Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Collective Choice / Sự Lựa Chọn Tập Thể

Đôi khi được gọi là sự lựa chọn xã hội. Một quyết định do một nhóm hay những người thay mặt cho một nhóm đưa ra.

Open Market Operations / Nghiệp Vụ Thị Trường Mở

Nghiệp vụ thị trường mở là các biện pháp thực thi chính sách tiền tệ mà theo đó ngân hàng Trung ương của một nước kiểm soát cung tiền của nước đó bằng cách mua bán các chứng khoán do chính phủ phát hành hoặc các công cụ tài chính khác. Nghiệp vụ này được thực hiện căn cứ theo các mục tiêu của chính sách tiền tệ, như lãi suất hay tỉ giá. Khi mà hầu hết tiền tệ ngày nay tồn tại dưới dạng điện tử thay vì dưới dạng tiền giấy hay tiền xu, thì các nghiệp vụ thị trường mở có thể được tiến hành một cách khá đơn giản thông qua các lệnh giao dịch điện tử làm tăng, giảm số tiền mà ngân hàng có trong tài khoản gửi tại ngân hàng Trung ương, để đổi lại các công cụ tài chính. Khi muốn tăng cung tiền, Ngân hàng Trung ương sử dụng lượng tiền mới được tạo ra để mua lại các công cụ tài chính trên thị trường mở, như trái phiếu Chính phủ, ngoại tệ hay vàng. Ngược lại, nếu ngân hàng Trung ương bán những tài sản trên ra thị trường mở, lượng tiền mà các ngân hàng thương mại nắm giữ sẽ hạ xuống, dẫn đến việc giảm cung tiền. Quá trình trên không nhất thiết đòi hỏi phải ngay lập tức in thêm tiền mới. Ngân hàng Trung ương có thể chỉ cần tăng thêm số tiền gửi của các ngân hàng thương mại trên tài khoản điện tử của họ mà không cần phát hành thêm tiền giấy. Tuy nhiên, khi các ngân hàng thương mại yêu cầu nhận tiền giấy, thì ngân hàng Trung ương sẽ buộc phải in thêm tiền, đồng thời tài khoản tiền điện tử của ngân hàng thương mại trên cũng bị khấu trừ 1 khoản tương ứng. Các mục tiêu khả dĩ của chính sách thị trường mở Trước hết, với mục tiêu kiềm chế lạm phát, các nghiệp vụ thị trường mở nhắm đến việc điều chỉnh lãi suất ngắn hạn trên thị trường nợ. Mục tiêu này được thay đổi định kỳ để duy trì lạm phát trong trong khoảng mà ngân hàng Trung ương đặt ra. Tuy nhiên, các biến số khác của chính sách tiền tệ cũng nhắm đến điều chỉnh lãi suất: cả FED và Ngân hàng trung ương Châu Âu đều sử dụng sự biến động về mục tiêu lãi suất làm chỉ dẫn cho nghiệp vụ thị trường mở. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện cũng đang sử dụng nghiệp vụ này khá hiệu quả. Ngoài mục tiêu lãi suất nghiệp vụ thị trường mở còn có một số mục tiêu khác như tăng giảm cung tiền, duy trì tỉ giá cố định với một ngoại tệ mạnh nào đó. Dưới chế độ bản vị vàng, các nghiệp vụ thị trường mở còn được sử dụng để ổn định giá vàng, mục tiêu của chính sách thị trường mở khi đó là giữ giá trị của đồng tiền không đổi trong mối tương quan với giá vàng.

Collective Bargaining / Thương Lượng Tập Thể

Đàm phán giữa chủ và các công nhân về việc hình thành các thủ tục và luật lệ bao hàm các điều kiện về làm việc và lương. Xem NATIONAL BARGAINING, COMPANY BARGAINING và PLANT BARGAINING.

Easy Money / Tiền Dễ Vay

Tình trạng chung của việc vay tiền dễ dàng và rẻ trong hệ thống tài chính.

Open Interest / Tiền Lãi Mở

Các hợp đồng thị trường kỳ hạn tài chính không được bù trừ bằng các giao dịch đối nghịch, hay được thực hiện bằng các công cụ tài chính cơ sở. Mặc dầu mỗi giao dịch hợp đồng futures đều có người mua và người bán, nhưng trong việc tính tiền lãi mở chỉ một bên của thị trường là được tính. Tiền lãi mở cũng đề cập đến các hợp đồng quyền chọn chưa được đóng lại, được bù trừ bởi cấc giao dịch đối nghịch hay được phép hết hạn.

Collective Agreement / Thỏa Ước Tập Thể

Thuật ngữ trong lĩnh vực quản lý nhân sự, là một thỏa ước được phê chuẩn giữa hai nhóm người, đặc biệt là thỏa ước giữa một hiệp hội và chủ doanh nghiệp về thù lao và điều kiện làm việc của các thành viên hiệp hội.

Open Economy / Nền Kinh Tế Mở

Open Economy là một nền kinh tế tham gia vào thương mại quốc tế. Nền kinh tế mở khuyến khích ngoại thương và các tương tác toàn diện vê tài chính và phi tài chính với phần còn lại của thế giới, trong các lĩnh vực như giáo dục, văn hóa và công nghệ. Xem thêm CLOSED ECONOMY và OUTWARD-LOOKING DEVELOPMENT POLICIES.

Nền Kinh Tế Mở (Open Economy) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Nền Kinh Tế Mở (Open Economy) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Colleague / Co-Worker - Counterpart / Opposite Number - Competitor / Rival / Đồng Nghiệp

Colleague, co-worker (Anh Mỹ): Người cùng làm trong một công ty.Counterpart, opposite number: Người cùng nghề nhưng ở những công ty khác nhau.Competitor, rival: Người cạnh tranh cùng nghề..

Collateral Security / Vật Thế Chấp

Khi có nghĩa rộng, được dùng để chỉ bất cứ vật thế chấp nào (nhưng không phải đảm bảo cá nhân như bảo lãnh) mà một ngân hàng nhận khi nó cho một khách hàng vay và ngân hàng có quyền đòi trong trường hợp vỡ nợ.

Open Access Resource / Tài Nguyên Được Tự Do Tiếp Cận

Là một tài nguyên thiên nhiên mà không thuộc quyền sở hữu của một ai.

OPEC / Tổ Chức Các Nước Xuất Khẩu Dầu Lửa

OPEC (từ viết tắt của Organization of Petroleum Exporting Countries) là một tổ chức đa chính phủ được thành lập bởi các nước Iran, Iraq, Kuwait, Ả Rập Saudi và Venezuela trong hội nghị tại Baghdad (từ 10 tháng 9 đến 14 tháng 9 năm 1960). Các thành viên Qatar (1961), Indonesia (1962), Libya (1962), Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (1967), Algérie (1969) và Nigeria (1971) lần lượt gia nhập tổ chức sau đó. Ecuador (1973–1992) và Gabon (1975–1994) cũng từng là thành viên của OPEC. Trong năm năm đầu tiên trụ sở của OPEC đặt ở Genève, Thụy Sĩ, sau đấy chuyển về Wien, Áo từ tháng 91965. Các nước thành viên OPEC khai thác vào khoảng 40% tổng sản lượng dầu lửa thế giới và nắm giữ khoảng 3/4 trữ lượng dầu thế giới. OPEC có khả năng điều chỉnh hạn ngạch khai thácdầu lửa của các nước thành viên và qua đó có khả năng khống chế giá dầu. Hội nghị các bộ trưởng phụ trách năng lượng và dầu mỏ thuộc tổ chức OPEC được tổ chức mỗi năm hai lần nhằm đánh giá thị trường dầu mỏ và đề ra các biện pháp phù hợp để bảo đảm việc cung cấp dầu. Bộ trưởng các nước thành viên thay nhau theo nguyên tắc xoay vòng làm chủ tịch của tổ chức hai năm một nhiệm kỳ. Mục tiêu chính thức được ghi vào hiệp định thành lập của OPEC là ổn định thị trường dầu thô, bao gồm các chính sách khai thác dầu, ổn định giá dầu thế giới và ủng hộ về mặt chính trị cho các thành viên khi bị các biện pháp cưỡng chế vì các quyết định của OPEC. Nhưng thật ra nhiều biện pháp được đề ra lại có động cơ bắt nguồn từ quyền lợi quốc gia, thí dụ như trong các cơn khủng hoảng dầu, OPEC chẳng những đã không tìm cách hạ giá dầu mà lại duy trì chính sách cao giá trong thời gian dài. Mục tiêu của OPEC thật ra là một chính sách dầu chung nhằm để giữ giá. OPEC dựa vào việc phân bổ hạn ngạch cho các thành viên để điều chỉnh lượng khai thác dầu, tạo ra khan hiếm hoặc dư dầu giả tạo nhằm thông qua đó có thể tăng, giảm hoặc giữ giá dầu ổn định. Có thể coi OPEC như là một liên minh độc quyền (cartel) luôn tìm cách giữ giá dầu ở mức có lợi nhất co các thành viên.

Cointegration / Đồng Liên Kết

Đây là một phương pháp xác định mối quan hệ dài hạn giữa một nhóm các biến CHUỖI THỜI GIAN.

East-West Economic Corridor-Ewec / Hành Lang Kinh Tế Đông Tây

Khái niệm về EWEC được đưa ra tại hội nghị các bộ trưởng lần thứ 8 tại Manila – Philippines vào tháng 10 năm 1998.  Hành lang kinh tế đông tây là : Tuyến hành lang dài 1.450km, đi qua 4 nước, bắt đầu từ thành phố cảng Mawlamyine (bang Mon) đến cửa khẩu Myawaddy (bang Kayin) ở biên giới Myanmar - Thái Lan. Ở Thái Lan, bắt đầu từ Maesot, chạy qua 7 tỉnh: Tak, Sukhothai, Kalasin, Phitsanulok, Khon Kaen, Yasothon và Mukdahan. Ở Lào, chạy từ tỉnh Savanakhet đến cửa khẩu Dansavanh. Và ở VN, chạy từ cửa khẩu Lao Bảo qua các tỉnh thành Quảng Trị, Huế và Đà Nẵng. Và quan trọng là nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương với một cự ly không thể ngắn hơn Về mặt địa lý hành lang kinh tế đông tâylà một liên vùng rộng lớn mà tới nay vẫn chưa phânđịnhranh giới rõ ràng: là tuyến hành lang dài 1.450km, đi qua 4 nước, bắt đầu từ thành phố cảng Mawlamyine (bang Mon) đến cửa khẩu Myawaddy (bang Kayin) ở biên giới Myanmar - Thái Lan. Ở Thái Lan, bắt đầu từ Maesot, chạy qua bảy tỉnh: Tak, Sukhothai, Kalasin, Phitsanulok, Khon Kaen, Yasothon và Mukdahan. Ở Lào, chạy từ tỉnh Savanakhet đến cửa khẩu Dansavanh. Và ở VN, chạy từ cửa khẩu Lao Bảo qua các tỉnh thành Quảng Trị, Huế và Đà Nẵng.  Và quan trọng là nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương với một cự ly không thể ngắn hơn.  EWEC được thành lập nhằm mục đích gì? Đẩy mạnh hợp tác kinh tế giữa các địa phương của bốn nước dọc theo EWEC. Tạo thuận lợi cho thương mại , đầu tư  và phát triển kinh tế . Giảm chi phí vận tải tại các địa phương dọc theo EWEC, giúp cho việc vận chuyển hàng hóa và hành khách đạt hiệu quả cao hơn. Góp phần xóa đói, giảm nghèo tại các địa phương dọc theo EWEC. Các dự án lớn: Xây dựng tuyến đường bộ Đông-Tây. Xây dựng cảng chung chuyển tại Mawlamyine (hoặc Yangon) và Đà Nẵng. Thuận lợi hóa vận chuyển người và hàng hóa qua biên giới. Phát triển nguồn nhân lực phục vụ giao thông vận tải. Phát triển năng lượng (điện năng). Thúc đẩy thực hiện các hiệp định về trao đổi năng lượng. Phát triển cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc. Phát triển du lịch. Các sáng kiến về hành lang kinh tế: Các sáng kiến của Ban Công tác Phát triển Hành lang Đông-Tây thuộc ủy ban hợp tác kinh tế và công nghiệp ASEAN -METI. Ngoài ra, còn gần 70 dự án/tiểu dự án khác trong các lĩnh vực giao thông vận tải, thông tin liên lạc, du lịch, tạo thuận lợi cho thương mại, nông nghiệp, đầu tư tư nhân và phát triển các khu công nghiệp . Các dự án này cùng với 10 dự án lớn nói trên hợp thành ma trận phát triển. Lợi thế của EWEC: Đây là một vùng có tiềm năng phát triển. Chẳng hạn, miền Trung Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, nằm giữa trục giao thông Bắc - Nam, là cửa ngõ hành lang đường bộ xuyên quốc gia tiến ra biển, có điều kiện phong phú để phát triển du lịch. Trung và Hạ Lào có tiềm năng về đất lâm nghiệp, thủy điện, khoáng sản. Các tỉnh Đông Bắc Thái Lan và của Myanmar có tiềm năng lớn về nông nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng.  Khu vực đa sắc tộc, có các nền văn hóa đa dạng, phong phú, có nhiều danh thắng, di tích lịch sử nổi tiếng đã được quốc tế công nhận. Hành lang của những địa phương nghèo: Các tỉnh thuộc 4 quốc gia mà hành lang này đi qua đều là những địa phương nghèo. Đơn cử như khu vực từ Đà Nẵng đến Quảng Trị của Việt Nam, vẫn còn là những khu vực trước đây ít được các nhà đầu tư chú ý. Tuy nhiên, trong 5 năm trở lại đây, khu vực này đã được quan tâm nhiều hơn. Bằng chứng là, có nhiều dự án đầu tư lớn đang và sẽ được triển khai tại đây. Khi hành lang này đi vào hoạt động, các địa phương dọc Hành lang sẽ có được cơ hội lớn là liên kết thông qua một trục đường bộ thông suốt. Thông qua các dự án thuộc EWEC, những người dân sống trong vùng hành lang này sẽ có nhiều cơ hội để thay đổi cuộc sống Những dấu hiệu khởi sắc: Ðón đầu EWEC, những năm qua, Việt Nam đã tập trung nguồn lực để thông hầm qua đèo Hải Vân, nâng cấp quốc lộ 9, quốc lộ 1A và hệ thống cảng biển. Ðến nay EWEC đã nối liền với những hải cảng lớn ở miền trung, như cảng Chân Mây (Thừa Thiên - Huế), cảng Tiên Sa, cảng Liên Chiểu (Ðà Nẵng) cho tàu sức chở 50 nghìn DWT, với công suất cụm cảng khoảng sáu triệu tấn/năm. Hệ thống sân bay quốc tế ở Ðà Nẵng, Huế được nâng cấp để đón mỗi năm khoảng tám triệu lượt khách. Cùng đó là hàng loạt các khu kinh tế, khu thương mại mở ra với những chính sách ưu đãi đặc biệt, như Lao Bảo, Chân Mây, Hòa Khánh, Chu Lai, Dung Quất... Trên đất nước Lào, những dự án đầu tư ven EWEC đang được triển khai, hứa hẹn một tương lai sáng sủa và là niềm tự hào của những người dân nơi đây. Khu cửa khẩu Hữu Nghị, nơi có một "Las Vegas" phương Ðông hay Ðen-sa-vẳn, một "thiên đường mua sắm". Thái Lan với hoạt động thương mại và du lịch hướng về phía đông rất mạnh và có chiều sâu ở cả 17 tỉnh Ðông Bắc. Thực tế những năm gần đây, giới doanh nhân Thái đã gặt hái được rất nhiều từ EWEC, thông qua đầu tư vào các tỉnh miền trung Việt Nam và Lào. Điểm yếu: Bản thân EWEC hiện trạng vẫn được coi là một vùng liên nghèo, cơ sở hạ tầng kỹ thuật yếu kém. Tuy nhiên với tiềm năng về địa lý, đất đai, tài nguyên khoáng sản và đặc biệt là tính chất văn hóa đa sắc tộc, khả năng phát triển ở khu vực này vẫn được coi là rất lớn, rất mạnh mẽ và mang tính bền vững cao vì nó thoả mãn các yêu cầu chính trị cho mỗi nước thành viên tham gia. Cho nên dù vẫn nhấn mạnh quan điểm cùng hợp tác, cùng phát triển và cùng thắng, EWEC vẫn ẩn chứa yếu tố cạnh tranh giữa các nước, các địa phương với mục tiêu tận dụng một cách hiệu quả nhất hành lang kinh tế này. Trung Quốc, Nhật Bản cũng muốn khai thác EWEC: Đại diện chính quyền tỉnh Quảng Tây nói rằng Trung Quốc sẽ không bỏ qua cơ hội khai thác tiềm năng thị trường của EWEC, trước hết là thực hiện việc kết nối thị trường này với các khu mậu dịch tự do phía nam Trung Quốc. Từ năm 2005, Vân Nam và Quảng Tây đã chính thức có mặt trên EWEC với việc triển khai thúc đẩy các dự án xây dựng 2 tuyến đường bộ, 2 tuyến đường sắt và 3 cảng biển kết nối với các điểm đến trên EWEC, dự án mở rộng vành đai du lịch vùng tây nam Trung Quốc với các điểm đến trong Tiểu vùng Mekong, các dự án hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật các cửa khẩu nối với các nước GMS.   Giám đốc điều hành cao cấp của Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) phụ trách khu vực châu Á, ông Tetsuo Shioguchi xác định để khai thác EWEC tốt, phải có tầm nhìn rộng hơn những gì đang diễn ra ở đây. Chính vì thế Ngân hàng đã ưu tiên cung cấp vốn ODAcho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, xoá đói giảm nghèo của các nước thành viên.

Coincident Indicator / Chỉ Số Báo Trùng Hợp

Một dãy số liệu kinh tế biến động theo cùng chu kỳ kinh doanh, nghĩa là tăng lên cùng một lúc với giai đoạn tăng lên của chu kỳ kinh doanh và tụt xuống khi chu kỳ kinh doanh tụt xuốn.

On-The-Job Training / Đào Tạo Tại Chỗ

Là hình thức đào tạo chính quy hoặc không chính quy được tiến hành tại ngay nơi làm việc.

Coinage Debasement / Giảm Giá Trị Tiền Đúc

Về lịch sử, đó là việc giảm bớt trọng lượng kim loại trong đồng tiền nguyên cốt (đầy đủ giá trị) mà không giảm giá trị danh nghĩa (mệnh giá) của nó. Về mặt lý thuyết thì việc giảm này thường dẫn đến việc tăng giá hàng hóa, hoặc bằng sự tăng giá trực tiếp khi việc giảm giá trị kim loại tiền đúc được phát hiện và lan rộng, hay bằng việc tăng lượng tiền tệ trong lưu thông sau đó. Tuy nhiên, trong những giai đoạn thiếu tiền, ảnh hưởng của nó sẽ là chống giảm lạm phát chứ không phải là lạm phát.

Online Auction / Đấu Giá Trực Tuyến

Đấu giá trực tuyến là cách cho phép người tham gia đấu giá các sản phẩm hoặc các dịch vụ thông qua Internet. Khi nói đến đấu giá trực tuyến là chúng ta nghĩ ngay đến eBay, website đấu giá trực tuyến lớn nhất trên thế giới hiện nay. Giống như hầu hết các công ty đấu giá, eBay không trực tiếp bán hàng của chính mình mà chỉ giúp cho các thành viên liệt kê và trưng bày sản phẩm của họ, đấu giá các sản phẩm và thanh toán chúng. Nó hoạt động giống như là một nơi họp chợ cho các thành viên hoặc các doanh nghiệp sử dụng để đấu giá các sản phẩm và dịch vụ. Có một vài loại hình thức đấu giá trên mạng đang hiện hữu như: đấu giá kiểu Anh, giá khởi điểm sẽ được đặt ở mức thấp và sau đó được nâng lên bởi các người tham giá đấu giá tiếp theo; đấu giá kiểu Hà Lan, đồng thời nhiều món hàng giống nhau sẽ được đưa lên sàn đấu giá, tất cả những người đấu giá thắng sẽ trả cùng một giá – giá cao nhất mà tất cả các món hàng đó được bán (treasury bills là một ví dụ cho kiểu đấu giá này). Hầu hết tất cả các sàn đấu giá trực tuyến đều sử dụng đấu giá kiểu Anh. Những ưu điểm của mô hình thương mại này là: -Không ràng buộc thời gian: Việc đặt giá có thể thực hiện bất kì lúc nào. Các sản phẩm đuợc liệt kê trong một một vài ngày (thường là từ 1 đến 10 ngày, tùy theo ý thích của người bán) để người mua có thời gian tìm kiếm, quyết định và đặt giá. Giá trị của món hàng sẽ được nâng lên theo số lượng người tham giá đấu giá. -Không ràng buộc địa lý: Những người bán hàng và những người đấu giá có thể tham gia đấu giá từ bất kì nơi nào có truy cập Internet. Điều này làm các cuộc đấu giá thêm gần gũi và giảm chi phí tham dự một cuộc đấu giá. Điều này đồng thời cũng làm tăng số lượng các sản phẩm (có càng nhiều người bán hàng) và số lượng các đặt giá (có càng nhiều người đặt giá). Những món hàng không những không cần phải đưa đến sàn đấu giá mà còn giảm được chi phí, giảm được giá khởi điểm được chấp nhận của người bán. -Sức mạnh của tương tác xã hội: Tương tác xã hội mà liên quan đến quá trình đấu giá thì giống như việc đánh bạc. Những người đấu giá chờ đợi trong hi vọng là họ sẽ thắng (eBay gọi những người đặt giá thành công là những người chiến thắng). Cũng giống như sự ham mê cờ bạc, nhiều người tham gia đặt giá chủ yếu để "chơi trò chơi" chứ không muốn giành được món hàng. Và điều này tạo ra một sự phân chia lớn các khách hàng tiềm năng của eBay. -Số lượng người đấu giá lớn: Bởi vì tiềm năng có giá thấp, hàng hóa và dịch vụ đa dạng, dễ dàng tham gia và lợi ích xã hội của quá trình đấu giá. -Số lượng người bán hàng lớn: Bởi vì có nhiều người tham gia đặt giá, có thể đạt được giá cao, giảm chi phí bán hàng, dễ buôn bán. -Mạng lưới kinh doanh. Số lượng lớn các người tham gia đấu giá sẽ khuyến khích nhiều người bán, ngược lại số lượng lớn các người bán sẽ làm tăng số lượng người đấu giá. Càng có nhiều hoạt động thì hệ thống càng lớn mạnh, và mô hình kinh doanh càng trở nên có giá trị cho những người tham gia. Đấu giá là một hình thức rõ rệt nhất của sự chênh lệch giá. Vì vậy, họ cố gắng chuyển một phần thặng dư của khách hàng thành thặng dự hàng hóa. Đấu giá trên mạng là một hình mẫu hiệu quả của sự chênh lệch giá.

East Asia Vision Group / Nhóm Tầm Nhìn Đông Á

Nhóm Tầm nhìn Đông Á được thành lập năm 1999 tại Seoul (Hàn Quốc) và mỗi nước ASEAN+3 (gồm ASEAN và Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) có hai nhà khoa học đại diện. Nhiệm vụ chủ yếu của nhóm là đưa ra chiến lược hợp tác trong khu vực. Tháng 10/2001, Báo cáo "Hướng tới một cộng đồng Đông Á" của nhóm được trình tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3 tại Bandar Seri Begawan, Brunei. Bản báo cáo "Hướng tới một cộng đồng Đông Á" gồm 22 đề xuất quan trọng với 57 biện pháp cụ thể cho hợp tác khu vực trong sáu lĩnh vực: kinh tế, tài chính, an ninh chính trị, môi trường, văn hóa xã hội và thể chế nhằm xây dựng một Cộng đồng Đông Á. Điẻm nổi bật trong đề xuất này là hợp tác Đông Á sẽ chú trọng vào phát triển con người, giảm đói nghèo và khoảng cách kinh tế giữa các nước. Đề xuất cũng nhấn mạnh sự phối hợp của các chính phủ trong hợp tác khu vực. Hợp tác kinh tế sẽ là nền tảng và chất xúc tác cho hợp tác trong các lĩnh vực còn lại. Nhóm Tầm nhìn Đông Á cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tính hài hòa của Cộng đồng Đông Á với hệ thống thế giới. Trong hợp tác kinh tế, Báo cáo đưa ra 15 biện pháp cụ thể, trong đó có những đề xuất quan trọng được đưa ra với mục tiêu cuối cùng là thành lập Cộng đồng Kinh tế Đông Á:- Thành lập khu vực mậu dịch tự do Đông Á (EAFTA) và tự do hóa thương mại sớm hơn mục tiêu của APEC,- Thiết lập Ủy ban cấp bộ trưởng nhằm đánh giá phát triển EAFTA,- Hình thành Ủy ban kinh doanh Đông Á,- Khuyến khích hợp tác, phát triển và công nghệ khu vực- Thực hiện một nền kinh tế tri thức và thiết lập một cơ cấu kinh tế vì tương lai. Hợp tác tài chính cũng là một trọng tâm quan trọng trong đề xuất của Nhóm Tầm nhìn Đông Á. Nhóm đề xuất cách tiếp cận từng bước, xoay quanh ba trụ cột chính của hợp tác tài chính là thế chế tín dụng khu vực, cơ chế tỷ giá và cơ chế giám sát với các biện pháp cụ thể: * Thành lập Quỹ tự hợp tác tài chính cho hỗ trợ nội bộ khu vực, ví dụ như Regional Arrangements to Borrow, hoặc Quỹ tiền tệ Đông Á (đặc điểm cơ bản của Quỹ này là bổ trợ cho IMF, chứ không cạnh tranh với IMF như đề xuất Quỹ tiền tệ Châu Á- AMF)* Thực hiện một cơ chế phối hợp tỷ giá nhằm ổn định tài chính và phát triển kinh tế. Theo đánh giá của nhóm, một tỷ giá linh hoạt nhưng ổn định sẽ tốt hơn cho phát triển kinh tế dài han so với một tỷ giá hoàn toàn thả nổi. Do vậy, nhóm cho rằng cơ chế tỷ giá neo theo rổ tiền tệ sẽ phù hợp hơn việc neo vào một đồng tiền duy nhất. Việc phối hợp thực hiện cơ chế tỷ giá này đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ trong các chính sách tài chính và tài khóa. Về dài hạn, nhóm đề xuất Đông Á là khu vực tiền tệ chung, khi các điều kiện kinh tế-chính trị-xã hội đã chín muồi.* Tăng cường quy trình giám sát khu vực, bổ trợ quá trình giám sát toàn cầu của ÌM và thống nhất với IMF về các biện pháp tư vấn. Năm 2002, Nhóm Tầm nhìn Đông Á (East Asia Vision Group) đã đệ trình một báo cáo đề nghị chuyển ASEAN+3 thành Hội nghị Cấp cao Đông Á. Tháng 12 năm 2005, Hội nghị Cấp cao Đông Á lần thứ nhất được tổ chức tại Kuala Lumpur với sự tham gia của không chỉ các nước thành viên ASEAN+3 mà còn của Australia, New Zealand và Ấn Độ. Tháng 1 năm 2007, Hội nghị Cấp cao Đông Á lần thứ hai diễn ra tại đảo Sebu (Philippines).

Coinage / Tiền Đúc

Một phần của tiền trao tay gồm các đồng tiền kim loại.

One-Way Market / Thị Trường Một Chiều

Đây là thị trường chỉ có thể định giá một công ty dựa vào sự đề xuất giá của một bên. Nguyên nhân dẫn đến thị trường một chiều là do thị trường sơ cấp hoạt động không hiệu quả hoặc do không kiểm soát được sự điều tiết. Thị trường một chiều có thể được tạo ra khi chỉ có người mua hoặc chỉ có người bán đổ dồn ào một loại tài sản riêng biệt nào đó trong một thời điểm nhất định. Thuật ngữ này để chỉ thị trường dịch chuyển lệch sang một hướng và khá thụ động.Một số quốc gia duy trì tình trạng này trong thị trường của mình nhằm hi vọng vào nguồn đầu tư nước ngoài. Ví dụ, ở Hàn Quốc, các nhà đầu tư luôn đổ dồn vào những công ty phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu. Đối với thị trường thứ cấp, họ dè dặt và thận trọng hơn rất nhiều. Một ví dụ khá phổ biến về thị trường một chiều có thể là màn kết thúc giai đoạn thị trường chiều giá lên theo sự điều khiển của công nghệ vào khoảng cuối thập niên 90. Tháng 01/2000, hầu hết mỗi cổ phiếu tăng lên mỗi ngày bất chấp những nguyên tắc cơ bản lúc ấy.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55