Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

EE Bond / Trái Phiếu EE

Thuộc loại trái phiếu tiết kiệm. Trái phiếu có tên EE được phát hành năm 1980 để thay thế cho trái phiếu có tên E. Trái phiếu EE được bán bằng nửa giá trị bề mặt (có mệnh giá từ 50 - 10 000 đôla), và được bảo đảm sẽ có giá ít nhất bằng giá bề mặt vào lúc đáo hạn, từ 8 - 20 năm phụ thuộc vào ngày phát hành. Trái phiếu điện tử EE được bán trực tiếp thông qua TreasuryDirect đúng bằng giá trị bề mặt (ít nhất là 25 USD), tuy nhiên chúng được bảo đảm sẽ có giá trị ít nhất gấp đôi giá trị bề mặt vào lúc đáo hạn. Trái phiếu EE có lãi suất thay đổi phụ thuộc vào ngày phát hành. Vào tháng 5 năm 2005, EE bond được quy định lãi suất cố định vào thời gian mua. Hiện tại lãi suất là 3,6%. Các trái phiếu phát hành tháng 5 nămm 1997 hoặc muộn hơn được nhận lãi suất hàng tháng, và được tính lãi kép 2 lần một năm, cho đến khi chúng hết hạn (sau 30 năm). Các trái phiếu EE phát hành trước thời gian này có lãi suất tính gộp rất khác nhau, nhưng giống nhau ở điểm đều đáo hạn sau 30 năm. Lãi suất trái phiếu EE được mua từ năm 1989 trở đi được miễn thuế nếu được sử dụng cho chi phí giáo dục, với điều kiện là các chi phí phải trả trong cùng năm với lãi suất được trả.

Face Value / Mệnh Giá

Trong lĩnh vực tài chính, mệnh giá có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Với trái phiếu, mệnh giá là số tiền gốc hoặc số tiền thu lại được khi đáo hạn. Tiền lãi được tính theo một số phần trăm nhất định của mệnh giá. Trước khi đáo hạn, giá trị thực tế của một trái phiếu có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn mệnh giá, tuỳ thuộc vào thời gian, lãi suất và rủi ro đi kèm với trái phiếu đó. Khi đáo hạn, giá trị thực tế của trái phiếu sẽ vừa đúng bằng mệnh giá. Khi phát hành cổ phiếu, mệnh giá chính là mức giá chuẩn (par value) của cổ phiếu. Với cổ phiếu phổ thông, thì mệnh giá chủ yếu mang tính chất danh nghĩa khi mà giá trị của cổ phiếu được quyết định bởi thị trường. Ngược lại, với cổ phiếu ưu đãi mệnh giá gần với giá trị thực tế hơn khi mà cổ tức lại được tính toán theo một số phần trăm nhất định của mệnh giá. Trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, face value là giới hạn trách nhiêm của hãng bảo hiểm, mức bồi thường trong trường hợp người được bảo hiểm chết. Trong bảo hiểm tài sản thìface value là số tiền bảo hiểm, số tiền tối đa mà hãng bảo hiểm phải bồi thường trong các điều kiện như qui định trong hợp đồng. Đối với tiền tệ mệnh giá là giá trị được in trên bề mặt của đồng tiền. Về cơ bản đó chính là giá trị thực tế của đồng tiền, song trong một số trường hợp thì nó chỉ là giá trị danh nghĩa, ví dụ khi đồng tiền được đúc bằng vàng chẳng hạn.

Vốn gốc của một giá trị bề mặt chứng khoán, chính sách bảo hiểm hoặc đơn vị tiền tệ. Trong chứng khoán thì mệnh giá (hoặc par value: mệnh giá) và giá thị trường thường khác nhau cho đến khi đáo hạn. Sự chênh lệch giá này là khoản phụ trội (premium) hoặc chiết khấu.

Edgeworth, Francis Ysidro / (1845-1926)

Giáo sư kinh tế chính trị học ở trường đại học Oxford 1891-1922 và là người theo chủ nghĩa vị lợi, là người phát minh ra công cụ về đường bàng quan và đường hợp đông mà sử dụng trong thuyết hàng đổi hàng. Ông cũng nổi tiếng với công trình về các phương pháp thống kê và đặc biệt là quy luật chung của sai số, chỉ số và hàm số. Ông đã mở rộng QUY LUẬT LỢI TỨC GIẢM DẦN từ nông nghiệp sang chế tạo như một nguyên lý chung.

Economy Of High Wages / Nền Kinh Tế Có Tiền Công Cao

Một nhận định rằng, tiền công cao sẽ dẫn đến năng suất cao; tiền công và sản phẩm lao động biên được coi là có liên hệ thuận với nhau.

Economy / Nền Kinh Tế

Một nền kinh tế là một hệ thống các hoạt động của con người liên quan đến sản xuất, phân phối, trao đổi, và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ trong một quốc gia hoặc một khu vực địa lý nhất định. Cấu thành một nền kinh tế không thể thiếu các cuộc cách mạng về công nghệ, lịch sử văn minh và tổ chức xã hội, cùng với địa lý và sinh thái, ví dụ cụ thể là các vùng với các điều kiện về nông nghiệp và cơ hội khai thác tài nguyên thiên nhiên khác nhau, trong số các nhân tố khác. Nền kinh tế cũng đề cập đến thước đo tăng trưởng sản phẩm của một đất nước hoặc một khu vực. Trong các nền kinh tế hiện địa, có 3 khu vực chính của hoạt động kinh tế, bao gồm: Khu vực cơ bản : Liên quan đến việc khai thác và sản xuất nguyên liệu thô, như ngô-gạo-lúa mì, than đá, gỗ và sắt. Khu vực thứ hai: Liên quan đến việc chuyển đổi nguyên liệu thô hoặc nguyên liệu trung gian thành hàng hóa, ví dụ sử dụng thép để sản xuất ôtô, hoặc sợi bông để làm thành quần áo. Khu vực thứ ba: Liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ tới người tiêu dùng và các ngành kinh doanh, như trông trẻ, rạp chiếu phim hay dịch vụ ngân hàng. Sự phát triển kinh tế qua các thời kì lịch sử Thời cổ đại các nền kinh tế chủ yếu dựa trên nông nghiệp, thời kì này hàng hóa được trao đổi với nhau trên thị trường do nhu cầu về nhiều hàng hóa khác nhau của bản thân người sử dụng. Aristotle (384-322 TCN) là người đầu tiên phân biệt sự khác nhau giữa giá trị sửa dụng và giá trị trao đổi của hàng hóa. Thời Trung cổ Vào thời Trung cổ các thương gia như Jakob Fugger (1459-1525) và Giovanni di Bicci de' Medici (1360-1428) đã xây dựng nên những ngân hàng đầu tiên. Các cuộc khám phá ra vùng đất mới của Marco Polo (1254-1324), Christopher Columbus (1451-1506) và Vasco de Gama (1469-1524) đã dẫn tới sự giao lưu về thương mại giữa các lục địa và ra đời nền kinh tế thế giới đầu tiên. Năm 1513 sàn giao dịch chứng khoán đầu tiên ra đời ở Antwerpen. Thời kì đầu của nền kinh tế hiện đạiNhững nước mà Châu Âu xâm chiếm được gọi là thuộc địa, các nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Anh và Hà Lan cố gắng kiểm soát thương mại thông qua thuế và lệ phí hải quan nhằm bảo vệ nền kinh tế trong nước. Chủ nghĩa trọng thương ra đời ở thời kì này (thế kỉ 16- 18). Thời kì cách mạng công nghiệp Nhà kinh tế đầu tiên thực thụ là Adam Smith (1723-1790). Ông đã xác định các nhân tố của một nền kinh tế là: sản phẩm được cung cấp với mức giá tự nhiên sinh ra dưới quy luật cạnh tranh - cung và cầu - và sự phân chia lao động. Ông cho rằng động lực cơ bản của thương mại tự do chính là lợi ích cá nhân. Mỹ là mảnh đất trú ngụ của hàng triệu người Châu Âu rời bỏ quê hương với ước vọng phát triển kinh tế và làm giàu. Ở Châu Âu, chủ "nghĩa tư bản hoang dã" bắt đấu thay thế chủ nghĩa trọng thương và dẫn tới phát triển kinh tế. Chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội Ở Anh quan điểm của Adam Smith trở thành hiện thực trong khi tiết kiệm chi phí sản xuất tối đa dẫn đến nghèo đói, đô thị hóa và bần cùng hóa trong các tầng lớp dân chúng. Karl Marx (1818-1883) và Friedrich Engels (1820-1895) đã gọi nền kinh tế là một "hệ thống của chủ nghĩa tư bản." Từ việc khai thác kiệt quệ sức lao động và thiên nhiên nhằm tạo ra giá trị thặng dư, tư bản sẽ tích tụ vốn dẫn đến phá hủy cạnh tranh. Vì vậy chủ nghĩa xã hội sẽ giải phóng nền kinh tế khỏi sự chế ngự của tư bản. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung được thiết lập đầu tiên sau cuộc Cách mạng Nga năm 1917. Sau chiến tranh thế giới thứ II Để xây dựng các nền kinh tế bị phá hủy sau Thế chiến II, những quan điểm mới là cần thiết.  Friedrich August von Hayek (1899-1992) và Milton Friedman (1912-2006) ủng hộ thương mại tự do toàn cầu và được coi là cha để của trường phái Tân tự do. Trái ngược với quan điểm đó John Maynard Keynes (1883-1946) cho rằng nền kinh tế phải được kiểm soát chặt hơn bởi chính phủ. Xã hội ngày nay Toàn cầu hóa đã thúc đẩy nền kinh tế của các quốc giá, và những cuộc tranh luận của Ngân hàng thế giới, Tổ chức thương mại thế giới và những đối tượng có ảnh hưởng lớn khác trong diễn đàn kinh tế thế giới cũng những các cuộc thảo luận về sinh thái và vấn đề phát triển bền vững đã ảnh hưởng đến khái niệm thế nào là một nền kinh tế.

Corporate Raid / Đột Kích Doanh Nghiệp

Là thuật ngữ kinh doanh dùng để chỉ việc mua lại một phần lớn cổ phần trong một công ty và sau đó sử dụng quyền biểu quyết để thông qua các biện pháp nhằm làm tăng giá trị của cổ phiếu. Những biện pháp này có thể bao gồm việc thay thế các quản lý cấp cao, thu hẹp quy mô hoạt động, hoặc phát mại công ty. Vào thập niên 70 và 80, các cuộc đột kích được thực hiện chỉ bởi một nhóm nhà đầu tư nhỏ. Trong số những cuộc đáng ghi nhớ nhất có tên tuổi của Carl Icahn,  Victor Posner, Nelson Peltz, Robert M. Bass, T. Boone Pickens, Harold Clark Simmons, Kirk Kerkorian, Sir James Goldsmith, Saul Steinberg và Asher Edelman. Icahn nổi tiếng với vụ đột kích không thương xót công ty TWA vào năm 1985. Kết quả là Icahn bán đi các tài sản của công ty này và lấy tiền đó để trả khoản nợ ông đã dùng để mua công ty. Hành động này được gọi là Asset Stripping.

Economies Of Scope / Tính Kinh Thế Theo Phạm Vi

Là học thuyết kinh tế phát biểu rằng chi phí sản xuất trung bình sẽ giảm khi doanh nghiệp mở rộng chủng loại hàng hóa và dịch vụ mà công ty sản xuất ra. Công ty thông thường sẽ mở rộng dây chuyền sản xuất đối với những sản phẩm có liên quan, tận dụng hệ thống phân phối và marketing sẵn có. Ví dụ, McDonals có thể sản xuất bánh Hamburgers và Khoai tây rán với chi phí trung bình nhỏ hơn nếu hai doanh nghiệp khác sản xuất cũng những loại đồ ăn này. Bởi vì McDonals sử dụng cùng một kho chứa hàng, cùng những trang thiết bị chế biến, và những thứ tương tự trong quá trình sản xuất. Một công ty cung cấp dịch vụ điện thoại cũng có thể mở rộng sang cung cấp cả dịch vụ Internet hoặc một công ty sản xuất kem có thể kiêm sản xuất sữa chua. Các công ty cũng có thể đạt được tính kinh tế theo phạm vi thông qua việc sản xuất ra những sản phẩm dường như không có liên quan đến nhau. Ví dụ General Electric sản xuất ra các sản phẩm như động cơ máy bay, trang thiết bị gia đình, trang thiết bị y tế, tuabin gió, và tivi; nhưng công ty này cũng cung cấp các dịch vụ tài chính cho các ngành kinh doanh và sở hữu mạng lưới truyền hình NBC. Các công ty dạng này có thể đạt được tính kinh tế theo phạm vi dựa trên hệ thống quản lí hiệu quả, tài chính linh hoạt, sức mạnh chính trị, hoặc tập trung hoá nghiên cứu sản phẩm và marketing.

Economies Of Scale / Tính Kinh Tế Nhờ Qui Mô; Lợi Thế Kinh Tế Nhờ Quy Mô

Giảm chi phí trung bình của một sản phẩm xét trong dài hạn nhờ tăng sản lượng.

Economies Of Scale / Tính Kinh Tế Theo Quy Mô

Tính kinh tế theo quy mô đặc trưng cho một quy trình sản xuất trong đó một sự tăng lên trong số lượng sản phẩm sẽ làm giảm chi phí bình quân trên mỗi sản phẩm sản xuất ra. Ví dụ ta có một dây chuyền sản xuất quần áo. Chi phí dây chuyền máy móc trong một tuần là 100 đơn vị tiền tệ, chi phí phụ trội là 1 đơn vị tiền tệ trên mỗi đơn vị sản phẩm. Nếu như hệ thống sản xuất được 50 sản phẩm một tuần thì chi phí cố định bình quân trên mỗi sản phẩm là (100+50)/50= 3 đơn vị sản phẩm. Tuy nhiên nếu công ty sản xuất được 100 đơn vị một tuần thì chi phí cố định bình quân trên mỗi đơn vị  sản phẩm sẽ giảm xuống chỉ còn (100+100)/100 = 2 đơn vị tiền tệ. Đây là ví dụ điển hình của tính kinh tế theo quy mô. Tất nhiên ví dụ này đã được đơn giản hoá đi nhiều, trên thực tế thì còn rất nhiều các lực cản vô hình trong nền kinh tế khiến cho công ty khó có thể đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô. Tính kinh tế theo quy mô tồn tại ở hầu hết các ngành, có thể phát huy tác dụng ở cả cấp nhà máy và cấp công ty bao gồm nhiều nhà máy. Nó xuất hiện vì các lý do sau đây: Tínhkhông chia nhỏ được của máy  móc và thiết bị, đậc biệt ở những nơi mà một loạt quá trình chế biến được liên kết với nhau. Hiệu quả của công suất lớn đối với nhiều loại thiết bị đầu tư (vd:tầu chở dầu, nồi hơi), cả chi phí khởi động và vận hành đều tăng chậm hơn công suất. Hiệu quả chuyên môn hoá_khi sản lượng lớn hơn, người ta có điều kiện sử dụng lao động chuyên môn và máy móc chuyên dụng Kỹ thuật và tổ chức sản xuất ưu việt khi quy mô tăng lên người ta có thể sử dụng máy tự động thay cho thiết bị vận hành thủ công hoặc thay thế sản xuất đơn chiếc bằng dây chuyền hàng loạt một cách liên tục. Hiệu quả của việc mua nguyên vật liệu va phụ tùng với khối lượng lớn nhờ được hưởng chiết khấu Hiệu quả marketing (hiệu quả tiêu thụ) thu được nhờ biệc sử dụng phương tiện quảng cáo đại chúng và mật độ sử dụng lực lượng bán hàng lớn hơn Hiệu quả tài chính thu được do các công ty lớn có điều kiện gọi vốn với điều kiện thuận lợi (lãi suất, chi phí đi vay thấp hơn) Hiệu quả quản lý thông qua các dãy số thời gian... Khả năng tận dụng tính kinh tế theo quy mô có thể bị hạn chế vì nhiều lý do. Ở một số ngành, bản chất của sản phẩm và quá trình chế biến hay công nghệ có thể làm giảm tính kinh tế theo quy mô ngay khi sản lượng còn ở mức khiêm tốn. Về phía cầu, tổng nhu cầu thị trường có thể không đủ để một công ty đạt được quy mô tối thiểu có hiệu quả hoặc tỷ trọng của công ty quá nhỏ. Nếu người tiêu dùng có nhu cầu về nhiều sản phẩm khác nhau (tính đa dạng của nhu cầu) gây cản trở cho việc tiêu chuẩn hoá và sản xuất trong thời gian dài. Khi kinh tế theo quy mô có ý nghĩa quan trọng với nhiều ngành nó sẽ dẫn tới xu hướng là tập trung hoá người bán ở mức cao. LRAC : Đường chi phí bình quân dài hạn có hình chữ U đặc trưng cho một nhà máy Output: sản lượng đầu ra Average: chi phí bình quân Sản lượng tăng từ Q1 đến Q2 làm chi phí giảm từ C xuống C1. Trong đồ thị trên Q2 là mức sản lượng tối ưu, đạt chi phí bình quân thấp nhất. Sau điểm này tính kinh tế theo quy mô giảm dần và đến một mức nào đó không còn phát huy tác dụng nữa.

Corporate Finance / Tài Chính Doanh Nghiệp

Tài chính doanh nghiệp là một lĩnh vực đặc biệt của ngành tài chính, liên quan đến việc đưa ra các quyết định về mặt tài chính của một doanh nghiệp, các công cụ cũng như phân tích được sử dụng để đưa ra các quyết định này. Mục đích chủ yếu của tài chính doanh nghiệp là nhằm nâng cao giá trị doanh nghiệp đồng thời tránh được các rủi ro đáng tiếc về mặt tài chính. Các nguyên tắc đối với tài chính doanh nghiệp có thể chia dựa trên kĩ thuật sử dụng và quyết định đưa ra là dài hạn hay ngắn hạn. Các quyết định đầu tư vốn dài hạn dựa trên các lựa chọn dài hạn về dự án đầu tư, đầu tư theo phương thức góp cổ phần hay cho vay nợ, khi nào và liệu có nên trả cổ tức cho các cổ đông hay không? Các quyết định tài chính doanh nghiệp trong ngắn hạn thường được gọi là hoạt động quản lý vốn lưu động, chủ yếu giải quyết vấn đề cân đối nợ ngắn hạn và tài sản ngắn hạn, trọng tâm là quản lýtiền mặt, hàng tồn kho, vay ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Tài chính doanh nghiệp liên qua mật thiết với quản trị tài chính, khái niệm có nội hàm rộng hơn, bao gồm tất cả các kĩ thuật tài chính cho dù kĩ thuật này có đang được áp dụng tại các doanh nghiệp kinh doanh hay không.Tài chính doanh nghiệp quan tâm đến mọi mặt của hoạt động tài chính trong một doanh nghiệp, trong đó có các mối quan tâm chủ yếu sau: Quyết định về vốn đầu tư Đây thường là quyết định có tính chất dài hạn, liên quan đến các tài sản cố định hay cấu trúc vốn. Quyết định ở đây có thể dựa trên một vài chỉ tiêu có sự liên hệ với nhau. Thông thường, bộ phận quản lý phải tối đa hoá giá trị của doanh nghiệp bằng cách đầu tư vào các vào dự án có NPV dương, với tỉ lệ chiết khấu hợp lý. Đánh giá các cơ hội đầu tư Thông thường, giá trị của một dự án được đánh giá thông qua phương pháp chiết khấu dòng tiền. Dự án nào có kết quả tốt nhất_thường được thể hiện qua NPV thì dự án đó sẽ được lựa chọn. Nhưng để làm được điều này công ty cần xác định được quy mô và thời điểm thu được tiền lãi từ dự án. Dòng tiền tương lai sau đó sẽ được chiết khấu để quy về giá trị hiện tại của nó, so sánh với chi phí bỏ ra để thực hiện, nếu tiền thu về lớn hơn thì dự án là khả thi, và công ty có thể tiến hành hoạt động đầu tư. Quyết định đầu tư Muốn ra một quyết định đầu tư yêu cầu cần phải đánh giá kĩ lưỡng và đúng đắn các cơ hội đầu tư, các dự án, hay nói cách khác là phải đi giải một bài toán có hàm số phức hợp của ba biến là khả năng, quy mô và thời gian thu được dòng  tiền tương lai. Sau khi đã đánh giá cơ hội đầu tư, doanh nghiệp sẽ lựa chọn và đưa ra quyết định đầu tư. Lúc này các nhà quản trị doanh nghiệp sẽ phải tính toán để phân bổ các nguồn lực hữu hạn sao cho có hiệu quả cao nhất.

Economics / Kinh Tế Học

Kinh tế học là khoa học nghiên cứu về cách thức-phương pháp các xã hội loài người sử dụng, quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn. Trong xã hội, việc sử dụng và phân bổ tài nguyên trong các hoạt động xã hội không chỉ là việc của cơ quan trung ương hay một nơi lập kế hoạch, mà chủ yếu thông qua các hộ gia đình (con người) và các công ty. Như vậy kinh tế học cần nghiên cứu (theo Paul Samuelson và Greg Mankiw): Các cá nhân và tập thể trong xã hội quyết định cách mình làm việc, mua cái gì, tiết kiệm tiền như thế nào, đầu tư tiền cá nhân ra sao. Các cá nhân trong xã hội tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau như thế nào, chẳng hạn như độ lớn nhu cầu mua và bán cùng một loại hàng hóa để xác định mức giá cân bằng thực hiện giao dịch mua-bán. Các lực lượng tồn tại trong xã hội và các xu hướng diễn biến có thể tác động và gây ảnh hưởng đáng kể lên nền kinh tế như là một chỉnh thể. Những lực lượng và xu hướng ấy có thể là mức tăng thu nhập đầu người bình quân, số người và tỷ lệ người thất nghiệp trong nền kinh tế ở độ tuổi lao động, ảnh hưởng của thâm hụt thương mại lên tốc độ tích lũy sản phẩm xã hội, hay lãi suất phổ biến trong nền kinh tế. Việc quản lý và sử dụng nguồn lực rõ ràng là rất quan trọng, bởi vì chẳng xã hội nào có nguồn lực vô hạn. Điều này theo Mankiw là giống như một gia đình đông con chẳng thể nào chiều nổi "tất cả mọi ý thích của tất cả những đứa con," một nền kinh tế cũng không thể có năng lực thỏa mãn tất cả các nhu cầu của tất cả các cá nhân trong xã hội.

Một ngành nghiên cứu về cách thức con người tự tổ chức để giải quyết vấn đề cơ bản về sự khan hiếm.

Economic Welfare / Phúc Lợi Kinh Tế

Phần phúc lợi của con người xuất phts từ việc tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ.

Phúc Lợi Kinh Tế (Economic Welfare) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Corporate Culture / Organizational Culture / Văn Hóa Doanh Nghiệp / Văn Hóa Tổ Chức

Wikipedia định nghĩa: Văn hóa doanh nghiệp bao gồm thái độ, kinh nghiệm, niềm tin và các giá trị trong một tổ chức. Văn hóa doanh nghiệp còn được định nghĩa là "tập hợp các giá trị và quy tắc được chia sẻ giữa mọi người và các nhóm trong một tổ chức, và kiểm soát cách thức các thành viên tác động lẫn nhau và với cổ đông bên ngoài tổ chức. Các giá trị là các niềm tin và quan niệm liên quan đến các mục tiêu mà các thành viên của tổ chức cần phải theo đuổi và quan niệm về những chuẩn ứng xử mà các thành viên cần sử dụng để đạt được những mục tiêu này. Từ các giá trị sẽ phát triển thành các quy tắc, hướng dẫn và kì vọng yêu cầu các nhân viên cần phải thực hiện trong những tình huống cụ thể và kiểm soát hành vi của các nhân viên đối với nhau. Một số quan niệm khác thì cho rằng cách đơn giản nhất khi nghĩ về văn hóa doanh ngiệp đó là một trường năng lượng quyết định cách tư duy, hành động và quan sát thế giới xung quanh. Văn hóa có ảnh hưởng rất lớn và vô hình. Văn hóa doanh nghiệp được tạo ra một cách tự nhiên, mỗi khi mọi người cùng nhau chia sẻ mục đích, văn hóa được tạo ra. Văn hóa được hình thành tự động dựa trên sự kết hợp suy nghĩ, năng lượng, và quan điểm của mọi người trong một nhóm. Nhóm đó có thể là một gia đình, đội dự án, hoặc một công ty. Văn hóa có cả biểu hiện hữu hình và vô hình. Một số biểu hiện rất dễ quan sát, đó là lớp bề mặt của văn hóa, còn phần lõi có ảnh hưởng sâu và mạnh hơn rất nhiều thì vô hình. Lớp bề mặt của văn hóa doanh nghiệp: Biểu hiện hữu hình - Trang phục làm việc- Môi trường làm việc- Lợi ích- Khen thưởng- Đối thoại- Cân bằng công việc - cuộc sống- Mô tả công việc- Cấu trúc tổ chức- Các mối quan hệ Phần lõi: vô hình - Các giá trị- Đối thoại riêng- Các quy tắc vô hình- Thái độ- Niềm tin- Quan sát thế giới-- Tâm trạng và cảm xúc- Cách hiểu vô thức- Tiêu chuẩn- Giả định Văn hóa doanh nghiệp là "thùng chứa" tầm nhìn, sứ mệnh và giá trị của doanh nghiệp và không đồng nghĩa với nhau. Ngoài ra, người ta còn hay nhắc đến văn hóa mạnh (Strong culture) và văn hóa yếu (Weak culture) trong các bài viết về văn hóa tổ chức, trong đó: Văn hóa mạnh là văn hóa trong đó các nhân viên tự giác phản ứng trước công việc và các tình huống bởi vì họ tin tưởng vào giá trị của tổ chức. Mọi người làm việc bởi vì họ tin rằng việc làm đó là đúng. Nhưng có một rủi ro đối với văn hóa mạnh đó là lối suy nghĩ theo nhóm (groupthink) - họ có thể nghĩ khác, nhưng không muốn thay đổi khỏi cách suy nghĩ của tổ chức, vì vậy lối suy nghĩ này làm giảm khả năng sáng tạo. Văn hóa yếu là văn hóa có ít sự thống nhất theo các giá trị của tổ chức vì vậy việc kiểm soát phải được thực hiện qua hàng loạt thủ tục và hệ thống cấp bậc. Sách "Văn minh làm giàu và nguồn gốc của cải" (TS.Vương Quân Hoàng) bàn đến vấn đề này như sau:  "Chúng tôi nhận thấy rõ việc không hiểu chính xác được văn hóa doanh nghiệp là cái gì, cũng chính là một phần hời hợt của văn hóa nói chung: biết lờ mờ, đại khái, qua loa, biết thể rồi bỏ đấy. Trong quá trình tìm kiếm các bàn luận đã có về văn hóa doanh nghiệp, chúng tôi bắt gặp một định nghĩa như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hóa được xây dựng trong suốt quá trình hình thành doanh nghiệp; chi phối suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên trong doanh nghiệp tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống riêng của mỗi doanh nghiệp.” (1) Thực ra cái sự lủng củng và lẩn quẩn thế này cũng na ná việc gọi “dũng cảm” là “gan dạ” chính là “kiên cường”… Sự lằng nhằng đó khiến cho cái sự hiểu của chúng ta, của doanh nghiệp, của học sinh ngày càng mờ mịt hơn. Cái mà độc giả và chúng tôi đang cần để bắt đầu hành trình về vùng đất văn hóa kinh doanh là một khái niệm ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu và tải được chính xác nội dung. Có thế thì mới hướng tới vun đắp văn hóa doanh nghiệp, kinh doanh khỏe mạnh, vững bền và có lợi ích được chứ.… Khác với nhiều khái niệm học thuật thường hay được trình bày rắc rối, thế giới học thuật kinh doanh lại có khái niệm văn hóa rất rõ ràng, dễ hình dung và bao quát. Nó cũng làm cho người sử dụng yên tâm. Họ đưa ra khái niệm văn hóa doanh nghiệp được thừa nhận rộng rãi, và từ đó phát triển tiếp các tư tưởng mới giản dị như sau: “Đó chẳng qua là một hệ thống chứa những giá trị, các thái độ, niềm tin và các hành vi có ý nghĩa của cộng đồng bên trong doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp cps thể được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.” (2) Một số thuộc tính cơ bản. Các nghiên cứu sâu sắc và có bằng chứng rõ ràng như trong tài liệu do Blunt và Richards biên soạn (1993:[3]) đúc rút được một số thuộc tính quan trọng của văn hóa như sau: Thứ nhất, văn hóa có tính chất cưỡng ép và bắt buộc tuân thủ. Tính chất này cho phép số đông theo một hệ thống giá trị, niềm tin, hành vi trừng phạt các cá nhân vi phạm. Thứ hai, văn hóa có tính chất chia sẻ. Đây là tính chất giúp văn hóa lan truyền và ăn sâu vào cộng đồng. Thứ ba, văn hóa có đặc tính học tập, tự nguyện và bắt buộc. Cũng nhờ tính chất này mà văn hóa tiếp tục thay đổi, vận động, phát triển theo thời gian. Nó cũng giúp quá trình lan truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác có thể diễn ra mà không cần thiết phải có quan hệ huyết thống.

Economic Theory Of Polities / Lý Thuyết Chính Trị Dựa Trên Kinh Tế

Một mô hình về hành vi chính trị giả định rằng là cử tri là những người tối đa hoá độ thỏa dụng và các đảng phái chính trị là những tổ chức tối đa phiếu bầu.

Corporate Conscience / Lương Tâm Hợp Doanh; Lương Tâm Doanh Nghiệp

Với sự tách rời giữa quyền sở hữu và quản lý, một số nhà phân tích lập luận rằng, các nhà quản lý của các công ty lớn đã tách khỏi "lương tâm vì cổ đông" và thay vào đó áp dụng một ý thức phổ biến về trách nhiệm đối với công chúng nói chung. Xem CORPORATE CAPITALISM.

Corporate Capitalism / Chủ Nghĩa Tư Bản Hợp Doanh; Chủ Nghĩa Tư Bản Doanh Nghiệp

Một quan điểm đương thời về các nền kinh tế phát triển phương Tây, trong đó khu vực sản xuất do các công ty lớn thống trị mà đặc điểm các công ty này là sự tách rời giữa quyền sở hữu và quản lý. Xem MANAGERIAL THEORIES OF THE FIRM.

Economic Surplus / Thặng Dư Kinh Tế

Chênh lệc giữa sản lượng của một nền kinh tế và chi phí cần thiết để sản xuất ra sản lượng đó, mà chi phí cần thiết là tiền công, khấu hao vốn, chi phí nguyên vật liệu.

Thặng Dư Kinh Tế (Economic Surplus) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Corporate Brand / Thương Hiệu Tập Đoàn

Khi một sự kết hợp thương hiệu mạnh có thể làm gia tăng giá trị tập đoàn và thiết lập kế hoạch lâu dài, tạo dựng một vị thế độc đáo trên thị trường và đánh bóng tên tuổi công ty và đặc biệt là làm tăng tiềm năng lãnh đạo trong tập đoàn. Bởi thế sự kết hợp thương hiệu có thể làm gia tăng ảnh hưởng lên tài sản hữu hình và tài sản vô hình dẫn tới việc thương hiệu sẽ vượt trội thông qua tập đoàn. Sự kết hợp thương hiệu thường được hiểu nhầm là quá trình thay đổi logo, thiết kế, màu sắc. Thông thường, đây là những yếu tố quan trọng để đánh giá thương hiệu và có khả năng thay đổi khi kế hoạch được quyết định. Sự kết hợp này đi kèm với việc kết hợp những câu slogan để tạo ra một kết quả như mong đợi. Quá trình kết hợp thương hiệu là một quá trình nghiêm túc bao gồm nhiều kỹ năng và họat động chứ không chỉ đơn giản là những chương trình tiếp thị bóng bẩy bề ngoài cùng với những từ ngữ sáo rỗng.

Economic Stimulus Package / Gói Kích Thích Kinh Tế

Trong giai đoạn suy thoái này, chúng ta được nghe nhắc nhiều tới thuật ngữ Gói kích thích kinh tế các Chính phủ mà điển hình là Hoa Kỳ. Các gói kích thích kinh tế lớn nhất thế giới đã được nước này lựa chọn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn từ năm 2007. Vậy Gói kích thích kinh tế là gì?- Đó là thuật ngữ dùng để chỉ các chính sách tài khoá nhằm trợ giúp hoặc hồi phục nền kinh tế trong suy thoái. Các gói kích thích được dùng để vực dậy hoạt động kinh tế trong thời kỳ kinh tế suy yếu qua cách làm tăng tổng cầu. Cách thức này thực hiện dựa trên lý thuyết cho rằng nếu hàng hoá và dịch vụ được mua nhiều hơn, tiền thuế hoàn lại cho người dân sẽ được sử dụng để mua sắm thì cầu sẽ không giảm xuống, các doanh nghiệp sẽ không phải sa thải công nhân, như vậy cầu sẽ ngừng giảm và kinh tế sẽ không tiếp tục suy thoái.

Economic Sciences / Khoa Học Kinh Tế

Khoa học kinh tế, còn gọi tắt là kinh tế học, là môn khoa học xã hội nghiên cứu sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu thụ hàng hóa. Kinh tế học có hai nhánh chính: kinh tế học vi mô, nghiên cứu các hoạt động kinh tế riêng lẻ (hộ gia đình cơ sở thương mại), và kinh tế học vĩ mô, nghiên cứu các hoạt động kinh tế trong một thể thống nhất (cung cầu, hàng hóa, tiền tệ, vốn). Mục đích chung của khoa học kinh tế là tìm ra quy luật chủ quan chung chi phối quá trình hoạt động kinh tế của xã hội. Hoặc một định nghĩa khác: Kinh tế học là ngành khoa học xã hội nghiên cứu về kinh tế. Kinh tế học quan tâm đến các vấn đề như sản xuất và tiêu thụ thông qua những biến cố có thể đo lường được. Nó bao gồm việc phân tích quá trình sản xuất, phân phối, buôn bán và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. Kinh tế học được miêu tả là thực chứng khi nó nhằm mục đích giả thích các hậu quả từ những lựa chọn khác nhau dựa trên một tập hợp các giả định hay các quan sát và được gọi là chuẩn tắc khi nó nhằm đưa ra lời khuyên cần phải làm gì. Theo cách này, kinh tế học được chia thành kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55