Consumption Tax / Thuế Tiêu Dùng
Thuế này có thể có hai dạng: một là, khi bản thân người tiêu dùng bị đánh thuế như với THUẾ CHI TIÊU và hai là, khi hàng hoá và dịch vụ người tiêu dùng mua bị đánh thuế. Trong trường hợp đầu thuế được đánh vào hãng cung cấp dịch vụ hay hàng hoá.
Consumption Function / Hàm Tiêu Dùng
Đây là một đồ thị chi tiết hóa về quan hệ giữa tổng chi tiêu tiêu dùng và thu nhập (C = C(Y)). Chi tiêu tiêu dùng có thể liên quan tới thu nhập quốc dân hay thu nhập khả dụng. Mối quan hệ hàm này là một trong những nền tảng của trường phái Keynes vì tiêu dùng là thành phần quan trọng nhất của tổng chi tiêu ở hầu hết các nước phát triển. Những phát hiện ban đầu của Keynes được biết đến như Giả thuyết thu nhập tuyệt đối, nhưng những tìm tòi gần đây đã giải thích tổng chi tiêu tiêu dùng theo thu nhập tương đối.Có những quan điểm khá mâu thuẫn về dạng của hàm tiêu dùng. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy hàm tiêu dùng ngắn hạn và hàm tiêu dùng chéo xác nhận giả thuyết của Keynes là đúng. Ngược lại, bằng chứng về hàm tiêu dùng dài hạn cho thấy một dạng khác. Trong thực tế, việc đo tiêu dùng một cách chính xác là rất khó, hàng hóa lâu bền cung cấp những lợi ích sau khi mua và những lợi ích này cần được tính vào tiêu dùng. Hơn nữa, các biến C và Y có thể được đo bằng nhiều đồng tiền hiện hành hoặc có thể được giảm phát theo chỉ số giá tiêu dùng CPI để chuyển hóa thành các giá trị thực tế.
Consumption Expenditure / Chi Tiêu Tiêu Dùng
Tổng chi tiêu vào hàng hoá và dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu hiện tại (Xem CONSUMPTION).
Consumption / Sự Tiêu Dùng
Hành động sử dụng hàng hoá và dịch vụ để thoả mãn nhu cầu hiện tại.
Consumerism / Chủ Nghĩa Trọng Tiêu Dùng
Từ từ gốc "consumer" kết hợp với "ism", thuật ngữ "consumerism" đã ra đời để chỉ chủ nghĩa trọng tiêu dùng. Trong lĩnh vực kinh tế học, thuật ngữ Chủ nghĩa trọng tiêu dùng thường để chỉ các chính sách kinh tế coi trọng việc tiêu dùng, từ đó cho thấy rằng chính sự lựa chọn tự do của người tiêu dùng sẽ quyết định cấu trúc kinh tế của xã hội. Chủ nghĩa trọng tiêu dùng đi sâu vào nghiên cứu người tiêu dùng cũng như các tập tính của họ. Những bản báo cáo này trở thành nguồn tài liệu được tìm đọc rất nhiều từ Chính phủ, cho tới thị trường chứng khoán hay các nhà kinh tế và giới đầu tư. Với sự vận hành của nền kinh tế, khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thì phát triển ngành dịch vụ hướng tới người tiêu dùng là một quá trình quan trọng và tất yếu.
Consumer Surplus / Thặng Dư Tiêu Dùng
Thặng dư tiêu dùng là khoảng nằm dưới đường cầu của một cá nhân giữa hai mức giá. Nó là thước đo bằng tiền tệ mặc dù được biểu thị ở dạng thặng dư thỏa dụng. Nó là thước đo về lợi ích của một người tiêu dùng trừ đi sự hy sinh mà người tiêu dùng đó phải có để có thể mua một hàng hóa ở mức giá nào đó. Nó được dùng rộng rãi trong phân tích chi phí - lợi ích và các lĩnh vực khác của kinh tế học như thước đo gần đúng về sự thay đổi phúc lợi, đặc biệt trong mức thay đổi bù đắp và mức thay đổi tương đương. Mức thay đổi bù đắp là mức thu nhập tối đa có thể lấy đi từ một người nào đó được lợi do một thay đổi cụ thể mà không để anh ta phải thiệt thòi hơn trước khi có thay đổi đó. Mức thay đổi đền bù của người bị thiệt hại do sự thay đổi là lượng tối thiểu anh ta yêu cầu để được như trước khi thay đổi đó diễn ra. Mức thay đổi tương đương là lượng tối thiểu mà một người được lợi từ một thay đổi nào đó sẽ sẵn sàng chấp nhận từ bỏ sự thay đổi đó. Mức thay đổi tương ứng của một người bị thiệt hại do thay đổi nào đó là lượng tối đa mà họ sẵn sàng trả để ngăn chặn thay đổi đó.
Consumer Sovereignty / Quyền Tối Thượng Của Người Tiêu Dùng; Chủ Quyền Của Người Tiêu Dùng
Ý tưởng cho rằng NGƯỜI TIÊU DÙNG là quan toà tốt nhất đối với bản thân họ.
Consumer Price Index (CPI) / Chỉ Số Giá Tiêu Dùng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo lường thay đổi chi phí của một giỏ hàng hoá và dịch vụ cố định, thường gồm các lĩnh vực nhà ở, điện, thực phẩm và giao thông. CPI thường được dùng như dấu hiệu đo lường lạm phát và tính hàng tháng. Kể từ tháng 5/2006, Chỉ số giá tiêu dùng do Tổng cục Thống kê công bố được tính theo phương án đã cập nhật và dùng cho giai đoạn 2006-2010. Phương án mới có một số cải tiến: 1. Năm gốc so sánh của Chỉ số giá tiêu dùng trong giai đoạn 2006-2010 là năm 2005 (thay cho gốc so sánh 2000). 2. Danh mục hàng hoá, dịch vụ (còn gọi là “rổ hàng hoá”) điều tra giá để tính chỉ số đã được cập nhật, gồm 494 loại hàng hoá, dịch vụ phổ biến tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình trong giai đoạn hiện tại. So với “rổ hàng hoá” thời kỳ 2000-2005, số lượng các loại hàng hoá dịch vụ tăng gần 100 mặt hàng, trong đó bổ sung thêm nhiều loại hàng hoá dịch vụ cao cấp, đã được tiêu dùng nhiều như điện thoại di động, máy xay sinh tố, lò vi sóng, phí truyền hình cáp, dịch vụ du lịch nước ngoài…. 3. Quyền số để tính chỉ số đã được cập nhật trên cở sở kết quả điều tra Khảo sát mức sống dân cư 2004 và điều tra bổ sung tại 10 tỉnh, thành phố năm 2005 của Tổng cục Thống kê.
Chỉ Số Giá Tiêu Dùng (Consumer Price Index (CPI)) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Chỉ Số Giá Tiêu Dùng (Consumer Price Index (CPI)) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Consumer Goods And Services / Hàng Và Dịch Vụ Tiêu Dùng
HÀNG HOÁ hữu hình và vô hình được tiêu dùng theo lợi ích của bản thân để thoả mãn những nhu cầu hiện tại.
Consumer Equilibrium / Cân Bằng Tiêu Dùng
Tình huống mà người tiêu dùng tối đa hoá ĐỘ THOẢ DỤNG của mình theo RÀNG BUỘC NGÂN SÁCH.
Consumer Durable / Hàng Tiêu Dùng Lâu Bền
Là bất cứ hàng tiêu dùng nào có "tuổi thọ dài", do đó không được tiêu dùng ngay lập tức (như thức ăn).
Consumer Demand Theory / Lý Thuyết Cầu Tiêu Dùng
Lĩnh vực của môn kinh tế học xác định những lý thuyết có thể kiểm nghiệm về cách người tiêu dùng phản ứng lại với những thay đổi trong các biến như giá cả, các giá khác, thay đổi về thu nhập…
Consumer Credit / Tín Dụng Của Người Tiêu Dùng (Như Mua Chịu, Mua Trả Dần)
Consumer Credit là tín dụng được mở rộng cho các cá nhân hay hộ gia đình sử dụng, thay vì kinh doanh. Theo định nghĩa rộng, tín dụng của người tiêu dùng bao gồm tất cả hình thức tín dụng trả góp ngoài các khoản vay được bảo đảm bởi bất động sản (cầm cố nhà cửa, chẳng hạn) cộng với tín dụng mở rộng như thẻ tín dụng. Tuy nhiên, các hình thức tín dụng mới, đã xóa nhòa những ranh giới này; mức tín dụng mua nhà là mức tín dụng tuần hoàn được đảm bảo bởi bất động sản - một quyền giữ thế chấp đối với nhà của người cho vay. Nhiều hình thức truyền thống khác của tín dụng người tiêu dùng. như tiền vay mua ô tô, có các hình thức thanh toán hàng tháng tiêu chuẩn - lịch trả nợ cố định trong một năm đến năm năm hoặc hơn - được trả theo lãi suất cố định hoặc lãi suất thau đổi dựa trên một chỉ số. Khoản vay tiêu dùng đáp ứng sự đa dạng nhu cầu: tài trợ việc mua xe hơi hay sản phầm gia dụng, nâng cấp nhà, hợp nhất nợ... Những khoản vay này có thể không được hay được đảm bảo bởi việc chuyển quyền sở hữu, như trong khoản vay mua hơi, hay tiền tại tài khoản của ngân hàng. Nợ của người tiêu dùng được giám soát bởi Ủy ban Dự trữ Liên bang và là một trong những chỉ số hàng đầu về sự tăng trưởng kinh tế. Xem AMORTIZTION SCHEDULE; CLOSE - END CREDIT; HOME EQUITY CREDIT; RULE OF THE 78'S; REGULATION B; REGULATION Z; SIMPLE INTEREST.
Consumer / Người Tiêu Dùng
Bất cứ đơn vị kinh tế nào có nhu cầu tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ cuối cùng.
Construction Financing / Tài Trợ Xây Dựng Tạm Thời
Tài trợ xây dựng tạm thời là loại cho vay ngắn hạn của các ngân hàng thương mại đối với các công ty xây dựng để thi công các công trình xây dựng. Nguồn vốn để xây dựng các công trình như nhà ở, chung cư, cao ốc...cho bên chủ đầu tư là nguồn vốn chủ sở hữu hoặc nguồn vốn tài trợ dài hạn từ các định chế tài chính. Các nguồn vốn này chỉ được thanh toán cho bên xây dựng ( thi công) khi đã hoàn thành toàn bộ công trình hoặc từng hạn mức công trình theo thỏa thuận hợp đồng nhận thầu. Vì vậy trong quá trình thi công bên xây dựng phải bỏ chi phí để thuê nhân công, thuê thiết bị xây dựng, mua nguyên vật liệu....Nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu đó là vốn của công ty xây dựng, một phần ứng trước của chủ đầu tư và phần còn lại do các ngân hàng thương mại tài trợ. Loại cho vay này có đặc điểm sau : - Việc xét duyệt cho vay chủ yếu dựa trên cơ sở từng hợp đồng nhận thầu và tiền vay được cung cấp để thuê nhân công, thiết bị và mua vật tư, nguyên liệu dùng để thi công công trình theo hợp đồng nhận thầu xin vay. - Loại cho vay này được đảm bảo bằng khoản phải thu từ bên chủ đầu tư theo hợp đồng nhận thầu. - Kỳ hạn nợ được xác định trên cơ sở kế hoạch thi công theo hợp đồng nhận thầu. Nguồn thu nợ là tiền thanh toán của chủ đầu tư, có thể là vốn chủ sở hữu, hoặc nguồn tài trợ dài hạn của các định chế tài chính.
Constraint / Rằng Buộc
Thường là một mối quan hệ toán học giữa CÁC BIẾN LỰA CHỌN của một bài toán tối ưu hoá; trong đó một hàm nào đó của biến (ví dụ HÀM TUYẾN TÍNH) không bằng một hằng số.
Constestable Market / Thị Trường Có Thể Cạnh Tranh Được
Một THỊ TRƯỜNG trong đó có sự tự do nhập thị, sự gia nhập và rút lui không mất chi phí.
Constant Market Share Demand Curve / Đường Cầu Với Thị Phần Bất Biến
Mối quan hệ giữa lượng bán và giá mà hãng phải đối mặt nếu tất cả các đối thủ cạnh tranh của nó thích ứng với bất cứ sự thay đổi về giá nào do hãng này đưa ra.(Xem ELASTICITY)
Constant Elasticity Of Substitution (CES) Production Function / Hàm Sản Xuất Với Độ Co Giãn Thay Thế Không Đổi
Hàm sản xuất CES là một hàm sản xuất ĐỒNG NHẤT TUYẾN TÍNH có độ co giãn thay thế đầu vào không đổi.
Constant Capital / Tư Bản Bất Biến
Theo học thuyết của C.Mác, tư bản bất biến là một phần của TƯ BẢN được thể hiện bằng phương tiên sản xuất, nguyên liệu thô và công cụ lao động. Xem VARIABLE CAPITAL.






