Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Y-Efficiency / Hiệu Quả Y

Hiệu quả trong đó các cơ hội thu lợi nhuận trên thị trường được khai thác.

Hiệu Quả Y (Y-Efficiency) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Hiệu Quả Y (Y-Efficiency) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Gauging Customers' Emotion / Đo Cảm Xúc

Trạng thái cảm xúc của người tiêu dùng được đo theo nhiều cách khác nhau. 3 hướng dẫn nguyên tắc các nhà kinh tế sử dụng là các điều tra tháng tiến hành bởi Viện nghiên cứu xã hội Đại học Michigan, Ban Hội thảo, và Sindlinger & Co. Các kết quả nhằm vào các nhóm đối tượng riêng biệt, nhưng chỉ mất vài phút là Phố Wall đưa các kết quả này vào mạng lưới hệ thống thông tin. Các điều tra này đưa ra nhiều kết quả khác nhau bởi lẽ các tổ chức tiến hành đặt ra hệ thống các câu hỏi khác nhau. Michigan hỏi về liệu người tiêu dùng có tin tưởng đủ để vay mượn thêm chi tiêu cho các món lớn như ô-tô và dụng cụ gia đình. Ban Hội nghị tập trung vào sự lo lắng của người tiêu dùng về an toàn việc làm Sindlinger đo mức thu nhập của người tiêu dùng, cảm giác của họ về an toàn việc làm và các điều kiện kinh doanh.

Zero-Sum Game / Trò Chơi Tổng Không Đổi

Zero-Sum Game là trò chơi mà phần thắng của người này đúng bằng phần thua của người kia. Nói tóm lại tổng số phần có của cả hai người không thay đổi trong suốt quá trình chơi. Trò chơi Zero-sum được nhắc đến khá nhiều trong kinh tế. Ví dụ, có những giả thuyết như Lý thuyết của trường phái Trọng thương cho rằng việc giàu có của quốc gia này chính là sự nghèo đi của quốc gia khác. Đây cũng là một biểu hiện của zero-sum game. Zero-sum game được nhắc đến trong bối cảnh các quyết định chính trị được đưa ra khi người ta tin rằng các nguồn lực là hữu hạn và các quyết định đưa ra sẽ có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực, nếu bên này được thì bên kia sẽ bị mất, chính vì vậy các bên sẽ phải cạnh tranh với nhau để giành phần thắng. Theo quan điểm này sẽ không có một trò chơi mà cả hai bên đều được. Hoặc trong nghiệp vụ giao dịch hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn. Một bên có lãi từ Hợp đồng đồng nghĩa với bên kia sẽ bị lỗ. Vì vậy tổng lượng tiền của hai bên vẫn giữ nguyên, chỉ có phần chênh lệch lãi bị chuyển từ bên này sang bên kia. Zero-sum game board                           Hợp đồng quyền chọn và tương lai là những ví dụ của Trò Chơi Tổng Không Đổi (bỏ qua chi phí). Nếu 1 người hưởng lợi ích từ hợp đồng, sẽ có một người khác mất thua cuộc. Đánh bạc cũng là một ví dụ của Trò Chơi Tổng Không Đổi. Tuy nhiên, một thị trường chứng khoán không phải là một cuộc chơi về mo vì tài sản thặng dư có thể được tạo ra chính trong lòng thị trường chứng khoán.

Factor Model / Mô Hình Nhân Tố

Một cách để tách các nhân tố ảnh hưởng đến tỉ suất sinh lời của một chứng khoán thành các nhân tố ảnh hưởng chung và nhân tố ảnh hưởng riêng đến từng công ty. Một trong các mô hình nhân tố khá nổi tiếng là mô hình CAPM, sử dụng duy nhất nhân tố beta để so sánh một danh mục đầu tư với toàn thị trường. Bên cạnh đó, người ta có thể thêm các nhân tố khác vào mô hình này để đưa ra những phân tích phù hợp hơn. Một mô hình nhân tố khác cũng khá nổi tiếng là mô hình 3 nhân tố của Gene Fama và Ken French. Mô hình này sử dụng thêm hai nhân tố beta nữa gắn với các cổ phiếu tăng trưởng và cổ phiếu giá trị, những cổ phiếu được đánh giá là hoạt động tốt hơn bình quân thị trường.

Gather In The Stops / Chiến Lược Gom Lệnh Dừng

Chiến lược gom lệnh dừng là chiến lược đẩy giá cổ phiếu xuống bằng cách bán ra một khối lượng cổ phiếu lớn nhằm kích phát các lệnh dừng lỗ (stop loss order) đã được đặt trước, kết quả là nó sẽ càng làm giá cổ phiếu tụt sâu thêm. Chiến lược này thoạt nghe có vẻ hơi khó hiểu, nhưng thực ra nó khá đơn giản. Ban đầu các nhà đầu tư muốn thực hiện chiến lược này sẽ bán ra một khối lượng lớn cổ phiếu với ý đồ đẩy giá xuống. Khi giá xuống đến một mức thấp nhất định, các lệnh dừng lỗ sẽ được kích phát trở thành lệnh thị trường, tức là hàng loạt cổ phiếu sẽ được bán ra. Kết quả là cung tăng mạnh, càng đẩy giá xuống sâu thêm đồng thời kích phát thêm nhiều lệnh bán dừng lỗ nữa. Quá trình đó cứ thế tiếp diễn gây ra một hiệu ứng liên tục đẩy giá xuống nhanh hơn và mạnh hơn, và đó có thể chính là lúc những tay đầu cơ nhảy vào thị trường. Một số sàn giao dịch, trong tình huống này, có thể sẽ quyết định cho tạm hoãn khớp lệnh với các lệnh dừng lỗ để ngăn hiệu ứng này liên tục xảy ra gây mất ổn định thị trường. Hiệu ứng mà chiến lược gom lệnh dừng gây ra làm hàng loạt lệnh dừng bị kích hoạt và đẩy giá xuống rất nhanh được gọi là hiệu ứng quả cầu tuyết. Hiệu ứng này giống như một quả cầu tuyết lăn từ đỉnh núi xuống, lúc đầu thì nhỏ nhưng càng xuống dưới nó càng thu nhận thêm tuyết, to dần và gây ra những hậu quả thật khó lường.

Zero-Sum / Zero-Sum (Zero-Sum Game)

Zero-sum là từ dùng để diễn tả tình huống trong đó nếu một người thu được lợi ích thì người kia sẽ bị thiệt hại tương đương và ngược lại. Sở dĩ gọi là Zero-sum vì sau khi cộng tất cả các lợi ích, trừ đi các khoản thiệt hại, ta được kết quả là 0. Các trò chơi Zero-sum còn được coi là trò chơi có tổng không đổi (constant-sum) vì tổng các lợi ích hoặc thiệt hại của tất cả những người chơi là một số không đổi. Ta có thể lấy việc cắt một chiếc bánh làm ví dụ. Nếu như chia bánh thành các miếng nhỏ thì sẽ có nhiều người được cùng ăn bánh, nhưng nếu cắt thành miếng to thì những người khác sẽ ít có cơ hội được cùng thưởng thức chiếc bánh này hơn vì tổng lượng bánh là không đổi. Khái niệm này lần đầu được phát triển trong lý thuyết trò chơi, và do đó tình huống trong đó tổng lợi ích của các bên bằng 0 đều được gọi là các "trò chơi zero-sum" (zero-sum game) mặc dù điều này không có nghĩa là khái niệm zero-sum hay ngay cả lý thuyết trò chơi (game theory) chỉ được áp dụng trong các trò chơi. Trong một zero-sum game có hai người chơi, người ta thường đưa ra các chiến lược tối ưu bằng các sử dụng các ma trận để phân tích và phán đoán hành động của mỗi người chơi. Vào năm 1944, John von Neumann và Oskar Morgenstern đã chứng minh rằng bất cứ zero-sum game nào có n người chơi thì đều được quy về một trò chơi chỉ có hai người tham gia, hoặc có thể chuyển thành trò chơi cho n+1 người, trong đó n+1 người chơi này đại diện cho tổng lợi ích hoặc thiệt hại. Điều này có nghĩa là các zero-sum game cho hai người chơi chính là yếu tố cốt lõi của lý thuyết trò chơi mang tính toán học này. Có rất nhiều các tình huống kinh tế trong đó tổng lợi ích hay thiệt hại của các bên không phải là một hằng số bởi vì sẽ có những hàng hóa dịch vụ có giá trị được tạo ra, mất đi, hoặc phân bổ không hiệu quả, chính điều này sẽ tạo ra lợi ích hay thiệt hại. Giả định rằng các bên tham gia trao đổi thương mại đều hành động dựa trên lý trí, sẽ không có sự trao đổi thương mại nào là zero-sum vì mỗi bên sẽ phải cân nhắc lựa chọn loại hàng hóa mà anh ta nhận về sao cho nó có giá trị đối với anh ta hơn là hàng hóa mà anh ta cho đi (Xem thêm lợi thế so sánh) và trao đổi với bất cứ giá nào không phải là điều khôn ngoan.

Garbatrage, Rumortrage / Đầu Cơ Theo Tin Đồn Sáp Nhập

Garbatrage, hay Rumortrage là những từ ghép gồm từ rumor, garbage - "tin đồn", "tin rác", và abitrage - "kinh doanh chênh lệch giá". Thuật ngữ này mô tả những hành vi xảy ra xung quanh một vụ thâu tóm lớn và chủ yếu xuất phát từ yếu tố tâm lý. Đầu cơ theo tin đồn sáp nhập là hiện tượng giá và khối lượng giao dịch của cổ phiếu tăng mạnh trong một ngành cụ thể của nền kinh tế, xuất phát từ những thay đổi về kỳ vọng của các nhà đầu tư đối với ngành này do kết quả của một vụ sáp nhập gần đây giữa hai công ty chủ chốt trong ngành. Ví dụ: khi hai công ty hàng đầu trong ngành giải trí là Time, Inc. và Warner Communication, Inc. sáp nhập năm 1989, cổ phiếu của các công ty không có liên quan nhiều đến ngành giải trí cũng trở nên sôi động khác thường, đó chính là do hiện tượng đầu cơ theo tin đồn sáp nhập. Thuật ngữ này được sử dụng khi các nhà đầu tư tăng khối lượng giao dịch với các cổ phiếu của các công ty không có liên quan trực tiếp đến vụ sáp nhập này. Các tay đầu cơ "cảm thấy" vụ sáp nhập ban đầu là một tín hiệu báo trước sẽ có thêm nhiều vụ sáp nhập nữa trong ngành, chứ họ không có một căn cứ xác đáng nào cả. Thuật ngữ này không áp dụng với những giao dịch có liên quan trực tiếp đến vụ sáp nhâp. Vẫn theo ví dụ trên, việc Time và Warner sáp nhập có thể khiến nhiều người đánh giá rằng cùng với sự lớn mạnh của Time - Warner, sẽ còn nhiều vụ sáp nhập nữa trong ngành, vì vậy việc giá cổ phiếu của các công ty khác cùng trong ngành giải trí tăng lên không phải là thiếu căn cứ. Khi đó, hiện tượng này lại không được coi là Garbatrage. Những người khởi xướng ra lý thuyết tài chính hành vi nhìn nhận hiện tượng này như một bằng chứng củng cố cho lý thuyết của họ.

Gap Analysis / Phân Tích Lỗ Hổng

Đây là kỹ thuật để xác định các bước để được thực hiện trong việc di chuyển từ trạng thái hiện thời tới một trạng thái mong muốn, trong tương lai. Nó bắt đầu với 1. Danh sách các yếu tố đặc trưng (như các thuộc tính, năng lực, hiệu suất) của tình hình hiện nay ("what is"), 2. Qua danh sách các yếu tố cần thiết để đạt được các mục tiêu trong tương lai ("what should be"), và sau đó 3. Nêu bật những lỗ hổng tồn tại và cần phải được "lấp đầy". Còn được gọi là nhu cầu khoảng cách phân tích, nhu cầu phân tích và đánh giá nhu cầu.

Zero Coupon Bonds / Trái phiếu không trái tức

Trái phiếu zero coupon là loại trái phiếu mà người nắm giữ nó không được trả lãi (coupon) định kì, thay vào đó trái phiếu lãi suất 0 được bán ở mức giá chiết khấu. Ví dụ: Một trái phiếu thường có mệnh giá $10,000, với lãi suất 10% trong vòng 10 năm sẽ được bán với giá $10000, mỗi năm người cầm giữ trái phiếu này có thể được thanh toán số tiền lãi $1000. Khi hết thời hạn 10 năm anh ta sẽ thu hồi lại số tiền gốc $10000 của mình. Với trái phiếu lãi suất 0 có mệnh giá $10000 có thời hạn 10 năm giá bán sẽ được khấu trừ ngược còn 4000$. Tính ra lãi suất của loại trái phiếu này đạt 150% trong 10 năm, nhưng lại không được trả lãi định kì. Người nắm giữ trái phiếu zero coupon này chỉ được thanh toán một lần, một số tiền xác định, vào một thời điểm xác định trong tương lai. Một số loại trái phiếu zero coupon được điều chỉnh theo lạm phát, nói cách khác số tiền được thanh toán trong tương lai sẽ có sức mua tương đương với sức mua của mệnh giá trái phiếu. Giả dụ với loại trái phiếu trên, nếu tốc độ lạm phát trong 10 năm là 20% thì đến hạn người năm giữ trái phiếu sẽ được thanh toán $12,000. Tuy nhiên trái phiếu loại điều chỉnh theo lạm phát như trên rất hiếm, đại đa số trái phiếu lãi suất 0 được thanh toán theo mệnh giá. Do được thanh toán theo mệnh giá cố định nên giá của trái phiếu lãi suất 0 chỉ phụ thuộc vào thời hạn thanh toán của nó, càng gần thời hạn thanh toán giá trái phiếu zero coupon càng cao. Trái phiếu zero coupon ngắn hạn thường có thời hạn thanh toán dưới một năm và được gọi là "tín phiếu". Tín phiếu Kho bạc Mỹ là loại trái phiếu năng động nhất và có tính thanh khoản cao nhất thế giới. Các quĩ hưu trí và các công ty bảo hiểm rất ưa chuộng loại trái phiếu zero coupon có thời hạn dài bởi vì thời hạn dài đồng nghĩa với việc giá những trái phiếu đó sẽ đặc biệt nhạy cảm với những thay đổi về lãi suất trên thị trường, và do đó có thể bù trừ được rủi ro lãi suất cho những khoản vay dài hạn của các hãng này. Các nhà đầu tư tài chính và các chuyên gia còn sử dụng trái phiếu zero coupon để phân tích một cách chính xác đường lợi suất. Loại trái phiếu này là sự kết hợp ảnh hưởng của những dòng tiền khác nhau trong tương lai và ảnh hưởng của lãi suất. Bằng cách giới hạn các dòng tiền trong một số tiền thanh toán xác định, trái phiếu zero coupon giúp các nhà phân tích tách rời ảnh hưởng của riêng lãi suất đối với mỗi quãng thời gian khác nhau. Ví dụ: có thể sử dụng trái phiếu zero coupon trong phân tích giá hợp đồng hoán đổi. Một chứng khoán nợ không trả trái tức nhưng được giao dịch với chiết khấu lớn, chỉ thanh toán lợi nhuận khi đáo hạn. Khi đó, trái phiếu được mua lại bằng đúng mệnh giá ghi trên trái phiếu. Cũng được biết đến với tên gọi "trái phiếu dồn tích". Một số trái phiếu không trái tức được phát hành như trên, trong khi số khác là những trái phiếu khác bị các tổ chức tài chính tước đi toàn bộ phần trái tức và nhóm lại thành các trái phiếu không trái tức. Bởi toàn bộ thanh toán chỉ được thực hiện khi đáo hạn, trái phiếu không trái tức có xu hướng biến động giá nhiều hơn so với trái phiếu có trái tức.

Zero Cost Collar / Cân Bằng Không Chi Phí

Là một giao dịch mà chỉ rất ít hoặc không có chi phí hay kinh phí đối với người thực hiện. Thông thường khi nắm giữ chứng khoán người ta thường bảo vệ nó thông qua giao dịch phòng vệ. Ví dụ: một giao dịch mua một quyền chọn bán dưới giá lỗ và bán một quyền chọn mua dưới giá lãi. Khoản chênh lệch thu được từ hai quyền chọn này gần như giống nhau. Vì vậy người thực hiện phòng hộ này sẽ tiếp nhận rất ít hoặc không có chi phí. Tuy nhiên, vị thế này có sự suy tính cho lợi nhuận tiềm tàng của việc nắm giữ tài sản cơ sở. Tất nhiên, việc phòng hộ này chỉ có hiệu nghiệm khi giá công cụ cơ sở xuống dưới mức giá thực hiện của quyền chọn bán. Còn được gọi là : "zero cost options" hay "equity risk reversals".

Game Theory Example: Prisoner's Dilemma / Sự Lưỡng Lự Của Tù Nhân

Sự lưỡng lự của tù nhân là một ví dụ điển hình của lí thuyết trò chơi. Có tù nhân A và tùy nhân B. Hai tù nhân này đã giao kèo với nhau là sẽ không tiết lộ bí mật. Defect là phá giao kèo, Cooperative là giữ đúng giao kèo. Tam giác ở trên là điểm của tù nhân B, tam giác ở dưới là điểm của tù nhân A. Hai tù nhân bị cách li với nhau và hoàn toàn không có khả năng liên lạc với nhau. Có các tình huống sau xảy ra: Nếu tù nhân A phá và tù nhân B đều giữ đúng giao kèo, điểm cho mỗi tù nhân sẽ là 3 - 3, như thế cả hai tù nhân sẽ nhận được bản án thấp nhất, vì cảnh sát không có đủ bằng chứng để buộc tội (tình huống này gọi là win-win). Nếu tù nhân A phá vỡ giao kèo và thú tội với cảnh sát, còn tù nhân B vẫn giữ đúng giao kèo và không chịu nhận tội, tù nhân A sẽ có 4 điểm, và được thả tự do; còn tù nhân B sẽ bị 1 điểm và bị bản án cao nhất. (tình huống win-lose) Trường hợp ngược lại nếu A giữ đúng giao kèo, B phá giao kèo. (win-lose) Trường hợp cuối cùng là cả A và B đều phá vỡ giao kèo, thú tội với cảnh sát, như thế cả 2 tù nhân sẽ bị nhận bản áo cao nhất (lose-lose) Đây là lí thuyết trò chơi rất điển hình, cả hai đều bị thôi thúc bởi sự tự do nên dẫn đến các quyết định khác nhau, chính vì vậy câu hỏi về "niềm tin" rằng bên kia sẽ không thú tội là điểm mấu chốt của trò chơi này.

Zellner-Giesel / Quy Ước Zellner-Giesel

Một phương pháp được thiết kế đặc biệt cho ước lượng nhất quán các thông số của phương trình trễ phân phối sau khi biến đổi KOYCH mà có tính đến thực tế là biến đổi đó có thể đưa vào tương quan chuỗi của thành phần nhiễu.

CPA / Kế Toán Có Chứng Chỉ Hành Nghề Tiêu Chuẩn

Là một người đã được cấp giấy phép xác nhận rằng người đó đã qua được các kì kiểm tra sát hạch và chứng minh là đạt được trình độ kỹ năng, huấn luyện, và cả kinh nghiệm rất cao. Ngoài việc đã trải qua một kì kiểm tra kỹ năng kế toán, một ứng cử viên phải đạt được mức độ kinh nghiệm trong kinh doanh rất nhuần nhuyễn, có học vấn, và đạo đức nghề nghiệp để có thể đạt được mức tiêu chuẩn. CPA là chữ viết tắt của Certified Public Accountant: Gọi là Kế toán được chứng nhận đủ tiêu chuẩn hành nghề. Việc hành nghề kế toán yêu cầu phải được huấn luyện rất kĩ lưỡng và trình độ kỹ thuật rất cao, đến mức có thể ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội. Chính phủ có thể hoàn toàn quản lý được nghề này bằng cách giám sát hệ thống giấy phép hành nghề giành cho kế toán. Ở một vài Bang của Mỹ, chính quyền không cho phép hành nghề kế toán nếu không có Chứng chỉ CPA, nhưng một số bang khác sử dụng chứng chỉ để phân biệt trình độ kỹ năng cao hơn của các kế toán có chứng chỉ CPA so với những kế toán được phép hành nghề kế toán công cộng. Tất cả các bang đều giới hạn số lượng những người được phép cấp chứng chỉ CPA.

Gains From Trade / Lợi Ích Của Thương Mại

Phúc lợi tăng lên của nền kinh tế thế giới nói chung hay đối với một nước riêng, tuỳ thuộc vào quan điểm, do kết quả của việc tham gia vào thương mại quốc tế.

Covered Interest Parity / Mức Lãi Xuất Qui Ngang; Ngang Giá Lãi Suất

Trong một CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI LINH HOẠT, đó là khi mức lãi suất ở hai nước được làm cân bằng nhờ một tỷ lệ chiết khấu hợp lý hoặc một khoản phí đối với tỷ giá hối đoái dài hạn. Xem FORWARD RATE.

Trong một CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI LINH HOẠT, đó là khi mức lãi suất ở hai nước được làm cân bằng nhờ một tỷ lệ chiết khấu hợp lý hoặc một khoản phí đối với tỷ giá hối đoái dài hạn. Xem FORWARD RATE.

Covered Bond / Trái Phiếu Có Bảo Đảm

Trái phiếu có bảo đảm là các chứng khoán nợ được bảo đảm bằng các luồng tiền từ những tổ chức cung cấp khoản cho vay thế chấp hoặc từ các khoản vay công chúng khác. Những trái phiếu này có đặc điểm tương đồng với các chứng khoán bảo đảm bằng tài sản được tạo ra trong quá trình chứng khoán hóa một tổ chức, tuy nhiên các trái phiếu có bảo đảm tài sản vẫn nằm trong bảng cân đối kế toán của tổ chức phát hành.Về bản chất, trái phiếu được bảo đảm là các trái phiếu doanh nghiệp nhưng có thêm một cải tiến: trách nhiệm bồi hoàn được quy về một lượng tài sản hoặc có thể bảo đảm cho trái phiếu nếu tổ chức phát hành (thường là các tổ chức tài chính) bị phá sản. Công cụ này thường được áp dụng nhiều ở Đức với tên gọi là Pfandbrief, được sử dụng từ năm 1769.

Covariance / Hiệp Phương Sai

Thước đo mức độ tương quan của 2 biến. Xem VARIANCE-COVARIANCE MATRIX.

Cournot's Duopoly Model / Mô Hình Lưỡng Độc Quyền Cournot

Mô hình này dựa trên giả thiết hành vi cho rằng một trong hai hãng sẽ tối đa hoá lợi nhuận nếu sản lượng của đối thủ cạnh tranh vẫn giữ mức giá không đổi. Xem PROFIT MAXIMIZATION, BERTRAND'S DUOPOLY MODEL, STACKELBERG'S DUOPOLY MODEL.

Coupon Bond / Trái Phiếu Coupon

Một trái phiếu coupon thanh toán cho người sở hữu trái khoán đó một món tiền lãi cố định tiền thanh toán coupon hàng năm cho đến ngày đáo hạn là lúc mà khoản tiền sau cùng đã định được trả lại (mệnh giá). Gọi là tiền coupon vì người giữ trái phiếu thường nhận được tiền thanh toán coupon bằng các cắt một coupon khỏi trái phiếu và gửi nó tới người thanh toán trái phiếu, người này sẽ gửi tiền trả cho người giữ trái phiếu đó. Coupon là một phiếu nhỏ trên đó ghi số lãi được nhận định kỳ của người nắm giữ trái phiếu. Thường coupon được thanh toán hàng năm, nhưng cũng có thể theo kỳ hạn ngắn hơn, ví dụ 6 tháng. Một trái phiếu coupon có thể phân biệt theo 3 đặc điểm. Thứ nhất là công ty hoặc cơ quan chính phủ phát hành trái phiếu. Thứ hai là ngày mãn hạn của trái phiếu. Thứ 3 là lãi suất coupon (coupon rate) tức là tiền thanh toán coupon hàng năm được biểu thị theo phần trăm mệnh giá của trái khoán. Trái phiếu coupon là tương phản rõ nét nhất với trái phiếu không coupon lãi (zero-coupon).

Coupon (Bond) / Trái Tức

Trái tức là tiền lãi công bố đối với các loại trái phiếu khi nó được phát hành. Thông thường trái tức được thanh toán theo định kỳ 6 tháng. Trái tức thường được thể hiện dưới dạng tỉ suất trái tức, giống như lãi suất cho vay. Ví dụ: một trái phiếu $1000 với tỉ suất trái tức 7% sẽ nhận được $70 mỗi năm.  Từ "coupon", nghĩa nguyên gốc là "cuống phiếu", vì vào thời kỳ đầu, trái phiếu phát hành ra thường có các cuống phiếu kèm theo tương ứng với kì trả trái tức. Những người nắm trái phiếu có thể xé cái cuống phiếu ấy ra để đi đổi lấy tiền lãi. Vì vậy mới xuất hiện một cụm từ "coupon clipper" - người cắt cuống phiếu - chỉ những người sở hữu trái phiếu. Ngày nay thì phương pháp này đã không còn được sử dụng, thay vào đó là các bản ghi điện tử. Trên tờ trái phiếu Mecca Tempe kì hạn 20 năm phát hành năm 1944 có đến 40 chiếc cuống phiếu. Với tỉ suất trái tức 5%/năm, mỗi tờ cuống phiếu ấy có giá trị $2.5 vào ngày đáo hạn in trên đó. Tuy nhiên, những tờ cuống phiếu này chưa bao giờ được cắt ra khỏi tờ trái phiếu vì công ty phát hành đã bị vỡ nợ trong cuộc Đại suy thoái. Tòa nhà được xây dựng từ số tiền huy động bị thành phố New York tịch thu để bù vào tiền thuế, và được đặt lại tên là Tòa nhà Trung tâm Thành phố New York. Những tờ cuống phiếu này ngày nay không còn chút giá trị gì về mặt kinh tế nhưng hay được sử dụng mang tính biểu trưng trong các tranh ảnh liên quan đến chứng khoán. Người cầm giữ trái phiếu, tuy không phải lúc nào cũng là người cho vay chính thức nhưng lại là chủ nợ thực tế xét trên quan điểm anh ta phải bỏ tiền ra để có trái phiếu đó. Trái tức chính là phần bù đắp cho việc anh ta cho người khác sử dụng số tiền của mình. Vì vậy trái tức luôn luôn tồn tại và gắn liền với trái phiếu. Tuy nhiên, không phải loại trái tức nào cũng thể hiện rõ ràng như một khoản tiền nhận được định kì. Trong trường hợp trái phiếu zero coupon, trái tức lại tồn tại dưới dạng ẩn. Thay vì được chi trả trái tức định kỳ, người mua trái phiếu zero coupon sẽ được hưởng một mức giá chiết khấu thấp hơn mệnh giá. Phần chênh lệch ấy chính là trái tức chi trả cho người nắm trái phiếu khi đáo hạn.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55