Compound Interest / Lãi Suất Kép
Lãi suất được cộng vào lãi suất có được trước đó trên số dư tiền gốc. Việc ghép lãi làm gia tăng tỷ lệ thu hồi của người gửi tiền trên số dư của ngân hàng, và suất thu lợi thực (hiệu quả) của người cho vay, dựa trên tiền gốc chưa trả của các khoản tiền vay còn lại. Ví dụ: Lấy $1000 của tài khoản tiết kiệm trả 5% lãi suất; lãi suất ghép hàng tháng; lãi suất hiệu quả kiếm được là 5.116%, giả định $1000 còn lại trên tiền gửi cho đủ năm và không gửi thêm tiền. Tiền lãi được ghép càng thường xuyên hơn, thì lãi suất hiệu quả kiếm được càng cao hơn. Trái với lãi suất đơn trong đó lãi suất chỉ được tính trên tiền gốc. Xem DAILY INTEREST; RULE OF 72.
Lãi suất được cộng vào lãi suất có được trước đó trên số dư tiền gốc. Việc ghép lãi làm gia tăng tỷ lệ thu hồi của người gửi tiền trên số dư của ngân hàng, và suất thu lợi thực (hiệu quả) của người cho vay, dựa trên tiền gốc chưa trả của các khoản tiền vay còn lại. Ví dụ: lấy 1000$ của tài khoản tiết kiệm trả 5% lãi suất, lãi suất ghép hàng tháng: lãi suất hiệu quả kiếm được là 5.116%, giả định 1000$ còn lại trên tiền gửi đủ cho năm và không gửi thêm tiền. Tiền lãi được ghép càng thường xuyên hơn, thì lãi suất hiệu quả kiếm được càng cao hơn. Trái với lãi suất đơn trong đó lãi suất chỉ được tính trên tiền gốc. Xem DAILY INTEREST; RULE OF 72.
Outside Money / Tiền Bên Ngoài
Là hệ thống cho vay trong ngân hàng, do các ngân hàng của Xcốtlen khởi xướng, theo đó người đi vay được phép rút séc vượt quá số dư tín dụng trong tài khoản của mình, cho đến một hạn mức được thoả thuận và chỉ phải trả hàng ngày tính trên số tiền rút quá số dư.
Outside Lag / Độ Trễ Bên Ngoài
Độ trễ bên ngoài (Outside Lag) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Độ trễ bên ngoài (Outside Lag) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Compound Annual Growth Rate - CAGR / Lãi Gộp Hàng Năm (Cộng Thêm Cả Tiền Gốc)
Là lượng tiền thu hồi được tính dựa trên cả khoản thu ở kì trước của mỗi năm. Khoản thu được của năm trước sẽ bao gồm vốn cho vay và các khoản lãi dồn lại của tất cả các năm trước đó. Ví dụ: Nếu bạn đầu tư 100$ và lãi 5% trong năm đầu tiên và sau đó bạn lại đầu tư 105$ và lãi 8% trong năm thứ 2 này thì tỷ lệ lãi gộp là 6,489%. Phương pháp tính như sau: 100$ * 1.05 * 1.08 = 113.4$. Đây là kết quả có được sau năm thứ 2. Lãi trung bình là : Căn bậc 2 của (113,4/100 - 1) = 0,06489 hay 6,489%. Chú ý: Nếu chúng ta có 3 kỳ gộp lại thì ta sẽ tính theo căn bậc 3 Nếu tỷ lệ lãi đúng 6,489% trong cả 2 kỳ thì sẽ có: 100$ * 1.06489 * 1.06489 = 113,4$ Ví dụ nhằm đến khoản thu hồi nhưng CAGR có thể được áp dụng để tính tiền lãi, tốc độ tăng trưởng GDP, v.v...
Composite Commodity Theorem / Định Lý Hàng Hoá Đa Hợp
Theo J.R.HICKS (Giá trị và tư bản, Đại học Oxford,1939), định lý này nói rằng nếu có một số hàng hoá mà giá tương đối của chúng (tức là giá của hàng hoá này so với giá của hàng hoá kia) không đổi thì những hàng hoá đó có thể coi là một hàng hoá có tên "hàng hoá đa hợp".
Compliance Audit / Kiểm Toán Tuân Thủ
Kiểm toán tuân thủ là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về mức độ tuân thủ hay chấp hành luật pháp của Nhà nước, các nguyên tắc, thể lệ, chế độ và quy định của đơn vị được kiểm toán.Một số đặc điểm của kiểm toán tuân thủ: - Chủ thể: chủ yếu là kiểm toán viên nhà nước và kiểm toán viên nội bộ - Kết thúc kiểm toán: phát hành Báo cáo kiểm toán và Thư quản lý (nếu có) - Cơ sở pháp lý: chính bản thân các văn bản pháp quy hoặc nội quy, quy định đó - Khách thể: một bộ phận hoặc toàn bộ đơn vị được kiểm toán - Tính chất pháp lý của cuộc kiểm toán: phụ thuộc vào kiểm toán viên thực hiện
Output Budgeting / Ngân Sách Theo Sản Lượng
Là một hệ thống kế toán phân loại các chi phí theo sản lượng được sản xuất ra dựa vào quá trình sản xuất chứ không dựa theo những đầu vào được mua. Do vậy, trong khi một ngân sách thông thường dành cho lực lượng cảnh sát sẽ phân bổ các chi phí cho lương, nguyên liệu, thiết bị v.v…, thì một ngân sách tính theo sản lượng sẽ áp dụng những tiêu đề như “ngăn ngừa tội phạm”, “phát hiện”, “điều khiển giao thông”. Mục tiêu của phương pháp này là nhằm nâng cao chất lượng của việc ra quyết định và việc phân bổ nguồn lực trong các tổ chức, đặc biệt là trong lĩnh vực chi tiêu công cộng, nơi mà, nếu nói một cách lý tưởng thì chi tiêu của tất cả các cơ quan chính phủ cần phải được phân loại theo các mục đích chứ không căn cứ theo từng bộ phận. Đôi khi người ta còn sử dụng những tên gọi khác như lập ngân sách theo chương trình và hệ thống lập ngân sách theo lập trình kế hoạch hóa (PPBS), đặc biệt là những khó khăn trong việc xác định mức sản lượng cuối cùng có nghĩa là các chi phí được phân bổ dựa trên các chương trình hay các chính sách.
Complex Number / Số Phức
Các số bao gồm những phân tử TƯỞNG TƯỢNG, nghĩa là nó chứa căn bậc hai của âm một.
Số Phức (Complex Number) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Số Phức (Complex Number) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Output / Sản Lượng
Là sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển đổi đầu vào thành hàng hoá.
Complements / Hàng Hóa Bổ Sung
Thuật ngữ Hàng hóa bổ sung dùng để chỉ loại hàng hóa có được mua cùng hàng hóa khác với mục đích bổ sung giá trị sử dụng cho hàng hóa đó. Trong mối quan hệ giữa hai loại sản phẩm thì một sản phẩm được gọi là bổ sung nếu người mua dùng nó kèm theo với sản phẩm chính.
Outlier / Giá Trị Ngoại Lai
Đây là một thuật ngữ được dùng để mô tả một điểm số liệu mà cách xa một cách bất thường trung tâm của các quan sát. Các giá trị ngoại lai có thể có ảnh hưởng lớn đến việc tính toán các ước lượng thông số trong phân tích hồi quy hoặc các số thống kê tóm tắt chẳng hạn như trung bình và phương sai mẫu mà kết quả là có thể lấy cả những giá trị không tiêu biểu. Do đó, các giá trị ngoại lai thường hay bị bỏ qua, hay được tính toán đến bởi những biến giả trong các hồi quy.
OTCBB-OTC Bulletin Board / Bảng Niêm Yết Giá Cổ Phần OTC
Là bảng điện tử niêm yết giá chào bán và chào mua đối với các cổ phần OTC không đáp ứng được nhu cầu trị giá tối thiểu và các yêu cầu khác của hệ thống niên yết Chứng khoán Nasdaq. Hệ thống mới, được phát triển bởi Hiệp hội buôn bán Chứng khoán quốc gia (NASD) và được thông qua bởi SEC vào năm 1990, cung cấp những dữ liệu thường xuyên và cập nhật hơn về giá cổ phần trong nước, và được cập nhật 2 lần một ngày về giá cổ phần của các công ty ở nước ngoài. Hệ thống được thiết kế với mục đích làm thuận lợi hoá thương mại và cung cấp sự giám sát chặt chẽ hơn rất nhiều giá của các cổ phần trước kia thường được cập nhật ngày một lần trên hệ thống Pink Sheets, đưa ra bởi Cục Báo giá quốc gia- National Quotation Bureau. Rất nhiều các nhà đầu tư tránh mua cổ phần OTC bởi vì một lý do rất có căn cứ là giá cả của cổ phiếu rất không đáng tin cậy. Không những thế rất khó có thể phân biệt giữa cổ phiếu OTC và cổ phiếu Penny. Bảng OTC bulletin là một nỗ lực để phân biệt thị trường OTC hợp pháp với những trò chơi kém minh bạch, và thị trường OTC cũng đạt được các yêu cầu về vốn, mặc dù các yêu cầu này có thể ít khắt khe hơn so với các yêu cầu trên thị trường Chứng khoán lớn. Các loại cổ phiếu đã bị loại khỏi bảng niêm yết trên thị trường Chứng khoán tên tuổi bởi vì không đạt được yêu cầu về vốn tối thiểu hoặc các yêu cầu khác nên cuối cùng được niêm yết và mua bán trên bảng Bulletin OTC.
Competitiveness / Năng Lực Cạnh Tranh
Năng lực cạnh tranh là một khái niệm có tính chất so sánh khả năng và hoạt động của một doanh nghiệp, một khu vực sản xuất hoặc một đất nước nhằm bán và cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ trong một thị trường xác định. Theo bản báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2007 - 2008 (The Global Competitiveness Report 2007 - 2008) thì 20 nước xếp hạng đầu tiên là: Đất nước/ Nền kinh tế Xếp hạng Điểm số Hoa Kỳ 1 5.67 Thụy Sỹ 2 5.62 Đan Mạch 3 5.55 Thụy Điển 4 5.54 Đức 5 5.51 Phần Lan 6 5.49 Singapore 7 5.45 Nhật Bản 8 5.43 Anh 9 5.41 Hà Lan 10 5.40 Hàn Quốc 11 5.40 Hong Kong 12 5.37 Canada 13 5.34 Đài Loan 14 5.25 Austria 15 5.23 Nauy 16 5.20 Israel 17 5.20 Pháp 18 5.18 Australia 19 5.17 Belgium 20 5.10 Nguồn: http://www.gcr.weforum.org/ Việt Nam xếp hạng số 68 với điểm số 4.04 trên tổng số 131 nước được xếp hạng.
Payroll Tax / Thuế Bảng Lương
Thuế bảng lương là một loại thuế dựa vào tiền lương (tháng) và tiền công do người chủ thanh toán. Dạng phổ biến nhất ở Anh là sự đóng góp bảo hiểm quốc gia của những chủ thuê nhân công.
Orthogonal / Trực Giao
Hai vector hoặc hai ma trận được coi là trực giao nếu tích của chúng là vector/ma trận 0. Do vậy, tích trực giao giữa hai biến số có thể được diễn giải theo cách hiểu rằng sự tương quan giữa chúng là 0 vì tổng của các tích chéo của chúng (tích của các vector thuộc các phép đo của chúng) xác định hệ số tương quan của chúng là 0.
Competitive Markets / Thị Trường Cạnh Tranh
Một thị trường trong đó một số lớn những người mua và bán nhỏ buôn bán một cách độc lập và do đó, không ai có thể chi phối giá cả một cách đáng kể.(Xem PERFECT COMPETITION).
Payment In Kind / Thanh Toán Không Dùng Tiền
Trong lĩnh vực tài chính, thuật ngữ "payment in kind" viết tắt là "PKI" được hiểu là việc thanh toán không dùng tiền mặt. Đôi khi người ta dùng hẳn từ PKI trực tiếp như một động từ khi nói một lại trái phiếu PKI tức là trái phiếu đó không thanh toán trái tức bằng tiền, hoặc như một tính từ khi người ta nói đó là "PKI able bond". Khi một loại chứng khoán nào đó được coi là được thanh toán không dùng tiền mặt thì có rất nhiều hình thức thanh toán khác để thay thế. Với trái phiếu công ty, thay vì thanh toán trái tức định kì, công ty có thể đề nghị tăng lãi suất những kì sau để bù đắp vào số trái tức đó, hoặc đề nghị trả bằng quyền chọn mua cổ phiếu công ty để thay thế. Tương tự, công ty có thể quyết định không phát cổ tức bằng tiền mặt cho các cổ đông mà thanh toán cho họ bằng cổ phiếu do công ty phát hành thêm. Lý do phổ biến của việc thanh toán không dùng tiền mặt là vì công ty này có thể đang trong tình trạng khan hiếm tiền mặt, hoặc họ muốn dùng biện pháp này để tăng nhanh qui mô vốn của công ty (trường hợp thanh toán bằng cổ phiếu). Ngoài ra còn có một số trường hợp khác ít phổ biến hơn, hình thức thanh toán này đã được ghi ngay trong điều lệ thành lập công ty, tổ chức. Ví dụ: trong trường hợp các quỹ ETF, nhà đầu tư không thể yêu cầu quỹ mua lại cổ phần của mình bằng tiền mặt mà chỉ được thanh toán bằng cổ phiếu trong danh mục đầu tư của quỹ (sau khi đã tích lũy đủ 1 đơn vị đầu tư). Trong các lĩnh vực khác ngoài tài chính thì "Payment in kind" thường được hiểu là một hình thức thanh toán, biếu, tặng bằng hiện vật. Thuật ngữ này tương đương với "payment in kine", xuất phát từ việc gười lao động trước đây thường được trả công bằng gia súc ("kine" là một từ cổ có nghĩa là "con bò").
Competition And Credit Control / Kiểm Soát Tín Dụng Và Cạnh Tranh
Tên của một tài liệu tham vấn do NGÂN HÀNG ANH phát hành giữa năm 1971, tài liệu này tóm lược những đề xuất cho việc xem xét những thoả thuận tín dụng áp dụng đối với các NGÂN HÀNG và cơ quan tài chính khác và bắt đầu áp dụng vào cuối năm đó. Bản chất của những thay đổi này là ở chỗ chúng cho phép kết thúc việc kiểm soát về số lượng cho vay dặc biệt của các NGÂN HÀNG THANH TOÁN BÙ TRỪ và chúng áp dụng vối các ngân hàng và CÔNG TY TÀI CHÍNH theo cách thức càng lớn và càng không phân biệt càng tốt (Xem MONETARY MANAGEMENT).
Payment Date / Ngày Thanh Toán
1. Ngày được định trong khế ước trái phiếu như ngày thanh toán tiền lãi, hay ngày thanh toán vốn gốc và lãi đối với một loạt trái phiếu. 2. Thời điểm định giá trị chỉ định, trong đó vốn được chuyển theo thỏa thuận trước đó, ví dụ, tiền lương hay tiền gửi trực tiếp về an sinh xã hội. Có hai tình huống có thể xảy ra đối với quy trình thanh toán cổ tức: Nếu là công ty có cổ phiếu niêm yết trên SGDCK Tp.HCM hoặc TTGDCK Hà Nội thì trong ngày này cổ tức (tiền mặt/ hoặc cổ phiếu) sẽ tự động được chuyển vào tài khoản của nhà đầu tư. Nếu là cổ phiếu của công ty chưa niêm yết thì trong ngày này cổ đông mang CMND đến công ty để nhận tiền hoặc mang sổ cổ đông tới để công ty ghi bổ sung số cổ phiếu được nhận thêm. Hiện nay có một số ít công ty chưa niêm yết tiến hành trả cổ tức (tiền mặt) cho cổ đông bằng hình thức chuyển khoản nhưng hình thức này vẫn chưa phổ biến lắm.
Ngày được định trong khế ước trái phiếu như ngày thanh toán tiền lãi, hay ngày thanh toán vốn gốc và lãi đối với một loạt trái phiếu. Thời điểm định giá trị chỉ định, trong đó vốn được chuyển theo thoải thuận trước đó, chuyển theo thỏa thuận trước đó, ví dụ tiền lương hay tiền gửi trực tiếp về an sinh xã hội.
Competition Act 1980 / Đạo Luật Cạnh Tranh 1980
Đạo luật này nhấn mạnh tầm quan trọng trong chính sách cạnh tranh của các tập quán và điều kiện kinh doanh.(Xem RESTRICTIVE TRADE PRACTICES ACT 1956, MONOPOLIES AND MERGERS ACT 1965, RESTRICTIVE TRADE PRACTICES ACT 1968, FAIR TRADING ACT 1973, COMPETITION ACT 1980)






