Economic Rent / Tiền Thuê Kinh Tế, Tô Kinh Tế, Đặc Lợi Kinh Tế
Khoản tri trả cho một yếu tố sản xuất vượt mức cần thiết để giữ yếu tố đó ở mức sử dụng hiện tại.
Economic Rent / Tô Kinh Tế
Là khoản tiền mà người chủ sở hữu của các yếu tố sản xuất phải nhận được để cho vay các yếu tố sản xuất ấy. Các yếu tố sản xuất bao gồm: lao động, vốn và đất đai. Ở khía cạnh lao động, đây là khoản tiền được dành lại cho cá nhân, là khoản tối thiểu mà cá nhân nhận được để có thể làm việc. Riêng khía cạnh vốn và đất đai, economic rent là khoản tiền cần thiết để cân bằng vốn khi cả nguồn đất đai và nguồn vốn được dùng cho bất cứ mục đích đã được đặt trước.
Economic Policy / Chính Sách Kinh Tế
Sự điều hành của nhà nước đối với nền kinh tế của một quốc gia.
Phát biểu các mục tiêu và các phương pháp đạt các mục tiêu này (công cụ chính sách) của chính phủ, đảng chính trị, giới doanh nghiệp… Một số thí dụ về mục tiêu kinh tế của chính phủ là: duy trì sự toàn dụng, đạt tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao, giảm bất bình đẳng thu nhập và bất bình đẳng phát triển vùng, và duy trì ổn định giá. Các công cụ chính sách bao gồm chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và tài chính, các kiểm soát của luật pháp (kiểm soát giá và lương, kiểm soát trục lợi)Corner Solution / Đáp Số Góc
Trong bài toán tối ưu, một tình thế mà một hoặc hơn các biến LỰA CHỌN có giá trị bằng 0 tại mức TỐI ƯU.
Economic Planning / Hoạch Định Kinh Tế
Sự phối hợp một các có tổ chức các hoạt động kinh tế.
Nỗ lực (có chủ ý và ý kiến) của chính phủ trong việc hình thành các quyết định về cách thức phân bổ các nhân tố sản xuất cho các nhu cầu sử dụng hay các ngành công nghiệp, từ đó xác định sẽ sản xuất hàng hoá và dịch vụ bao nhiêu trong một hay nhiều thời kỳ
Core Values / Giá Trị Cốt Lõi
Một số định nghĩa về giá trị cốt lõi. Định nghĩa 1:Các giá trị cốt lõi là tất cả những gì được công ty coi là không thể trả bằng tiền hay không thể thay đổi. Các giá trị cốt lõi tạo ra một nền tảng để hình thành nên nội quy của công ty. Định nghĩa 2:- Là một hệ thống niềm tin ảnh hưởng tới cách cư xử giữa con người với con người hay giữa các nhóm người với nhau;- Những giá trị cốt lõi là "linh hồn" của tổ chức;- Là những giá trị hiệu quả đã ăn sâu vào trong tổ chức- Giá trị cốt lõi giúp hình thành nên tâm lý tổ chức từ đó nó có thể ủng hộ hay loại bỏ tâm lí cá nhân. Đinh nghĩa 3:Các giá trị cốt lõi là những quy tắc hướng dẫn thiết yếu và lâu dài:- Giúp định hướng những quyết định và hành động của một tổ chức;- Không phải là những hành động mang tính văn hoá hay hoạt động cụ thể;- Không được xây dựng nên vì mục tiêu tài chính hoặc những cơ lợi trong ngắn hạn;- Tổ chức sẽ mong muốn giữ lại giá trị cốt lõi thậm chí ngay cả khi nhiệm vụ đã thay đổi. Đinh nghĩa 4:Là những nguyên lí thiết yếu và mang tính lâu dài của một tổ chức - tập hợp các quy tắc hướng dẫn rất nhỏ có ảnh hưởng sâu sắc tới cách mà mọi người trong tổ chức suy nghĩ và hành động. Giá trị cốt lõi không quan tâm đến dư luận, nó có giá trị thực chất và có tầm quan trọng rất lớn đối với những người ở bên trong tổ chức. Giá trị cốt lõi là một số rất hiếm những quy tắc hướng dẫn có khả năng ảnh hưởng vô cùng lớn, là linh hồn của tổ chức; đó là những giá trị làm nhiệm vụ hướng dẫn tất cả các hành động. Giá trị cốt lõi rất có chiều sâu. Và đó là những giá trị cực kì quan trọng. Các giá trị này rất ít khi thay đổi theo sự thay đổi của thị trường. Mặt khác, thường thì các tổ chức sẽ thay đổi thị trường nếu cần thiết để duy trì các giá trị cốt lõi thực tế của tổ chức mình. Ví dụ: Giá trị cốt lõi của Phillips plastics Corporation:+ Tất cả mọi người đều quan trọng+ Mọi người cùng làm việc sẽ đạt đượt thành quả cao hơn. KRM:+ Làm việc theo đạo lý+ Làm việc công bằng+ Tỏ ra tôn trọng Johnson & Johnson+ Công ty tồn tại để làm dịu bớt nỗi đau và bệnh tật+ "Chúng tôi có một hệ thống cấp bậc trách nhiệm: khách hàng là trên hết, nhân viên đứng thứ hai, toàn xã hội đứng thứ bai, và cổ đông đứng thứ tư"+ Cơ hội hội và phần thưởng cho các cá nhân dựa trên sự xứng đáng+ Phi tập trung hoá = Sáng tạo = Năng suất
Economic Man / Con Người Kinh Tế
Tên đặt cho "vật được sáng tạo" trong kinh tế học, bằng cách đó, các cá nhân được giả định là cư sử như thể họ tối đa hoá độ thoả dụng, chịu chi phối bởi những ràng buộc, trong đó hiển nhiên nhất là thu nhập.
Core Inflation / Lạm Phát Cơ Bản
Lạm phát cơ bản là tỷ lệ lạm phát thể hiện sự thay đổi mức giá mang tính chất lâu dài mà loại bỏ những thay đổi mang tính tạm thời nên lạm phát cơ bản chính là lạm phát xuất phát từ nguyên nhân tiền tệ (hay chính lạm phát theo quan niệm của Friedman). Do đó không phải là CPI mà Lạm phát cơ bản là một công cụ đắc lực giúp Ngân hàng trung ương (NHTW) có con mắt đánh giá đúng đắn về lạm phát, qua đó mới có thể chỉ dẫn cho mục tiêu chính sách tiền tệ trong tương lai và một khi giá cả ổn định sẽ là tiền đề cho các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác ổn định và phát triển. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng các tác động của chính sách tiền tệ sau một độ trễ thời gian mới có hiệu lực, do đó sẽ là quá muộn nếu các NHTW đợi cho đến khi tỷ lệ Lạm phát cơ bản bắt đầu tăng thì mới bắt đầu cố gắng làm giảm sức ép lạm phát. Tùy vào các phương pháp đo lường khác nhau, các nước công nghiệp tiên tiến có phân biệt rõ ràng giữa tỷ lệ lạm phát được công bố rộng rãi theo thông lệ (thường là CPI, chỉ số giảm phát GDP) và tỷ lệ Lạm phát cơ bản (có thể công bố hoặc không công bố mà chỉ để sử dụng nội bộ tuỳ từng quốc gia). Điểm khác nhau giữa CPI, chỉ số giảm phát GDP và tỷ lệ Lạm phát cơ bản là CPI và chỉ số giảm phát GDP đều do tổng hợp tất cả các nhân tố tác động lên Mức giá, bao gồm cả sức ép về cầu, cung cùng với những trông chờ kỳ vọng vào tương lai; còn Lạm phát thực chất chính là tỷ lệ lạm phát đã được điều hoà theo các yếu tố sức ép bên cầu cùng với những trông chờ kỳ vọng vào tương lai và loại bỏ những biến động lớn gây sốc bên cung. Ví dụ đối với một số loại giá được coi là biến động lớn, khá ngẫu nhiên mà không theo bất kỳ một hướng nào như trường hợp của các loại lương thực thực phẩm biến động theo thời vụ và theo chất lượng mùa màng, sự gia tăng của giá dầu thô cũng thường xuyên chịu tác động bởi nhân tố tạm thời, chẳng hạn như thời tiết; những thay đổi về giá các mặt hàng do nhà nước quản lý, thay đổi các mức thuế gián thu,... Tất cả những cái đó chỉ gây ra thay đổi tạm thời mức giá và sẽ biến mất sau đó mà không đưa ra được xu hướng của lạm phát về cơ bản và lâu dài. Do những biến động này đều là những biến động nhất thời về giá cả và làm méo mó việc đo lường xu hướng lạm phát nên đều phải loại trừ. Trên thực tế, sẽ rất khó khăn trong việc xác định liệu những biến động về giá cả chỉ là tạm thời hay chúng kéo dài trong một thời gian lâu hơn. Chẳng hạn như giá cả dầu thô. Sự tăng giá của dầu thô ngoài sự biến động mùa vụ do thời tiết còn phụ thuộc chủ yếu vào nhu cầu trung hạn về dầu thô trên thị trường quốc tế và do đó lại phụ thuộc vào các nhân tố tăng trưởng kinh tế. Theo quan điểm của các nước nhập khẩu dầu, những thay đổi về tỷ giá của đồng bản tệ so với đồng USD cũng đóng một vai trò quan trọng đối với sự biến động giá dầu. Đối với các loại thực phẩm theo thời vụ lại có vấn đề là: Trong khi có những biến động lớn mang tính đột biến thì giá cả của các mặt hàng này vẫn theo xu hướng giá cả chung. Điều này đặc biệt quan trọng trong trường hợp nếu ta loại hẳn các loại giá cả này ra khỏi CPI thì sẽ loại bỏ cả phần biến động mang tính chất lâu dài của các nhóm này nên sẽ tách hẳn chúng khỏi xu hướng chung và do đó có thể sẽ làm thay đổi xu hướng. Chính vì vậy nếu loại bỏ hoàn toàn và thường xuyên các cấu phần giá cả nhiên liệu và lương thực thực phẩm thời vụ thì xu hướng lạm phát không bao giờ được phản ánh đầy đủ. Hơn nữa việc tách hẳn nhân tố tạm thời ra khỏi nhân tố lâu dài cũng rất khó khăn. Do đó, để khắc phục nhược điểm này nhiều NHTW đang tăng cường sử dụng mô hình hoá tỷ lệ lạm phát cơ bản ở nước mình theo hai cách chủ yếu: một là xác định các thành phần giá cả dễ biến động và quy định một quyền số thấp trong tính toán, như vậy những thông tin về loại giá cả này không hoàn toàn mất đi. Hai là chia tách sự biến động chỉ số giá cả tiêu dùng, hoặc các nhóm hàng hoá riêng lẻ cấu thành CPI thành những phần mang tính tạm thời và phần mang tính thường xuyên và lâu dài, trong đó phần có tính lâu dài sẽ biểu thị xu hướng lạm phát và tỉ lệ lạm phát khi đó sẽ được xác định tương ứng cho kỳ hạn dài hơn 1 năm.
Economic Liberialism / Chủ Nghĩa Tự Do Kinh Tế
Học thuyết ủng hộ khả năng sử dụng nhiều nhất các thị trường và các tác nhân cạnh tranh để điều phối hoạt động kinh tế.
Co-Ordinated Wage Policy / Chính Sách Tiền Lương Phối Hợp
Sự phối hợp giữa giới chủ và công đoàn để giải quyết lần lượt những đề nghị hay yêu cầu về lương của công đoàn.
Cooling Off Period / Giai Đoạn Lắng Dịu
Một giai đoạn trì hoãn được tiến hành hợp pháp trước khi hoạt động đình công có thể bắt đầu để giảm bớt căng thẳng hay làm lắng động cảm xúc và do đó nó được cho thời gian để đánh giá hợp lý hơn về vấn đề được tranh cãi.
Cook The Books / Xào Sổ Sách
Xào sổ sách là thuật ngữ được dùng để chỉ các hoạt động gian lận của các công ty hay tập đoàn, nhằm điều chỉnh các báo cáo tài chính để tạo thuận lợi, lợi nhuận cho mình. Trong thời gian vừa qua, chúng ta từng chứng kiến những scandal của các tập đoàn hùng mạnh như Enron, Worldcom - tất cả liên quan tới những báo cáo tài chính gian lận, họ đã có hành động xào sổ sách nhằm cải thiện số liệu tài chính. Khi hành động đó bị phanh phui thì cũng là lúc các công ty này đi tới phá sản. Đây là một bài học rất đắt cho các doanh nghiệp. Nó khiến cho các nhà đầu tư và quản lý giật mình bởi những hậu quả khó lường hết ẩn đằng sau những con số bóng bẩy, đẹp đẽ. Việt Nam cũng không là ngoại lệ, việc xào sổ sách cũng rất phổ biến và thường liên quan tới các vấn đề doanh thu, chi phí, hợp đồng thuê - mua...
Economic Development / Phát Triển Kinh Tế
Quá trình cải thiện mức sống và sự sung túc của dân chúng của các nước đang phát triển bằng cách tăng thu nhập trên đầu người.
Phát Triển Kinh Tế (Economic Development) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.
Economic Co-Operation Administration / Cơ Quan Hợp Tác Kinh Tế
Một cơ quan viện trợ kinh tế, thành lập năm 1948 do Đạo luật Trợ giúp nước ngoài của Mỹ, quản lý kế hoạch Marshall đối với việc phục hồi kinh tế Châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Economic Community / Cộng Đồng Kinh Tế
Một liên minh kinh tế giữa các nước có biểu thuế quan và chính sách thương mại chung đã dỡ bỏ các hạn chế đối với thương mại giữa các nước thành viên.
Liên minh kinh tế các quốc gia tìm cách phối kết các chính sách tài khoá và tiền tệ, như một bước hướng đến một đồng tiền chung. Điều này diễn ra ngoài việc duy trì một biểu thuế quan đối ngại chung, các chính sách thương mại tương tự và dỡ bỏ các ràng buộc về thương mại trong liên minh.
Cộng Đồng Kinh Tế (Economic Community) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.
Convex Function (Convexity) / Hàm Lồi (Tính Lồi)
Một hàm lồi so với gốc toạ độ, do đó, ĐẠO HÀM bậc hai của nó là dương.
Convertible Term Insurance / Bảo Hiểm Định Kỳ Chuyển Đổi Được
Một chính sách bảo hiểm trong đó doanh nghiệp bảo hiểm được yêu cầu cần thiết phải đổi mới chính sách trong một thời gian nhất định bất kể sự có sự thay đổi nào với sức khỏe của người được bảo hiểm hay không. Thỏa thuận này đòi hỏi phí bảo hiểm được trả đúng thời gian và người được bảo hiểm không có sự thay đổi nào trừ khi có sự thay đổi về phí bảo hiểm được thực hiện cho một loại bảo hiểm đặc biệt của người sử dụng loại bảo hiểm đó. Ngoài ra, điều này còn đảm bảo cho quyền tái bảo hiểm hoặc quyền chuyển đổi loại hình bảo hiểm hoặc đảm bảo việc bảo hiểm được thực hiện.
Convertible Security / Chứng Khoán Chuyển Đổi Được
Một loại chứng khoán, tức là một khiếu nợ đối với người phát hành, có thể chuyển đổi sang các loại khác trong đó có tiền mặt.
Convertible Securities / Chứng Khoán Chuyển Đổi
Chứng khoán có thể chuyển đổi - là những chứng khoán cho phép người nắm giữ nó, tùy theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định có thể đổi nó thành một chứng khoán khác.Những loại chứng khoán có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường phổ biến là: Cổ phiếu ưu đãi; Trái phiếu. Mục đích của việc phát hành và đầu tư vào chứng khoán chuyển đổi: Phát hành chứng khoán có thể chuyển đổi là nhằm huy động thêm vốn vào những thời điểm chưa thích hợp cho việc phát hành cổ phiếu thường. Việc phát hành chứng khoán có thể chuyển đổi cũng có thể nhằm mục đích tăng thêm tính hấp dẫn cho đợt phát hành, nhất là khi thị trường trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi đang xuống giá. Lợi ích của trái phiếu chuyển đổi: - Đối với bên phát hành: do việc người đầu tư sẽ được hưởng quyền chuyển đổi trái phiếu này ra cổ phiếu thường khi đến hạn, nên: Nếu là trái phiếu: bên phát hành sẽ bán trái phiếu ra với lãi suất thấp. Nếu là cổ phiếu ưu đãi : bên phát hành sẽ chào bán với giá cao. Khi các chứng khoán được chuyển đổi, nhà phát hành còn có lợi vì loại bỏ được các khoản cố định phải trả, đồng thời tăng thêm số lượng cổ đông của công ty, một chỉ báo có lợi cho danh tiếng của công ty. - Đối với người đầu tư: Chứng khoán có thể chuyển đổi có sức hấp dẫn ở chỗ chúng kết hợp được tính an toàn của trái phiếu (thu nhập cố định) với tính có thể đầu cơ của cổ phiếu thường. Chứng khoán có thể chuyển đổi cho phép nhà đầu tư có thể được bảo hiểm trước tình trạng lạm phát. Tuy nhiên, những lợi ích của việc thực hiện chuyển đổi tùy thuộc nhiều vào giá chuyển đổi, tỷ lệ chuyển đổi, và tương quan giá giữa công cụ có thể chuyển đổi với những công cụ mà chúng có thể chuyển đổi thành. Đó là những yếu tố thường không nằm trong tầm kiểm soát của người đầu tư. Ví dụ 1: một trái phiếu có mệnh giá là 1.000.000 đồng; nếu cứ 50.000 đồng được đổi lấy một cổ phần của cổ phiếu thường, thì giá chuyển đổi là 50.000 đồng; hệ số chuyển đổi là 1.000.000 đồng: 50.000 đồng = 20 (cổ phần). Ví dụ 2: Giả sử trái phiếu trên đang có giá là 1.045.000 đồng; được chuyển thành 100 cổ phần của một cổ phiếu thường. Giá tương đương chuyển đổi là 1.045.000 đồng:100 = 10.450 đồng. Điều đó có nghĩa là giá trị trường của cổ phiếu ít nhất phải bằng 10.045 đồng thì việc nắm giữ trái phiếu và chuyển đổi nó thành cổ phiếu mới được coi là tương đương về mặt giá trị. Nếu giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá tương đương chuyển đổi thì việc chuyển đổi sẽ đem lại một phần lợi nhuận. Trên thực tế rất có thể giá cổ phiếu không lên tới mức mà người nắm giữ trái phiếu có thể chuyển đổi trái phiếu để thu lợi nhuận.
Convertible Preferred Stock / Cổ Phiếu Ưu Đãi Chuyển Đổi
Một rủi ro trong mua cổ phiếu đó là nguy cơ bị thua lỗ, nhưng tránh không chơi cổ phiếu cũng có nghĩa là bạn đã bỏ lỡ cơ hội kiếm lời lớn. Tuy nhiên có một loại chứng khoán có thể giải quyết được tình trạng khó xử này của bạn, đó chính là cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi_một loại cổ phiếu đảm bảo sẽ mang đến cho bạn một khoản lãi cố định cộng với cơ hội làm cho vốn đầu tư của bạn có khả năng sinh sôi. Cổ phiếu ưu tiên chuyển đổi là loại cổ phiếu có lãi suất cố định trong đó nhà đầu tư có thể lựa chọn chuyển đổi chúng thành một lượng cổ phiếu thường của công ty phát hành sau một khoảng thời gian nhất định đã được thoả thuận trước từ khi mua, hoặc là vào một ngày nào đó trong tương lai. Vì có lãi suất cố định nên người nắm giữ sẽ có một lượng thu nhập ổn định trên cổ phiếu và đồng thời nguồn vốn đầu tư cũng được đảm bảo. Thêm vào đó việc lựa chọn chuyển đổi cổ phiếu này thành cổ phiếu thường của công ty phát hành có thể sẽ mang lại cho nhà đầu tư cơ hội hưởng lợi từ việc tăng giá của cổ phiếu thường. Cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi đặc biệt rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư muốn được hưởng lợi từ việc kinh doanh hiệu quả của công ty nhưng cũng muốn tránh được rủi ro từ việc rớt giá của cổ phiếu nếu như công ty không hoạt động tốt như mong đợi.






