Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Option Contract / Hợp Đồng Quyền Chọn

Giả sử S là giá trị của một tài sản và S dao động bất định phụ thuộc vào tác động của thị trường. T là thời gian đáo hạn. Một quyền chọn là một hợp đồng giữa người nắm giữ và người viết, bắt đầu có hiệu lực từ thời điểm t = 0, trong đó người nắm giữ quyền chọn có quyền đòi một lợi nhuận X ngẫu nhiên nào đó. X phụ thuộc vào sự tiến triển của S tại một thời điểm trong tương lai, bao gồm cả thời điểm T. Như vậy, quyền chọn bản chất là một vụ cá cược tinh vi và có thể kết luận: hợp đồng quyền chọn phải có một giá trị nhất định đối với người nắm giữ nó. Người viết hợp đồng có thể đánh phí rất cao để phòng vệ nhằm chống lại rủi ro chi trả nhiều một cách thường xuyên. Nhưng nếu như vậy thì người viết hợp đồng quyền chọn dường như có lợi hơn và thị trường sẽ đổ xô bán quyền chọn chứ không mua. Ngược lại, nếu người bán quyền chọn không đưa ra một mức giá đủ cao thì những khách hàng tham vọng sẽ tìm cơ hội mua quyền chọn đó với số lượng lớn. Cả hai trường hợp trên đều là ví dụ về đầu cơ, trong khi những nhà đầu tư khác trên thị trường thì đều mong muốn một cơ chế xác lập giá công bằng. Bản chất là một công cụ tài chính, ưu điểm của quyền chọn thể hiện trong 3 hình thức giao dịch của 3 nhóm người trên thị trường quyền chọn: Người phòng hộ. Những người này mua quyền chọn như một dạng hợp đồng bảo hiểm trước những thay đổi bất thường của thị trường. Nếu một công ty có quan hệ ngoại thương thì nó sẽ mua hợp đồng quyền chọn tiền tệ để được chi trả một khoản chắc chắn khi tỷ giá hối đoái trở nên bất lợi. Theo cách này, bạn có thể phòng vệ nhiều hay ít tùy thuộc vào việc bạn mua quyền chọn trị giá bao nhiêu. Ví dụ, nếu ta muốn nhập khẩu 1 tỷ yên hàng điện tử của Nhật trong thời hạn 1 năm kể từ bây giờ với tỷ giá 200 yên/bảng, có thể thực hiện một quyền chọn cam kết chi trả cho bạn 1 tỷ yên sau một năm nếu tỷ giá hối đoái chỉ còn 181.23 yên/bảng tại bất kỳ thời điểm nào trong 1 năm đó. Điều này có nghĩa là, khi giá đồng yên tăng tương đối với đồng bảng thì có thể thực thi quyền chọn và mua hàng hóa. Còn nếu tỷ giá tiếp tục duy trì ở mức thấp thì sẽ mất số tiền bỏ ra để mua quyền chọn và sẽ mua hàng tại tỷ giá đã được sẵn sàng chi trả. Chi phí của chiến lược phòng hộ này chỉ là mua một quyền chọn với giá tương đối rẻ so với những biến động lớn của thị trường tiền tệ. Nhà đầu cơ. Là những người đánh cược vào sự biến động của giá các loại tài sản. Họ tham gia vào một vị thế nhất định thị trường tùy thuộc vào niềm tin của mình, lỗ hoặc lãi hoàn toàn ngẫu nhiên. Họ coi chứng khoán phái sinh như một công cụ tăng ga cho hoạt động đầu tư của họ. Bởi vì các sản phẩm phái sinh từ các tài sản cơ sở có khả năng mang lại lợi nhuận nhiều hơn chính các tài sản cơ sở đó. Ví dụ, bạn đầu tư 10.000 bảng vào một cổ phiếu trị giá 10 bảng để mua 1.000 cổ phiếu đó. Nếu giá cổ phiếu tăng lên 11 bảng trong vòng một năm, bạn lãi được 1.000 bảng. Còn nếu bạn mua một hợp đồng quyền chọn để được quyền mua cổ phiếu trên với giá 10 bảng trong một năm, và bạn phải mất chi phí, giả sử, 0.5 bảng một cổ phiếu, bạn có thể mua được 20.000 nghìn cổ phiếu. Nếu giá cổ phiếu tăng lên 11 bảng, bạn thực thi quyền chọn, mua 20.000 cổ phiếu với giá 10 bảng và bán lại chúng trên thị trường với giá 11 bảng, bạn sẽ lãi 10.000 bảng. Đương nhiên, nếu giá cổ phiếu tụt xuống chỉ 9.99 bảng, bạn sẽ mất toàn bộ số tiền bỏ ra mua quyền chọn. Nhà cơ lợi phi rủi ro. Là những người quan sát thị trường và cố gắng tìm ra những tình huống thu lời phi rủi ro. Họ kết hợp việc mua hàng hóa tại một thị trường này và bán lại tại một thị trường khác sao cho độ chênh lệch giá đảm bảo một khoản lãi. Một ví dụ đơn giản là khi một cổ phiếu được giao dịch tại hai mức giá khác nhau trên hai thị trường. Nếu một cổ phiếu được giao dịch tại London với giá 100 bảng và 285 mác Đức tại Frankfurt, trong khi tỷ giá hối đoái là 2.82 mác/bảng, thì cổ phiếu đó rẻ hơn tương đối ở London. Bạn có thể mua 1.000 cổ phiếu tại London và bán lại chúng tại Frankfurt rồi đổi mác Đức sang bảng và thu được một khoản 1063.3 bảng mà không phải chịu bất kỳ rủi ro nào. Những cơ hội như vậy là vô cùng hiếm và ngay lập tức nó bị chộp mất bởi những người săn cơ hội kiếm lời. Khi mọi người mua cổ phiếu thì giá sẽ tăng trên thị trường London và khi mọi người bán cổ phiếu đó tại Frankfurt thì giá ở đây cũng sẽ giảm đi cho đến khi nào giá ở hai nơi được xác lập cân bằng.

Parity price system / Hệ thống giá tương đương

Đây là một hệ thống hỗ trợ giá đối với nền nông nghiệp Mỹ lần đầu tiên được thiết lập với Đạo luật Điều chỉnh Nông nghiệp 1933. Mục đích của luật này là nhằm duy trì giá nông sản và thu nhập của người nông dân ở cùng một tỷ lệ so với giá sản phẩm và thu nhập không phải từ nông nghiệp, phổ biến vào các năm 1910-1914. Kết quả là sức mua của nông dân được ổn định. Nhiều chương trình khác nhau, bao gồm các khoản cho vay nông nghiệp, các chương trình trợ cấp điều tiết nông nghiệp và chính phủ mua sản phẩm nông nghiệp thừa đã được sử dụng từ năm 1933 trong một nỗ lực để duy trì sự ngang giá này.

Paris Club / Câu lạc bộ Paris

Tên đặt cho diễn đàn - nơi mà các nước chủ nợ thương lượng với các nước vay nợ về việc định lại thời gian cho các khoản nợ chính thức.

Câu Lạc Bộ Paris (Paris Club) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Câu Lạc Bộ Paris (Paris Club) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Commodity Space / Không Gian Hàng Hoá

Giới hạn giữa hai trục biểu thị lượng hàng hoá hay dịch vụ sẵn có tiềm năng để người tiêu dùng mua.

Option / Hợp Đồng Mua Bán Trước

Là một hợp đồng trong đó một bên cho phép bên kia được mau hoặc bán hàng hoá hoặc chứng khoán trong một thời hạn nhất định với một mức giá đã thoả thuận.

Commodity Price Index (CPI) / Chỉ Số Giá Hàng Hoá

Thuật ngữ này dùng để chỉ một tham khảo có giá trị về giá tiền mặt tại chỗ của hàng hoá hay giá hợp đồng Futures. Chỉ số giá hàng hoá do các cơ quan Nhà nước soạn thảo hay do các thị trường riêng - để theo dõi biến chuyển giá thị trường. Chỉ số giá cả dùng năm cơ bản để đo lường biến chuyển giá cả trong một khoảng thời gian cố định, thường là hằng ngày, hàng tháng và hàng năm. Ở Hoa Kỳ chỉ số giá bán sẽ là chỉ số chính thức của giá nông nghiệp và công nghiệp.

Optimum Tariff / Thuế Quan Tối Ưu

Là thuế quan có tác dụng tối đa hoá phúc lợi hay độ thoả dụng của một quốc gia.

Commodity Paper / Chứng Từ Hàng Hoá

Giấy nợ, hối phiếu, hay giấy chấp nhận giao dịch có bảo đảm bởi các vận đơn hay biên nhận xuất kho, chúng có thể được trả theo yêu cầu. Chứng từ hàng hóa do ngân hàng ký hậu đủ điều kiện tái chiết khấu theo quy định A của Dự trữ Liên bang.

Optimum Plant Size / Quy Mô Nhà Máy Ở Mức Tối Ưu

Là quy mô của nhà máy mà với quy mô này mức chi phí trung bình dài hạn là mức tối thiểu.

Pari Passu / Thanh Toán Bình Đẳng

Pari passu là cụm từ Latin (có người nói gốc Italia) có nghĩa "tay trong tay" (hand-in-hand) hoặc "đồng thời/cùng lúc" (at the same time) và cũng hiểu rộng hơn với nghĩa "công bằng" (fairly) hay "không thiên vị" (without partiality", thường được dùng phổ biến trong trong các văn bản pháp luật và cam kết thỏa thuận kinh doanh. Trong tài chính, thuật ngữ này đề cập tới hai hay nhiều hơn khoản vay, trái phiếu, hoặc các nhóm cổ phần ưu đãi có quyền được ưu tiên thanh toán ngang nhau, nói cách khác, có cùng cấp độ ưu tiên giải quyết quyền lợi tài chính. Với công ty quản lý tài sản, thuật ngữ này có nghĩa là một lô giao dịch cân bằng giữa các quỹ đã được xác định hoặc các tài khoản được quản lý. Thuật ngữ này cũng thường được sử dụng trong các tình huống giải quyết phá sản. Chủ nợ được thanh toán bình đẳng (pari passu) hoặc từng chủ nợ được thanh toán theo tỉ lệ tương ứng với khoản tín dụng mà họ đã cũng cấp cho cá nhân/tổ chức vỡ nợ trong tổng số nợ nần phải thanh toán. Khi này, pari passu có nghĩa "như nhau và không thiên lệch." Từ điển Luật của Black (8th ed. 2004) định nghĩa "pari passu" là "cùng một tốc độ, không thiên lệch," có nghĩa là việc đối xử bình đẳng với các khoản tín dụng trong các điều kiện đảm bảo thông thường.

Optimum / Trạng Thái Tối Ưu

Là tình hình hay tình trạng "tốt nhất" của công việc.

Optimal Portfolio / Danh Mục Tối Ưu

Danh mục đầu tư tối ưu là một nội dung trong lý thuyết danh mục hiện đại. Lý thuyết này giả định nhà đầu tư cố gắng tối thiểu hóa rủi ro trong khi cũng cố gắng để có thể đạt được mức sinh lợi cao nhất. Lý thuyết này cho thấy rằng các nhà đầu tư sẽ hành động một cách hợp lý, luôn luôn đưa ra các quyết định nhằm hướng vào mục tiêu tối đa hóa tỷ suất sinh lợi ở một mức rủi ro có thể chấp nhận được. Thuật ngữ danh mục tối ưu được sử dụng đầu tiên vào năm 1952 bởi Harry Markowitz, và nó chỉ ra cho chúng ta rằng để đạt được các mức rủi ro và sinh lợi khác nhau có thể có các danh mục khác nhau. Mỗi nhà đầu tư phải quyết định mức rủi ro mà họ có thể kiểm soát được và sau đó phân bổ (hoặc đa dạng hóa) danh mục đầu tư theo quyết định đầu tư.Biểu đồ bên dưới thể hiện rõ danh mục đầu tư tối ưu hoạt động như thế nào. Danh mục rủi ro tối ưu thường được quyết định bởi một nơi nào đó giữa đường cong bởi vì khi bạn đi lên phía trên đường cong, bạn có thể sẽ phải chịu nhiều rủi ro hơn cho phần sinh lợi tăng thêm ít hơn. Mặt khác, không thể chỉ ra được các danh mục đầu tư có rủi ro thấp, tỷ suất sinh lợi thấp bởi vì bạn có thể đạt được mức sinh lợi tương tự bằng việc đầu tư vào các tài sản phi rủi ro, giống như là chứng khoán chính phủ. Bạn có thể chọn mức biến động là bạn có thể sẵn sàng chấp nhận trong danh mục đầu tư của mình bằng cách chọn bất kỳ một điểm nào khác trên đường biên hiệu quả. Nó sẽ cho bạn mức sinh lợi tối đa cho mức rủi ro mà bạn có thể chấp nhận. Tối ưu hóa danh mục đầu tư không phải là một cái gì đó mà bạn có thể tính toán trong đầu. Có rất nhiều chương trình tự động được thiết kế chuyên biệt để tính toán các danh mục đầu tư tối ưu bằng cách dự đoán hàng trăm, thậm chí hằng ngàn các tỷ suất sinh lợi khác nhau cho mỗi mức rủi ro cho sẵn.

Pareto-optional Redistribution / Sự Phân Phối Lại Tối Ưu Theo Pareto

Sự dịch chuyển thu nhập hoặc của cải từ một cá nhân này sang một cá nhân khác làm tăng độ thoả dụng, hoặc thoả mãn của cả người cho lẫn người nhận, do đó đem lại sự cải thiện Pareto.

Optimal Level Of Pollution / Mức Ô Nhiễm Tối Ưu

Là mức ô nhiễm mà bất kỳ chi phí thêm nào được bỏ ra để là giảm thiểu ô nhiễm lại đúng bằng với giá trị thiệt hại do ô nhiễm gây ra.

Optimal Distribution / Sự Phân Phối Tối Ưu

Là hình thức phân phối (thông thường là) thu nhập hoặc của cải "tốt nhất" hay đáng được mong muốn nhất cho các cá nhân trong một xã hội hoặc trong một cộng đồng.

Optimal Capacity / Công Suất Tối Ưu

Là sản lượng tương ứng với điểm tối thiểu của một biểu đồ của tổng chi phí trung bình.

Pareto Optimum / Tối Ưu Pareto

Khi các nguồn lực và sản lượng của một nền kinh tế được phân chia mà không có sự phân chia lại nào làm cho bất cứ ai khá lên mà cũng không là cho ít nhất là bất cứ một người nào khác kém đi thì lúc đó là có sự hiện hữu của một tối ưu Pareto.

Opportunity Wage / Mức Lương Cơ Hội

Là mức lương mà một cá nhân có thể kiếm được nếu anh ta chọn làm một công việc khác "tốt nhất" sau công việc đang làm; là mức lương cao nhất phải từ bỏ do vẫn ở lại làm công việc hiện tại.

Pareto Non-comparable / Tính Không Thể So Sánh Pareto

Một tình trạng xã hội mà một số cá nhân thích tình trạng này hơn và một số khác lại thích tình trạng kia hơn thì hai tình trạng này được coi là tình trạng không thể so sánh Pareto.

Opportunity Cost Of Money Holding / Chi Phí Cơ Hội Của Việc Giữ Tiền

Chi phí này thường được phản ánh trong lãi suất thị trường, theo đó chi phí cơ hội của việc giữ tiền là mức lãi suất mà lẽ ra đã có được nếu như tiền được đầu tư vào các tài sản sinh lãi thay vì được giữ dưới dạng tiền mặt.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55