Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Convertible Bond (CVS) / Trái Phiếu Chuyển Đổi

Trái phiếu chuyển đổi là một loại trái phiếu có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu công ty theo một tỉ lệ công bố trước và vào một khoảng thời gian xác định trước. Thông thường bao giờ người phát hành trái phiếu chuyển đổi cũng dành cho người mua quyền quyết định có chuyển đổi sang cổ phiếu hay không. Người nắm giữ trái phiếu chuyển đổi có quyền không chuyển sang cổ phiếu nếu tại thời điểm chuyển đổi, công ty làm ăn không tốt. Trái phiếu chuyển đổi có thể được coi là sự kết hợp giữa một trái phiếu thường và một quyền chọn mua cổ phiếu. Thông thường, trái phiếu loại này có tỉ suất trái tức tương đối thấp so với các loại trái phiếu khác, song bù lại, nó hứa hẹn đem lại cho nhà đầu tư lợi nhuận lớn hơn từ khả năng mua được cổ phiếu với mức giá ưu đãi trong tương lai. Quyền chọn mua cổ phiếu chính là giá trị gia tăng của loại trái phiếu này, khiến nó trở thành một mặt hàng rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Nhiều khi, công ty chưa phát hành cổ phiếu, nhưng trái phiếu chuyển đổi của nó đã trở thành một mặt hàng được giới đầu tư săn lùng gắt gao, đặc biệt là trong trường hợp các "bluechip" tương lai. Từ góc độ của công ty phát hành, lợi ích chủ yếu của việc huy động vốn từ trái phiếu chuyển đổi là việc giảm được lãi suất đi vay.  Ngoài trái phiếu chuyển đổi còn có một loại chứng khoán gần tương tự với nó, đó là trái phiếu hoán đổi (exchangeable bond). Hai loại này khá giống nhau, chỉ khác ở chỗ loại cổ phiếu mà trái phiếu hoán đổi nhận được là cổ phiếu của công ty khác. Phát hành trái phiếu chuyển đổi là một cách giúp công ty tránh việc nhà đầu tư nhìn nhận các hành động của mình theo chiều hướng tiêu cực. Ví dụ, một công ty đã niêm yết, chọn cách tăng vốn thông qua việc phát hành thêm cổ phiếu. Thị trường thường nhìn nhận việc này như một tín hiệu cho thấy giá cổ phiếu của công ty đang được định giá quá cao. Để tránh ấn tượng xấu này, công ty sẽ phát hành trái phiếu chuyển đổi mà những người nắm giữ có thể chuyển sang cổ phiếu nếu công ty làm ăn tốt.

Convertible Bond / Trái Phiếu Chuyển Đổi

Là một loại trái phiếu doanh nghiệp có thể chuyển đổi thành cổ phiếu của doanh nghiệp đó theo tỷ lệ chuyển đổi và khuôn khổ thời gian, xác định ngay tại thời điểm phát hành. Loại trái phiếu này có đặc điểm là được trả một mức lãi suất cố định nên có vẻ giống như trái phiếu nhưng mặt khác lại có thể chuyển đổi thành loại cổ phiếu thường của công ty và đây cũng chính là điểm hấp dẫn của trái phiếu có tính chuyển đổi. Khi thị trường đang phát triển, nhà đầu tư thường quan tâm nhiều đến cổ phiếu (CP) nên thị trường trái phiếu (TP) bị sa sút. Để tăng tính hấp dẫn với người đầu tư, các công ty phát hành TP có thể thêm vào đặc tính chuyển đổi, và công ty sẽ trả lãi suất thấp hơn cho nhà đầu tư sở hữu loại TP chuyển đổi này.  Ngược lại, khi thị trường TP phát triển, TP có tính chuyển đổi sẽ phát huy tác dụng như một phương tiện tăng vốn cổ phần dựa trên cơ sở trì hoãn trả nợ vì khi TP chuyển đổi biến thành CP, vốn huy động của công ty sẽ thay đổi từ nợ sang vốn. Loại công cụ này cho phép tổ chức phát hành vay vốn với một chi phí (lãi suất) thấp trong hiện tại, đồng thời có thể hoán chuyển khoản nợ đó thành vốn cổ phần trong tương lai. Sở dĩ loại trái phiếu này thường có lãi suất thấp vì thuộc tính có thể chuyển đổi thành cổ phiếu có sức hấp dẫn đối với công chúng đầu tư. Người đầu tư có thể chấp nhận mức lãi suất danh nghĩa thấp hiện tại để đổi lấy quyền chuyển thành cổ phiếu trong tương lai. Ví dụ. Công ty niêm yết ABC hiện có 10 triệu cổ phần, giá thị trường là 30.000 đồng/cổ phiếu. Giả sử công ty phát hành thêm 1 triệu trái phiếu chuyển đổi, mệnh giá 100.000 đồng/trái phiếu, lãi suất 2%/năm.Sau 1 năm kể từ ngày phát hành có thể chuyển đổi thành cổ phiếu ABC theo mệnh giá (10.000 đồng/cổ phiếu) với tỷ lệ 1 trái phiếu: 10 cổ phiếu, 100% được phát hành cho cổ đông với tỷ lệ 10:1 (sở hữu 10 cổ phiếu được mua 1 trái phiếu).Theo ví dụ trên, có thể thấy rằng loại trái phiếu này tỏ ra rất hấp dẫn đối với người đầu tư, vì tuy mức lãi suất thấp nhưng họ được quyền mua cổ phiếu ABC với mức giá chỉ bằng 1/3 mức giá hiện hành sau thời hạn 1 năm.

Convertible Adjustable Preferred Stocks (CAPS) / Cổ Phần Ưu Đãi Điều Chỉnh Có Khả Năng Chuyển Đổi

Là cổ phần ưu đãi có tỷ lệ lãi (cổ tức) thả nổi và gắn cố định với tỷ lệ lãi suất của chứng khoán kho bạc. Loại cổ phần này có thể được chuyển thành cổ phần phổ thông hoặc tiền mặt theo mệnh giá cổ phiếu (gọi là par value hay giá trị bề mặt-face value) hoặc giá vào lúc đáo hạn (maturity date) sau khi mức cổ tức ở kì tiếp theo đã được thông báo. Hiện nay trên thị trường có các chứng khoán ghi mệnh giá trên bề mặt như trái phiếu nhưng có công ty lại phát hành các trái phiếu không ghi mệnh giá. Mệnh giá không có liên hệ với giá thị trường. Trị giá thị trường của chứng khoán phụ thuộc vào mức hoa lợi, khả năng kinh doanh và các kỳ vọng của nhà đầu tư về các lợi nhuận của công ty trong tương lai. Ngoài ra, mệnh giá còn rất quan trọng đối với trái phiếu và chứng khoán ưu đãi. Lãi suất trái phiếu được trả dựa trên tỷ lệ phần trăm nhất định so với mệnh giá. Cổ tức của chứng khoán ưu đãi thường thường hay được trả theo số phần trăm mệnh giá của chứng khoán ưu đãi đã phát hành. Đặc điểm có thể chuyển đổi của loại cổ phiếu này giúp các nhà đầu tư bảo vệ an toàn số tiền đầu tư của mình và tạo ra mức thanh khoản cao hơn trong trường hợp khả năng tài chính-tín dụng  của tổ chức phát hành bị giảm xuống.

Convertibility / Khả Năng Chuyển Đổi

Một thuộc tính của một đồng tiền có thể trao đổi một cách thoải mái với một đồng tiền khác hay với vàng. (Xem EXCHANGE RATES, GOLD STANDARD, EXCHANGE RESERVES, GOLD RESERVES).

Conversion Privilege / Đặc Quyền Chuyển Đổi, Quyền Chuyển Đổi Hợp Đồng

Đặc tính trong cầm cố có lãi suất điều chỉnh cho phép người vay chuyển sang khoản vay có lãi suất cố định, thường vào cuối kỳ điều chỉnh lãi suất lần đầu.

Conversion / Chuyển Đổi

1. Chuyển đổi giấy phép ngân hàng bởi một ngân hàng hay một tổ chức tiết kiệm, ví dụ, một ngân hàng được cấp phép tiểu băng nộp đơn xin được cấp phép quốc gia từ Kiểm toán Trưởng Tài Chính. Chuyển đổi giấy phép giúp ngân hàng có lợi thế khác biệt trong quy định ngân hàng, như những giới hạn cho vay pháp lý tự do hơn đối với các ngân hàng được cấp phép tiểu bang tại một vài bang. 2. Chuyển từ quyền sở hữu hỗ tương sang quyền sở hữu cổ phần thông qua các quyền lợi cổ phiếu thường được thực hiện bởi một ngân hàng tiết kiệm hay hiệp hội tiết kiệm và cho vay nhằm nâng vốn cổ phần. 3. Chuyển cầm cố có lãi suất điều chỉnh sang khoản vay có lãi suất cố định, thường tính thêm phụ phí đối với người vay nếu được thực hiện trong một thời kỳ nhất định. 4. Trao đổi chứng khoán có thể chuyển đổi, như giấy nợ vốn hay giấy nợ để lấy một số cổ phiếu thường nhất định. 5. Trao đổi cổ phiếu quỹ hỗ tương lấy các cổ phiếu trong một nguồn quỹ khác, thường là miễn phí nếu việc chuyển xảy ra trong nội bộ các quỹ. 6. Theo luật đối với hành vi sau, việc sử dụng sau tài sản thuộc về một người khác, như khi người được ủy thác sử dụng tài sản trong một quỹ ủy thác cho lợi ích cá nhân.

Convergence Thesis / Luận Chứng Hội Tụ

Ý tưởng cho rằng các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đi ra khỏi các dạng "lý tưởng" tương ứng của chúng và tiến hoá theo những hình thái, suy nghĩ, thể chế và phương pháp ngày càng giống nhau.

Conventional Wisdom / Lẽ Phải Thông Thường

Conventional wisdom là thuật ngữ được sử dụng rất nhiều trong chính trị, kinh tế và tài chính. Đây là thuật ngữ được đưa ra bởi nhà kinh tế học John Kenneth Galbraith trong tác phẩm The Affluent Society. Thuật ngữ này dùng để chỉ những quan niệm hoặc cách giải thích được phần đông dân chúng cho là đúng và hợp lí. Conventional wisdom có thể đúng hoặc sai. Ví dụ, rất nhiều các truyện dân gian được chấp nhận dựa trên lẽ phải thông thường. Nhưng trên thực thế, lẽ phải thông thường thường được coi là một trở ngại để đưa ra các học thuyết mới hoặc các giải thích có tính sáng tạo. Mặc dù có các thông tin và phát hiện mới ra đời, nhưng Conventional wisdom lại mang nặng tính ì, đó là một động lực ngăn cản việc đưa ra các giải thích ngược lại, đôi khi còn dẫn đến sự phủ nhận cái mới đến mức vô lí. Tính ì được tạo ra do Conventional wisdom được tạo ra dựa trên những quan niệm mang tính tiện lợi thông thường, lôi cuốn và được dân chúng tin tưởng, họ tin vào quan niệm đó ngay cả khi các quan niệm này đã lỗi thời. Hậu quả không thể tránh khỏi đó là những quan niệm này sẽ không còn phù hợp với thực tế, và cuối cùng Conventional wisdom sẽ bị thay đổi. Theo cách thông thường được hiểu, Conventional wisdom dùng để chỉ niềm tin vào một vấn đề nào đó mà hầu như không có ai cãi lại quan điểm có, và vì vậy nó được coi như là một thước đo của một hành vi hay niềm tin nào đó, thậm chí trong cả môi trường chuyên gia. Ví dụ, ở năm 1960, hầu hết các bác sĩ phát biểu rằng hút thuốc lá không có hại lắm đến sức khỏe, đó là Conventional wisdom. Khi Conventional wisdom mới thay thế cái cũ, nó có thể có liên hệ hoặc hoàn toàn không có liên hệ gì với quan niệm cũ.

Control Of Money In CIrculation / Kiểm Soát Luồng Tiền

Tiền tệ, nguồn năng lượng cho nền kinh tế được tạo ra chẳng dựa trên vật chất gì mà chỉ bởi Hệ thống Dự trữ Liên bang. Giữ cho một nền kinh tế hiện đại hoạt động xuôn xẻ cần một phi công có khả năng giữ cho nó khỏi bị quá chậm trễ và cũng không tăng tốc nhanh quá.  Nước Mỹ, giống như hầu hết các quốc gia khác, cố gắng kiểm soát lượng tiền trong lưu thông.  Quá trình đổ thêm tiềnvào hoặc rút bớt tiền phản ánh chính sách tiền tệ mà Hệ thống Dự trữ Liên bang đang theo đuổi nhằm điều hành nền kinh tế.  Chính sách tiền tệ không phải là một hệ tư tưởng cứng nhắc.  Đó là một hoạt động điều chỉnh liên tục để giữ cho đủ tiền trong nền kinh tế sao cho nền kinh tế phát triển mà không cần tăng tưởng quá nhanh. Các cách kiểm soát luồng tiền: 1. Điều chỉnh lãi suất 2. Thay đổi lượng cung 3. Tạo ra tiền

Control Monopolies / Kiểm Soát Độc Quyền

Trong thị trường cạnh tranh, sản lượng và giá cân bằng thể hiện mức sản xuất và tiêu dùng có hiệu quả kinh tế tối ưu. Tuy nhiên, trong thị trường độc quyền, do sản lượng thấp hơn trong khi giá thì cao hơn so với mức cân bằng cạnh tranh nên xã hội luôn bị tổn thất. Vì thế chính phủ thường áp dụng các biện pháp điều tiết hay kiểm soát độc quyền.    Biện pháp đầu tiên là cho phép thị trường trở nên cạnh tranh hơn. Chẳng hạn, vài năm trước các nhà sản xuất xe máy của hãng Honda có thể xem là độc quyền trên thị trường Việt Nam, giá mỗi chiếc lên đến 2.500 USD. Thế nhưng từ khi cho phép bán các loại xe mang nhãn hiệu khác được nhập hay lắp ráp trong nước, sức ép cạnh tranh đã buộc các nhà sản xuất xe máy Honda phải giảm giá bán hơn 50% so với trước.    Đối với những ngành được độc quyền khai thác các nguồn lực chiến lược như năng lượng và khí đốt, chính phủ có thể đánh thuế để giảm bớt lợi nhuận siêu ngạch của nhà độc quyền. Ví dụ, thuế thu nhập áp dụng cho các công ty dầu khí ở Việt Nam là 50%, trong khithuế suất phổ biến cho các ngành khác chỉ là 32%.    Kiểm soát giá là một biện pháp khác mà chính phủ thường áp dụng cho các ngành độc quyền tự nhiên như đường sắt, điện, nước. Lúc này, một mức giá tối đa sẽ được ấn định trên cơ sở xác định một suất sinh lợi hợp lý của nhà độc quyền, có xét đến vốn và độ rủi rotrong đầu tư của họ.    Tuy nhiên việc xoá bỏ độc quyền đôi khi có thể gây tác động bất lợi cho phúc lợi xã hội, nếu chính phủ không có thêm những biện pháp ngăn ngừa các ngoại tác tiêu cực. Vấn nạn xe máy trong giao thông Việt Nam ngày nay là một ví dụ. Vì thế, sự cần thiết và biện pháp điều tiết độc quyền hiện vẫn là một chủ đề gây tranh cãi trong lĩnh vực kinh tế.

Contrarian Investing / Đầu Tư Ngược Xu Thế

Trong tài chính, đầu tư ngược xu thế là việc nhà đầu tư cố gắng tìm kiếm lợi nhuận bằng cách đi theo hướng khác hẳn với những suy nghĩ thông thường của số đông, khi ý kiến của số đông lại có vẻ sai.Nhà đầu tư ngược xu thế tin rằng một phản ứng nào đó của các nhà đầu tư có thể dẫn đến việc định giá sai trên thị trường chứng khoán mà anh ta có thể khai thác được. Ví dụ, kỳ vọng không tốt về một cổ phiếu có thể kéo giá xuống quá thấp đến mức nó đã quá phóng đại rủi ro, trong khi đánh giá quá thấp triển vọng kinh doanh tốt trở lại của công ty này. Xác định được và mua vào những cổ phiếu bị đánh giá thấp như vậy, và bán chúng ra sau khi công ty này đã hồi phục có thể giúp nhà đầu tư thu được lợi nhuận cao hơn bình quân thị trường.Tương tự, sự lạc quan thái quá của thị thị trường có thể dẫn đến việc đánh giá giá trị cổ phiếu cao một cách vô lý, mức giá này sau đó chắc chắn sẽ hạ xuống và những kỳ vọng cao kia rốt cuộc chẳng đi đến đâu. Tránh đầu tư vào những cổ phiếu bị đánh giá quá cao sẽ giúp giảm nguy cơ mắc vào những cú rớt giá như vậy. Những nguyên tắc chung này có thể áp dụng khi đầu tư vào một cổ phiếu, một ngành, hay toàn bộ thị trường hoặc lớp tài sản nào đó.Các nhà đầu tư ngược xu thế đôi khi được coi là những người sống với thị trường giá xuốngvì họ luôn có xu hướng ưa chuộng thị trường giá xuống hơn. Tuy nhiên, nhà đầu tư ngược xu thế không phải lúc nào cũng là người có cái nhìn bi quan về kỳ vọng toàn thị trường, lúc nào cũng tin rằng cổ phiếu trên thị trường đang bị định giá quá cao hay cho rằng những quan điểm của số đông luôn luôn sai. Thay vào đó, họ tìm kiếm những cơ hội để tiến hành những khoản đầu tư cụ thể khi phần đông các nhà đầu tư khác có vẻ như đã sai khi đi theo hướng ngược lại. Sự tương đồng giữa đầu tư ngược xu thế và đầu tư giá trị Cũng giống như đầu tư giá trị, nhà đầu tư ngược xu thế luôn tìm kiếm những cổ phiếu bị thị trường đánh giá sai, mua vào những cổ phiếu bị đánh giá quá thấp. Nhiều nhà đầu tư giá trị nổi tiếng như John Neff từng đặt câu hỏi rằng liệu có tồn tại cái gọi là "đầu tư ngược xu thế" hay không, khi mà về cơ bản, nó chẳng khác gì đầu tư giá trị cả? Tuy nhiên, nếu phân định rạch ròi, nhà đầu tư giá trị là người thường xác định loại cổ phiếu cần đầu tư thông qua các chỉ số tài chính như giá trị sổ sách hay P/E. Trong khi đó, nhà đầu tư ngược xu thế, có thể cũng dựa vào những thước đo ấy, nhưng ngoài ra anh ta còn quan tâm đến những thước đo về mặt "cảm xúc" của các nhà đầu tư khác đối với loại cổ phiếu đó, như các tin tức về phân tích chiều bán và dự báo lợi nhuận, khối lượng giao dịch, các bình luận của các phương tiện thông tin đại chúng về công ty và triển vọng kinh doanh của nó.Trong ví dụ về một cổ phiếu đã rớt giá vì sự bi quan quá mức của thị trường người ta có thể nhìn thấy sự tương đồng với khái niệm "biên an toàn" mà nhà đầu tư giá trị Benjamin Graham tìm kiếm khi mua cổ phiếu, về cơ bản, đó không gì khác hơn là việc mua cổ phiếu ở mức giá dưới giá trị thực của nó. Biên an toàn có thể tồn tại khi cổ phiếu đã giảm giá rất mạnh sau những tin tức xấu và sự kém lạc quan chung của thị trường.Trong số những nhà đầu tư ngược xu thế nổi tiếng có thể kể đến những cái tên như David Dreman, John Neff (cho dù ông thường tự mô tả mình là nhà đầu tư giá trị và tự đặt câu hỏi về sự khác biệt ở bản chất của hai loại đầu tư này?)Quan hệ với Tài chính hành vi Các nhà đầu tư ngược xu thế luôn cố gắng khai thác các nguyên lý của Tài chính hành vi, và giữa hai lĩnh vực này có những sự giao thoa nhất định. Ví dụ, các nghiên cứu về tài chính tâm lý đã chứng minh rằng các nhà đầu tư theo nhóm có khuynh  hướng phóng đại các xu thế mới xảy ra trên thị trường gần đây, khi dự đoán xu thế tương lai. Một cổ phiếu của một công ty có kết quả hoạt động nghèo nàn sẽ luôn được coi là một cổ phiếu tồi và ngược lại. Điều này khiến các nhà đầu tư ngược xu thế tin rằng do những giả định sai lầm của các nhà đầu tư khác về triển vọng lâu dài của công ty mà những cổ phiếu này có thể sẽ xuống giá quá mức khi có thông tin xấu.

Contractionary Phase / Giai Đoạn Suy Giảm; Giai Đoạn Thu Hẹp

Giai đoạn của CHU KÌ KINH DOANH sau khi đạt đến điểm cao nhất và kéo dài cho đến điểm thấp nhất sau đó. Nó đánh dấu sự suy giảm của hoạt động kinh tế.

Contract Curve / Đường Hợp Đồng

Trong trường hợp hai người tiêu dùng trao đổi hai mặt hàng, đường này là quỹ tích các điểm tại đó TỶ LỆ THAY THẾ BIÊN giữa hai mặt hàng là như nhau đối với hai người tiêu dùng (Xem EDGEWORTH BOX).

Trong trường hợp hai người tiêu dùng trao đổi hai mặt hàng, đường này là quỹ tích các điểm tại đó TỶ LỆ THAY THẾ BIÊN giữa hai mặt hàng là như nhau đối với hai người tiêu dùng (Xem EDGEWORTH BOX).

Contract / Hợp Đồng

1. Tổng quát: Một thỏa thuận dựa trên những tôn trọng luật pháp, trong đó cam kết sẽ thực hiện một hành động, trao đổi tài sản, hoặc sẽ không thực hiện việc gì đó. Một hợp đồng hợp pháp phải có sự đồng ý của các bên tham gia, đại diện bởi những người có khả năng thương thuyết, trong đó mỗi bên sẽ thêm vào 1 số giá trị. Hợp đồng phải được tạo ra vì mục đích hợp pháp. 2. Hợp đồng tương lai: Xem tại Hợp đồng tương lai 3. Thị trường ngoại hối: Một thỏa thuận trong đó 2 bên đồng ý trao đổi tiền tệ tại một ngày xác định trong tương lai.

Hợp Đồng (Contract) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Hợp Đồng (Contract) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Continuous Variable / Biến Số Liên Tục

Một biến số có thể lấy bất cứ giá trị nào (nghĩa là nó có thể thay đổi mà không gián đoạn) giữa những giới hạn xác định (có thể là vô hạn) (Xem DISCRETE VARIABLE).

Contingency Table / Bảng Phát Sinh; Bảng Sự Cố

Một công cụ mà theo đó mức độ liên hệ hay phụ thuộc giữa hai biến số hay hai đặc tính được đánh giá.

Contingency Reserve / Dự Trữ Phát Sinh

Dự trữ không phân bổ dành cho sự cố bất thường và các nhu cầu khác, nó không thể được định lượng khi xem xét các kế hoạch chi tiêu định lượng của Anh.

Contigency Account/ Contigency Funds / Quỹ Dự Phòng

Thuật ngữ quỹ dự phòng được hiểu như là một khoản thêm vào trong khi ước tính chi phí của mỗi dự án hoặc trong khoảng thời gian giải quyết những rủi ro hay những việc ngoài ý muốn xảy ra. Những người chủ dự án sẽ thành lập các quỹ dự phòng cho mỗi dự án dựa trên những rủi ro có thể xảy ra, thiệt hại của những việc xảy ra ngoài ý muốn.... Trong việcđánh giá dự án thì quỹ dự phòng còn được coi như là một phương án giúp làm giảm rủi ro, tuy nhiên không nên coi quỹ dự phòng là yếu tố đầu tiên trong việc lựa chọn những phương án giảm rủi ro. Trong kinh doanh, quỹ dự phòng được dự trữ để bù trừ cho hoạt động kinh doanh bị lỗ, hay những rủi ro phát sinh trong quá trình kinh doanh..v.v.

Contestable Market / Thị Trường Cạnh Tranh Được

Một thị trường trong đó có sự tự do gia nhập và rút lui không mất chi phí được coi là thị trường có thể cạnh tranh được. Những cá thể thâm nhập tiềm năng có thể gia nhập bất cứ lúc nào với lợi nhuận vượt mức thông thường. Do đó, thị trường cạnh tranh nhóm là một thị trường cạnh tranh được. Sự tồn tại không mất chi phí hàm ý chi phí chìm bằng 0. Những thị trường như vậy tuân theo sự gia nhập và rút lui kiểu "đánh rồi chạy" và các hãng sẽ sản xuất khi giá cả bằng chi phí biên và chi phí biên bằng chi phí trung bình.

Contango / Contango

Khi giá cả thực tế trong tương lai cao hơn giá giao ngay (spot price) trông đợi trong tương lai. Kết quả là, giá sẽ giảm đến giá giao ngay trước ngày giao hàng.1. Trường hợp về giá cả, trong đó thời gian đáo hạn càng dài thì giá trong tương lai càng cao, tạo nên những ảnh hưởng tiêu cực. Sự tăng lên này là do những chi phí bỏ ra để giữhợp đồng tương lai, bao gồm việc chứa hàng, tài chính và bảo hiểm. Trường hợp ngược lại, thị trường đảo ngược, được gọi là Backwardation.2. Trong tài chính, là các chi phí phải được kể đến khi phân tích cần đến những dự đoán.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55