Competition / Cạnh Tranh
Cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng. Hệ thống Doanh nghiệp tự do đảm bảo cho các ngành có thể tự mình đưa ra các quyết định về mặt hàng cần sản xuất, phương thức sản xuất, và tự định giá cho sản phẩm hay dịch vụ. Cạnh tranh là tiền đề của hệ thống free-enterprise bởi niềm tin rằng càng nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau thì sản phẩm hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng sẽ càng có chất lượng tốt hơn. Nói cách khác, cạnh tranh sẽ đem đến cho khách hàng giá trị tối ưu nhất đối với những đồng tiền mồ hôi công sức của họ. Để được thành công trong thế giới cạnh tranh vô cùng khốc liệt ngày nay, một điều cực kì quan trọng đối với các doanh nghiệp là phải ý thức được đối thủ cạnh tranh đang làm gì và phải tìm ra được con đường để bắt kịp hoặc vượt qua sản phẩm của đối thủ. Ví dụ, Nếu Pepsi-Cola tung ra sản phẩm soda mới thì Coca-cola cũng phải tung ra ngay sản phẩm sôđa mới không có calo. Bằng việc cạnh tranh trực tiếp với Pepsi thông qua những sản phẩm có tính năng cải thiện hơn, Coca đã thuyết phục khách hàng mua sản phẩm đồ uống có ga của mình. Để cạnh tranh thành công, doanh nghiệp cần phải thực hiện các nghiên cứu và phát triển sản phẩm đó là lí do ra đời phòng R&D. Qua việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm, doanh nghiệp hiểu được ước muốn, nhu cầu và khả năng biến nhu cầu thành hiện thực của khách hàng để sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng tốt nhất. Việc phân tích SWOT sẽ giúp doanh nghiệp xác định được điểm mạnh, điểm yếu bên trong doanh nghiệp, cơ hội và đe doạ từ môi trường bên ngoài. SWOT sẽ giúp doanh nghiệp hiểu được mình có lợi thế cạnh tranh tương đối ở khu vực thị trường nào và có tiềm năng đối với sản phẩm nào để tập trung vào sản xuất và marketing cho sản phẩm đó. Để luôn dẫn đầu và tồn tại được trên thị trường doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, tính năng, công dụng của sản phẩm đồng thời phải sử dụng công nghệ hiện đại và các quy trình sản xuất, quản lí tiên tiến để cắt giảm chi phí. Vì vậy khách hàng sẽ luôn có sản phẩm hoàn thiện nhất với giá cả phải chăng nhất. Ngày nay việc xử lí chất thải sau sản xuất, và sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường để không làm tổn hại đến phúc lợi xã hội cũng là một vấn đề nhiều doanh nghiệp quan tâm. Các dạng cạnh tranh: Cạnh tranh hoàn hảo: Giá cả của sản phẩm được quyết định bởi quy luật cung cầu trên thị trường. Cung nhiều cầu ít sẽ dẫn đến giá giảm, cung ít cầu nhiều sẽ dẫn đến giá tăng. Cạnh tranh độc quyền: Xảy ra khi trên thị trường một số lượng lớn các nhà sản xuất sản xuất ra những sản phẩm tương đối giống nhau nhưng khách hàng lại cho rằng chúng có sự khác biệt, dựa trên chiến lược khác biệt hoá sản phẩm của các công ty. Ví dụ, trên thị trường có các sản phẩm xà bông tương đối giống nhau. Nhưng có hãng thì bảo rằng sẽ đem lại làn da mềm mại sau khi tắm, hãng thì bảo là đem lại hương thơm tươi mát, hãng thì bảo rằng sẽ làm trắng da. Độc quyền nhómLà loại độc quyền xảy ra khi trong ngành có rất ít nhà sản xuất, bởi vì các ngành này đòi hỏi vốn lớn, rào cản ra nhập ngành khó. Ví dụ: ngành công nghiệp sản xuất ôtô, máy bay. Độc quyền tuyệt đốiXảy ra khi trên thị trường tồn tại duy nhất một nhà sản xuất và giá cả, số lượng sản xuất ra hoàn toàn do nhà sản xuất này quyết định. Ví dụ: Điện, nước ở Việt Nam do nhà nước cung cấp.
Compensation Tests / Kiểm Nghiệm Đền Bù
Những cuộc kiểm nghiệm như vậy đặt ra câu hỏi liệu những người gây thiệt hại do thay đổi nào đó có được đền bù cho thiệt hại của họ hay không trong khi vẫn để những người được lợi khấm khá hơn trước khi có thay đổi đó. Kiểm nghiệm được biết đến nhiều nhất là KIỂM NGHIỆM KALLDOR - HICHS.
Compensation Rules / Các Quy Tắc Trả Thù Lao
Một công thức xác định thu nhập của cá nhân. 1. Dựa trên thời gian làm việc của cá nhân. 2. Dựa trên kết quả hoàn thành công việc của cá nhân. 3. Dựa trên cơ sở kết qủa thực hiện của một đội như trong chế độ chia lợi nhuận hay thưởng theo đội. 4. Dựa trên kết quả thực hiện so sánh của cá nhân như đối với quy tắc THÙ LAO THEO XẾP HẠNG TRONG THI ĐẤU.
Organization Of Petroleum Exporting Countries / OPEC - Tổ Chức Các Nước Xuất Khẩu Dầu Mỏ
Là một tổ chức hàng hoá quốc tế có nhiệm vụ điều phối các chính sách sản xuất và định giá dầu mỏ tại các nước thành viên của các nước xuất khẩu dầu mỏ.
Organization Of Economic Co-operation And Development (OECD) / Tổ Chức Hợp Tác Và Phát Triển Kinh Tế
Là một tổ chức liên chính phủ được thành lập năm 1961 để thay thế và mở rộng tổ chức hợp tác kinh tế châu Âu (OEEC) theo các điều khoản của công ước ký tại Paris năm 1960 bởi các nước thành viên ban đầu của OEEC gồm Canada, Tây Ban Nha và Mỹ.
Organization Of Arab Petroleum Exporting Countries / OAPEC - Tổ Chức Các Nước Ả Rập Xuất Khẩu Dầu Mỏ
Là một tổ chức hàng hoá quốc tế được thành lập vào năm 1968, có nhiệm vụ điều phối các chính sách kinh tế về dầu mỏ và khuyến khích hợp tác kinh tế giữa các nước Ả rập sản xuất dầu mỏ.
Compensated Demand Curves / Đường Cầu Đã Được Bù
Một đường cầu trong đó HIỆU ỨNG THU NHẬP của thay đổi giá đã được loại bỏ để thu nhập thực tế dọc đường cầu không đổi.
Comparative Statics / Phương Pháp So Sánh Tĩnh
So sánh một vị trí CÂN BẰNG mới với vị trí cân bằng cũ sau khi có thay đổi nào đó trong các biến số mà không đổi chiều với cách đạt được vị trí mới và thường không có khía cạnh định lượng.
Comparative Dynamics / Phương Pháp So Sánh Động
Một phương pháp sử dụng trong KINH TẾ HỌC ĐỘNG với nét đặc biệt là mức độ thay đổi về giá trị của các THAM SỐ và về giá trị cân bằng của các biến là không đổi.
Payment By Results / Trả Theo Kết Qủa
Còn gọi là hệ thống trả lương theo khuyến khích. Hệ thống trả lương theo công việc của công nhân.
Comparative Advantage / Lợi Thế So Sánh
Khái niệm lợi thế so sánh đóng một vai trò cực kì quan trọng trong học thuyết thương mại quốc tế hiện đại. Một bên (quốc gia, khu vực, cá nhân) được coi là có lợi thế so sánh hơn bên kia trong việc sản xuất một sản phẩm nếu họ có thể sản xuất sản phẩm đó với chi phí cơ hội thấp hơn. Người đầu tiên đề cập đến lợi thế so sánh là Robert Torrens vào năm 1815 khi ông có một bài viết về việc trao đổi ngũ cốc giữa Anh và Ba Lan. Ông rút ra kết luận là người Anh vẫn có lợi khi xuất khẩu hàng hoá sang Ba Lan để đổi lấy ngũ cốc, cho dù họ có thể sản xuất ngũ cốc với chi phí thấp hơn Ba Lan. Tuy vậy, người có đóng góp lớn nhất cho lý thuyết lợi thế so sánh chính là David Ricardo khi ông đã đưa ra những giải thích mang tính hệ thống trong cuốn sách xuất bản năm 1817 "Những nguyên lý kinh tế chính trị và thuế khoá", sử dụng những ví dụ tương tự liên quan đến hoạt động trao đổi rượu lấy vải vóc giữa Anh và Bồ Đào Nha. Theo lý thuyết trước đó của Adam Smith về lợi thế tuyệt đối, trong thương mại quốc tế, mỗi quốc gia sẽ tìm cho mình một số sản phẩm mà nó có lợi thế tuyệt đối, tức là nó sẽ thu lợi nhờ việc chuyên môn hoá và những sản phẩm mà nó sản xuất hiệu quả nhất và trao đổi với các quốc gia khác. Như vậy phải chăng những nước không có lợi thế tuyệt đối về bất cứ sản phẩm nào thì không thể thu được lợi ích từ thương mại quốc tế? Với lý thuyết lợi thế so sánh, Ricardo đã chỉ ra rằng, ngay cả những nước như vậy cũng vẫn tìm được chỗ đứng cho mình trong thương mại quốc tế nếu chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà nó có lợi thế so sánh. Lý thuyết của Ricardo dựa trên nhiều giả định hơi phi thực tế một chút, như là chi phí vận chuyển = 0, và lợi ích từ việc tăng sản lượng có thể bù đắp được các ngoại ứng tiêu cực như ô nhiễm môi trường hay bất công bằng xã hội. Tuy nhiên với sự phát triển của khoa học-công nghệ, với sự ra đời của máy bay và internet thì dường như giả định của Ricardo ngày càng vững vàng hơn. Lý thuyết lợi thế so sánh được minh hoạ qua ví dụ sau: hai người đàn ông sống sót sau một vụ đắm tàu dạt lên một hòn đảo hoang. Để sống sót họ buộc phải tiến hành một vài hành vi kinh tế cơ bản như là kiếm nước ngọt, bắt cá, nấu ăn, dựng và sửa lều... Người thứ nhất là một chàng trai trẻ, khoẻ, có học hành và nhanh nhẹn hơn, tháo vát hơn, làm việc hiệu quả hơn trong mọi việc. Như vậy là anh ta có lợi thế tuyệt đối trong mọi việc. Người thứ hai là một ông già ốm yếu và không được học hành. Ông ta kém lợi thế tuyệt đối trong mọi việc. Đối với một số việc thì khoảng cách giữa hai người là rất lớn, trong khi một số việc khác thì khoảng cách cũng tương đối nhỏ. Vậy có ai trong số hai người sẽ có lợi hơn khi sống đơn độc không? Câu trả lời là không, vì chuyên môn hoá và trao đổi sẽ đem lại lợi ích cho cả hai. Hai người phân công công việc như thế nào? Theo như lý thuyết lợi thế so sánh, chàng trai trẻ sẽ dành nhiều thời gian hơn cho những việc mà anh ta làm tốt hơn ông già kia rất nhiều, còn ông già sẽ tập trung vào những việc mà ông ta làm kém chàng trai chút đinh . Một thoả thuận như thế sẽ giúp tăng được tổng số sản phẩm và/hoặc giảm tổng thời gian lao động, nó sẽ giúp cả hai sung túc hơn. Tuy nhiên, chuyên môn hoá và trao đổi sẽ không thể diễn ra nếu có một đầu vào không thể thay thế nào đó bị cạn kiệt. Trong ví dụ trên, nếu nước ngọt chỉ còn đủ cho một người thì cách duy nhất là giải quyết bằng bạo lực. Hoặc nếu chi phí cơ hội của hai bên với cùng một sản phẩm là như nhau thì không ai được coi là có lợi thế so sánh, trong trường hợp này chuyên môn hoá cũng là vô ích. Để hiểu rõ lý thuyết này chúng ta tiếp tục phân tích một ví dụ định lượng nữa: Bảng dưới đây mô tả số sản phẩm tạo ra từ một đơn vị nguồn lực của hai nước Việt Nam và Thái Lan. Để việc phân tích được đơn giản có thể đưa ra những giả sử sau: 1. Mỗi bên đều có 10 đơn vị nguồn lực và nguồn lực dùng để sản xuất lúa gạo và xe máy là có thể thay thế hoàn hảo lẫn nhau, các nguồn lực được tự do di chuyển trong mỗi nước nhưng không được di chuyển sang nước khác 2. Thế giới chỉ có 2 nước và mỗi nước chỉ sản xuất 2 mặt hàng này 3. Chi phí cơ hội của mỗi nước là bất biến 4. Cơ chế giá cả hoạt động trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo. Việt Nam Thái Lan Xe máy 2 c 5 c Gạo 10 t 12.5 t Nhìn vào bảng trên có thể thấy Thái Lan có lợi thế tuyệt đối, còn Việt Nam kém lợi thế tuyệt đối ở cả hai mặt hàng này. Nếu không có thương mại thì Việt Nam có thể sản xuất tối đa là 20 chiếc xe máy, hoặc 100 tấn gạo, còn Thái Lan có thể có tối đa 50chiếc xe máy hoặc 125 tấn gạo. Trường hợp hai nước quyết định tiến hành hoạt động giao thương với nhau. Bảng dưới đây cho thấy chi phí cơ hội để sản xuất mỗi mặt hàng: Việt Nam Thái Lan Xe máy 5 t/c 2.5 t/c Gạo 0.2 c/t 0.4 c/t Có thể thấy, chi phí cơ hội để sản xuất xe máy của Thái Lan thấp hơn, trong khi chi phí cơ hội để sản xuất gạo của Việt Nam thấp hơn. Vậy theo lý thuyết lợi thế so sánh Việt Nam nên tập trung vào sản xuất gạo còn Thái Lan sản xuất xe máy. Nếu chuyên môn hoá tuyệt đối Thì sản lượng của 2 nước như sau: Việt Nam Thái Lan Xe máy 0 50c Gạo 100t 0 Việt Nam và Thái Lan sau đó sẽ tiến hành trao đổi theo một tỉ lệ nào đó nằm trong khoảng 2.5t/c đến 5t/c, giả sử là 3 tấn gạo/ 1 xe máy. Giả sử Thái Lan quyết định đổi 20 xe máy lấy 60 tấn gạo. Vậy lượng hàng hóa cuối cùng mà mỗi nước có, so sánh với lượng hàng hoá nếu tự sản xuất như 2 bảng sau: Việt Nam Thái Lan Xe máy 20 30 Gạo 40 60 Sản lượng nếu có thương mại quốc tế Việt Nam Thái Lan Xe máy 12 ( =2x6 ) 30 ( =5x6 ) Gạo 40 (=10x4) 48 (=12x4) Sản lượng nếu tự sản xuất Như vậy nhờ có thương mại quốc tế mà cả hai nước đều được tiêu dùng lượng hàng hoá lớn hơn khả năng tự cung cấp của mình, hay nói cách khác họ đã đẩy được đường giới hạn khả năng sản xuất ra xa gốc toạ độ hơn. (Ảnh: David Ricardo 1772 - 1823) David Ricardo (1772-1823)
Comparable Worth / Giá Trị Có Thể So Sánh
Lương ngang nhau trả cho công việc có giá trị ngang nhau.
Comparable Sales / Giá So Sánh
Comparable sales (hay còn gọi là comps) là giá có thể so sánh được. Trong lĩnh vực bất động sản, đó là giá bán của các căn nhà tương tự ở các khu vực gần đó, được dùng để xác định giá thị trường của một căn nhà đang được bán. Còn trong bán lẻ, nó chỉ việc bán hàng tại các cửa hàng đã được mở trong hơn một năm. Điều này cho phép các nhà đầu tư xác định trong thành phần của sự tăng trưởng doanh số bán hàng có do việc mở cửa hàng mới tạo nên hay không, và cũng để theo dõi lợi nhuậncủa các chi nhánh bán lẻ. Việc kinh doanh hệ thống bán lẻ với chuỗi cửa hàng cũng là một yếu tố quan trọng để so sánh trong việc quyết định nên thay đổi chiến lược bán lẻ của công ty như thế nào.
Organization For European Economic Co-operation (OEEC) / Tổ Chức Hợp Tác Kinh Tế Châu Âu
Năm 1947, sau khi có sự gợi ý ban đầu của Marshall, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ về một chương trình hỗ trợ của Mỹ nhằm phục hồi của kinh tế châu Âu sau chiến tranh, 16 nước châu Âu đã thành lâp Uỷ ban hợp tác kinh tế châu Âu để quản lí và điều phối CHƯƠNG TRÌNH PHỤC HỒI CHÂU ÂU.
Pay In Kind / Trả Bằng Hiện Vật
Một loại thuế dựa vào tiền lương (tháng) và tiền công do người chủ thanh toán.
Organization For Economic Co-operation And Development / Tổ Chức Hợp Tác Và Phát Triển Kinh Tế
OECD là một diễn đàn dành cho chính phủ của các nền kinh tế thị trường phát triển nhất thế giới cùng nhau bàn bạc giải quyết các vấn đề kinh tế của bản thân họ và của thế giới. Hiện OECD có 30 thành viên, hầu hết trong số đó là các quốc gia có thu nhập cao. Tiền thân của OECD là Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu (OEEC) của 16 nước châu Âu nhằm khôi phục kinh tế và giám sát phân bổ viện trợ. Năm 1950, Mỹ và Canada tham gia OEEC với tư cách quan sát viên. Năm 1961, OEEC được chuyển thành OECD. 16 nước châu Âu trong OEEC cùng với Mỹ và Canada trở thành những thành viên sáng lập của OECD.
Pay Ceiling / Mức Lương Trần; Giới Hạn Trần Của Tiền Lương; Giới Hạn Cao Nhất Của Tiền Lương
Một giới hạn cao nhất có hiệu lực về mức tiền lương.
Pauper Labour / Lao Động Bần Cùng
Giới lao động ở các nước giàu cho rằng việc nhập khẩu hàng hoá từ những nước có lương thấp sẽ phá dần phá hoại mức lương và việc làm ở những nước giàu.
Organization / Tổ Chức
Tổ chức là một nhóm bao gồm từ hai người trở lên cùng làm việc với nhau theo một cách thức được cấu trúc, nhằm đạt được những mục tiêu hoặc một tập hợp mục tiêu nhất định. Trong cuộc sống, tất cả chúng ta đều là thành viên của tổ chức này hoặc tổ chức khác, ví dụ: trường học, đội thể thao, đội nhạc, một công ty kinh doanh, quân đội... Tất cả các tổ chức dù được tổ chức chặt chẽ hay đơn giản cũng đều được một nhóm người đứng đầu tạo ra sự liên kết do họ thấy được lợi ích từ việc cùng làm việc với nhau để đạt được những mục tiêu chung. Ví dụ, để bán được sản phẩm, để dành cúp vô địch, hay để mua vui cho khán giả. Không có mục tiêu, tổ chức sẽ không có lí do để tồn tại. Để đạt được mục tiêu, các tổ chức có các chương trình và cách thức làm việc, được gọi là kế hoạch. Ngoài ra, tổ chức cũng phải đạt được và phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được mục tiêu. Một số tổ chức nổi tiếng trên thế giới: Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO Tổ chức lao động quốc tế Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
Company Saving / So Sánh Về Lương
So sánh chính thức hay không chính thức do các nhóm lao động rút ra về mức lương của và của những người công nhân khác. Xem RELATIVE DEPRIVATION, COERCIVE COMPARISIONS.






