịch vì lợi nhuận thông qua các nghiệp vụ arbitrage ít rủi ro và các giao dịch đầu cơ. Để thực hiện được các giao dịch này ngân hàng phải đảm bảo duy trì được luồng thông tin thị trường hiệu quả và đảm bảo khả năng thanh khoản cao nhằm cung cấp được dịch vụ hiệu quả tới cho khách hàng. Các tập đoàn phi tài chính hoạt động trên thị trường ngoại hối nhằm mục đích lợi nhuận do chênh lệch giá cả ngoại hối đem lại. Các doanh nghiệp ít tham gia giao dịch thì sử dụng thị trường ngoại hối để đảm bảo an toàn cho lượng ngoại hối của mình thông qua các sản phẩm phái sinh. Các tập đoàn lơn thậm chí còn kiếm lợi nhuận thông qua các giao dịch đầu cơ. Ngân hàng trung ương tham gia thị trường ngoại hối nhằm kiểm soát tỷ giá hối đoái đảm bảo sự phù hợp với chính sách tiền tệ của quốc gia.
Option, Option Contract / Quyền Chọn, Hợp Đồng Quyền Chọn
Một loại chứng khoán phát sinh tài chính đại diện cho một hợp đồng được bán bởi người lập quyền chọn cho người mua quyền chọn. Hợp đồng cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua hoặc được bán một chứng khoán hay các tài sản tài chính khác tại giá thực hiện trong một thời kì nhất định hoặc trong một ngày cụ thể (ngày thực hiện). Nói cách khác, hợp đồng quyền chọn là hợp đồng cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua hoặc được bán: + Một số lượng xác định các hàng hoá, ngoại tệ hay chứng khoán. + Tại (hoặc trước) một thời điểm xác định trong tương lai. + Với một mức giá xác định tại thời điểm ký hợp đồng. Tại thời điểm xác định trong tương lai, người mua quyền có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền mua (hay bán) các hàng hoá, ngoại tệ hay chứng khoán. Nếu người mua thực hiện quyền mua (hay bán), thì người bán quyền buộc phải bán (hay mua). Hợp đồng quyền chọn là những chứng khoán hết sức linh hoạt có thể dùng theo rất nhiều cách. Những người giao dịch sử dụng hợp đồng quyền chọn để đầu cơ- một hành động khá mạo hiểm, trao khi những người bảo hộ sử dụng quyền chọn để giảm rủi ro của việc sở hữu tài sản. Đây là một trong những công cụ để bảo vệ nhà đầu tư khi giá chứng khoán liên tục giảm hoặc giảm đột biến. Trong một vụ đầu cơ, những người lập và người mua hợp đồng quyền chọn có quan điểm xung đột nhau về việc tăng giảm giá của một tài sản cơ sở. Ví dụ, bởi vì người lập hợp đồng quyền chọn sẽ cần phải đưa ra những cổ phiếu cơ sở nếu giá thị trường của chứng khoán vượt quá giá thực hiện, người lập hợp đồng quyền chọn để bán quyền chọn mua tin rằng giá cổ phiếu cơ sở sẽ giảm tương đương với giá thực hiện của quyền chọn trong suốt thời gian quyền chọn có hiệu lực, vì như thế người đó sẽ thu được lợi nhuận tối đa. Điều này hoàn toàn trái ngược với cách nhìn của người mua hợp đồng quyền chọn. Người mua tin rằng giá cổ phiếu cơ sở sẽ tăng, bởi vì nếu điều này xảy ra, người mua sẽ có thể có được chúng với giá thấp hơn, và sau đó bán lại chúng để kiếm lời. Có 2 loại quyền chọn là: Quyền chọn mua (call option) và Quyền chọn bán (Put option) Hợp đồng quyền chọn có chiều dài lịch sử thăng trầm, nó được giao dịch trên thị trường phi tập trung OTC (over-the-counter market) từ thế kỷ 19. Tuy nhiên, các hợp đồng quyền chọn đã tăng vọt trong 30 năm trở lại đây, đặc biệt là kể từ khi Sàn giao dịch Option Chicago CBOE-Chicago Board Option Exchange - được thành lập vào tháng 4 năm 1973 (www.CBOE.com). Tại Việt Nam, hoạt động Option chỉ mới bắt đầu và được thí điểm tại Eximbank vào ngày 24.2.2003, sau đó tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.
Common Customs Tariff / Biểu Thuế Quan Chung
Common customs tariff là biểu thuế quan chung, là mức thuế ngoại bộ chung của Liên minh Châu Âu EC. Không có mức thuế quan nào đánh vào buôn bán giữa các nước thành viên của EC và mức thuế quan chung đánh vào các mặt hàng nhập khẩu từ các nước thứ ba. Thực chất đây là vì mục đích bảo hộ, có nhiều nhượng bộ trong đó. Do đó, hầu hết các sản phẩm công nghiệp từ Hiệp hội Mậu dịch tự do Châu Âu (EFTA) không bị đánh thuế. Dưới Hệ thống ưu đãi chung, một lượng hàng hóa lớn từ các nước đang phát triển có thể được nhập khẩu trên cơ sở ưu đãi thuế quan không đối xứng. Tương tự, theo Công ước Lomé, các thành viên EC đã thống nhất một thỏa thuận thương mại, trợ giúp và hợp tác với 46 nước đang phát triển ở châu Phi, Caribê và Thái Bình Dương. Thỏa thuận này cho phép tất cả hàng hóa công nghiệp và nhiều nông sản nhập vào EC từ các nước này không phải chịu thuế.
Partial Derivative / Đạo Hàm Riêng Phần
Trong các hàm số có hai biến số độc lập hay có nhiều hơn, đạo hàm này tính theo một trong những biến số này, trong khi coi các biến số độc lập khác là hằng số.
Common Agricultural Policy / Chính Sách Nông Nghiệp Chung
Hệ thống chung về trợ giá và trợ cấp nông nghiệp do CỘNG ĐỒNG CHÂU ÂU áp dụng. Chính sách này nhằm khuyến khích điều kiện thị trường nông nghiệp ổn định, đảm bảo lợi ích công bằng cho nông dân, duy trì giá cả hợp lý cho người tiêu dùng và áp dụng các chính sách đã được xây dựng để tăng sản lượng và năng suất lao động trong ngành nông nghiệp của cộng đồng.
Option Value / Giá Trị Của Quyền Lựa Chọn
Là giá trị mà người tiêu dùng có được trong việc có quyền chọn mua một loại hàng hoá.
Commodity-Backed Bond / Trái Phiếu Có Hàng Hoá Bảo Đảm
Trái phiếu có hàng hóa bảo đảm là trái phiếu liên quan chặt chẽ với giá hàng hoá cơ sở. Nhà đầu tư có trái phiếu liên quan với giá bạc hay vàng sẽ nhận tiền lãi tuỳ theo giá kim loại hiện hành chứ không phải theo trị giá dollar cố định. Theo ý nghĩa này trái phiếu là rào cản chống lại lạm phát vì nó theo giá chung của hàng hoá (chứ không theo giá tiền giấy).
Partial Adjustment / Điều Chỉnh Từng Phần
Một quá trình mà theo đó hành vi được điều chỉnh một cách không hoàn chỉnh hướng tới một mức mong muốn nào đó.






