Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Resale Price Mainternance / Việc Duy Trì Giá Bán Lẻ

Là thoả thuận theo đó các nhà sản xuất xác định một cách độc lập hoặc tập thể những mức giá tối thiểu mà các sản phẩm của họ có thể được bán lại tại các nhà bán buôn và bán lẻ.

Required Reserves / Dự Trữ Bắt Buộc

Trong ngành ngân hàng ở Mỹ, các tổ chức nhận tiền gửi phải duy trì một tỷ lệ phần trăm nhất định của số nợ mà các tổ chức này phát hành (về cơ bản gồm có séc, sổ tiết kiệm và giấy chứng nhận tài khoản tiền gửi) dưới dạng số dư nhàn rỗi.

Employment Service / Dịch Vụ Việc Làm

Các văn phòng nhà nước hay tư nhân cố gắng sắp xếp những người xin việc vào các chỗ trống hiện có.

Request For Proposals, RFP / Đề Nghị Mời Thầu, RFP

"Đề nghị mời thầu" hay RFP là một quá trình mà qua đó một ban ngành thuộc công ty hay cơ quan chính phủ chuẩn bị các thủ tục tài liệu để mua thiết bị hay dịch vụ, nghĩa là mời các nhà bán hàng tiềm năng đưa ra giá cho thiết bị hay dịch vụ cần mua. RFP thường được thông báo trên báo chí, trên các tạp chí thương mại của ngành liên quan. RFP cũng có thể được gửi đến một danh sách các nhà thầu tiềm năng đủ tiêu chuẩn đã được liên hệ và xác định khả năng trước bởi ban ngành hay cơ quan đó. "Đạt tiêu chuẩn" là từ khóa trong việc trả lời và chuẩn bị bất kì RFP nào. Việc xác định khả năng thường phụ thuộc vào những điều tra sau đó với các nhà thầu triển vọng, và những từ ngữ đã được chuẩn bị kỹ lưỡng của bản RFP ban đầu.Các yếu tố của một bản RFP hấp dẫnMột số RFP có yêu cầu công việc vượt khỏi tầm của những công ty nhỏ và vừa, nhưng những RFP khác mang đến những cơ hội giá trị để các công ty đó phát triển nền tảng khách hàng và hoạt động của mình. Tuy nhiên, trước khi đặt giá cho một RFP, các doanh nhân khởi nghiệp và chủ doanh nghiệp cần chắc chắn rằng họ hiểu bản chất của yêu cầu công việc.Ví dụ, một số RFP hiển nhiên cung cấp nhiều thông tin hơn những cái khác. Khi xem xét một RFP, các nhà bán hàng nên đảm bảo rằng nó miêu tả cụ thể những thứ cần được giao hoặc thực hiện nhằm đáp ứng các yeu cầu của công ty hay cơ quan đưa ra thông báo. Để làm được như thế, các nhà bán hàng tiềm năng cần phải tự tìm hiểu bản chất của cơ quan hay công ty đệ trình RFP. Các nhà bán hàng cũng cần điều tra liệu yêu cầu công việc có thể dẫn đến các công việc thêm vào trong các dự án gắn với nó hay không. VÍ dụ, nếu thiết bị được dùng cho một tòa nhà mà hiện nay vẫn chưa được xây, nhưng nằm trong kế hoạch lâu dài của cơ quan hay công ty, người bán hàng có thể quyết định rằng một cái giá thấp có thể chấp nhận được nếu nó tạo điều kiện thuận lợi cho những thỏa thuận lâu dài hơn sau này.Trước khi đặt giá, người bán hàng cũng cần xem xét các nhân tố khác của RFP có thể ảnh hưởng đến câu trả lời của họ. Một số câu hỏi cần lưu ý: Liệu thiết bị được yêu cầu có thể trở thành vấn đề đối với điều kiện hay quy luật môi trường đáng kể nào không? Nếu thiết bị được sử dụng ở nước ngoài, thiết bị đó có phù hợp với tiêu chuẩn của quốc gia này hay không? Liệu các chi phí đi kèm vơi thiết kế, sản phẩm, vận chuyển hay các khía cạnh khác của giao hàng có ảnh hưởng quá lớn đến biên lợi nhuận không? Liệu RFP và thiết bị hay dịch vụ nó tìm kiếm có phù hợp với luật lệ địa phương, quốc gia hay không? RFP có đòi hỏi cả thiết bị và dịch vụ không? Thời hạn và các điều khoản thực hiện có hợp lý không? Cơ quan đưa ra RFP có yêu cầu người bán hàng thắng cuộc kí một cam kết thực hiện đảm bảo việc giao hàng hóa hay dịch vụ vào 1 ngày cụ thể nào không? Hầu hết các công ty và cơ quan đệ trình yêu cầu công việc đều cho các nhà đầu thầu tiềm năng khá nhiều thời gian để có thể nghiên cứu kĩ lưỡng bản RFP trước khi hết hạn. Một số công ty cho các nhà bán hàng thời gian 1 tháng kể từ khi RFP được thông báo ra công chúng đến khi hết hạn đấu thầu. Nó cho phép các nhà đầu tư chỉnh sửa lại giá đặt thầu, tìm kiếm các nhà bán hàng của chính mình để có thể đáp ứng các yêu cầu của RFP.Nằm trong danh sách đấu thầuCác công ty muốn đấu thầu theo RFP nên theo dõi mọi thông báo hợp pháp trên các tờ báo địa phương hoặc tạp chí thương mại, và liên hệ bộ phận mua hàng của công ty hay cơ quan chính phủ yêu dịch vụ và thiết bị. Họ nên điều tra các yêu cầu để được thêm vào "danh sách đấu thầu". Cuối cùng, một khi công ty đã đáp ứng đủ các điều kiện bắt buộc cần thiết để thêm vào danh sách, ban lãnh đạo công ty cần chắc chắn rằng họ nằm trong danh sách đó.Cơ quan Chính phủ và ban ngành doanh nghiệp đôi khi lưỡng lự khi xóa một nhà bán hàng từ danh sách đấu thầu bởi lo sợ sự cắt giảm đó sẽ dẫn đến các khoản phạt vì thiên vị. Tuy nhiên, bên đưa ra RFP cũng phải tìm kiếm để giữ cho danh sách đấu thầu ở phạm vi có thể quản lý được, bởi bất kì lượt trả giá nào cũng yêu cầu phải được kiểm tra lại. Một cách được các nhà đưa ra RFP ưa thích sử dụng để cắt giảm danh sách đấu thầu là yêu cầu các nhà bán hàng tiềm năng cung cấp lại giấy tờ vài năm 1 lần. Một cách khác là yêu cầu người bán hàng cung cấp những thông tin cụ thể như doanh số bán trong năm ngoái, kinh nghiệm hay số lượng nhân viên có thể phục vụ dịch vụ này. Những yêu cầu như thế có thể loại bỏ những công ty quá thiếu tổ chức hay yếu đuối. Ngược lại, những công ty nhỏ đáp ứng đủ những yêu cầu đó trong thời gian ngắn chứng tỏ sự hoạt động đồng bộ của mình.Các công ty tìm kiếm RFP nên hiểu rằng thắng một cuộc đấu thầu không phải luôn là người đưa ra cái giá thấp nhất hay dịch vụ chất lượng nhất. Một số công ty và cơ quan Chính phủ có sự ưu tiên đặc biệt với các công ty sở hữu bởi phụ nữ hay người dân tộc thiểu số.

Employment Report / Báo Cáo Nhân Dụng

Báo cáo nhân dụng cung cấp thông tin về tỷ lệ thất nghiệp, do các xí nghiệp công nghiệp báo cáo về tạo hoặc thu hẹp việc làm, và xu hướng tiền lương.  Nhìn chung, tỷ lệ nhân dụng càng cao thì nền kinh tế càng khoẻ mạnh, và người tiêu dùng càng tin tưởng trong chi tiêu.

Repurchase Agreement/ Sale And Repurchase Agreement / Hợp Đồng Repo

Hợp đồng Repo có tên đầy đủ là Repurchase Agreement hoặc đầy đủ nhất Sale and Repurchase Agreement. Là một dạng vay ngắn hạn đối với các loại chứng khoán của chính phủ. Người tham gia bán các chứng khoán chính phủ cho người đầu tư, thông thường trong khoảng thời gian ngắn hạn (24 giờ), và sau đó mua lại vào hôm sau. Đối với bên bán chứng khoán, cam kết mua lại được gọi là Repo; đối với bên kia (mua chứng khoán sau đó lại đồng ý bán lại) gọi là Reverse Repo. Như vậy Repo và Reverse Repo là hai khái niệm đồng thời xảy ra và phụ thuộc vào vị trí của bên thực hiện. Các hợp đồng Repo được phân vào loại công cụ thị trường tiền tệ. Chúng được được sử dụng để huy động vốn trong ngắn hạn.

Repurchase Agreement / Hợp Đồng Mua Lại

Hợp đồng mua lại thực tế là những món vay ngắn hạn (thường với kỳ hạn thanh toán ít hơn 2 tuần lễ) trong đó các tín phiếu kho bạc được dùng làm vật bảo đảm một tài sản có mà người cho vay nhận được nếu người đi vay không thanh toán được nợ. Hợp đồng mua lại hoàn toàn là một khám phá mới đây (1969) trong thị trường tài chính. Hợp đồng mua lại này là một nguồn vốn quan trọng đối với các ngân hàng (trên 140 tỉ đôla), và người cho vay quan trọng nhất ở thị trường này là các công ty lớn.

Employment Act Of 1946 / Đạo Luật Việc Làm Năm 1946

Tiết một của đạo luật này quy định rằng, trong quyền hạn của mình, chính phủ liên bang Mỹ làm mọi việc để tạo ra và duy trì cơ hội về việc làm, tăng trưởng bền vững và sức mua ổn định cho đồng tiền của Mỹ.

Employee Stock Ownership Plan (ESOP) / Kế Hoạch Sở Hữu Cổ Phần Cho Người Làm

Một kế hoạch cho phép các nhân viên trong các hãng của Mỹ được hưởng lợi nhuân và sự tăng trưởng của doanh nghiệp bằng cách sở hữu các cổ phần trong cổ phần chung của công ty.

Một kế hoạch cho phép các nhân viên trong các hãng của Mỹ được hưởng lợi nhuân và sự tăng trưởng của doanh nghiệp bằng cách sở hữu các cổ phần trong cổ phần chung của công ty.

Employee Stock Option / Quyền Mua Cổ Phiếu Dành Cho Nhân Viên

Quyền mua cổ phiếu là một quyền chọn mua mà một công ty dành cho thành viên công ty đối với cổ phiếu của chính công ty đó như là một hình thức trả thù lao phi tiền mặt. Một số hạn chế đối với quyền chọn này đều nhằm mục đích gắn chặt quyền lợi của những người nắm quyền chọn này với các cổ đông khác của công ty, kích thích họ làm việc tốt hơn, cống hiến nhiều hơn cho công ty. Quyền mua cổ phiếu thường dành cho các nhà quản trị như là một phần trong chế độ lương bổng của họ. Các doanh nghiệp mới thành lập, làm ăn chưa có lãi, có thể sử dụng quyền mua cổ phiếu để trả lương cho nhân viên thay vì sử dụng tiền mặt. Ngoài ra trong một số trường hợp ngoại lệ, quyền mua cổ phiếu cũng có thể được dành cho các đối tác ngoài doanh nghiệp như nhà cung cấp, nhà tư vấn, các luật sư... Quyền mua cổ phiếu cũng giống như các quyền chọn mua khác, trừ một số điểm sau: Thông thường thì giá thực hiện phải được ấn định vào ngày mà công ty dành cho nhân viên quyền mua cổ phiếu này. Tuy nhiên trong thực tế, nhiều công ty đã tự động lùi thời gian của quyền chọn mua này về một thời điểm trước đó khi giá cổ phiếu thấp hơn, bằng cách này người có quyền chọn mua sẽ đã có lợi ngay khi nhận được quyền. Hoặc theo một cách khác, quyền mua cổ phiếu thường được dành cho các thành viên công ty trước khi công bố một thông tin tốt, có khả năng sẽ đẩy giá cổ phiếu lên. Ví dụ: giá cổ phiếu X hôm nay là $15/cp, cách đây 5 ngày là $12/cp. Hôm nay là ngày công ty trả lương cho CEO của mình bằng quyền chọn mua cổ phiếu, nếu tính theo hiện giá thì công ty chỉ cho anh ta quyền chọn mua với giá $15/cp. Tuy nhiên bằng việc ghi lùi ngày trả quyền chọn về 5 ngày trước, công ty đã cho phép CEO này được mua với giá $12/cp, lãi 3$/cp. Mỗi quyền mua cổ phiếu lại có một khoảng thời gian chặn dưới nhất định, mà sau khoảng thời gian này người nắm quyền mới được phép thực hiện quyền mua của mình. Khoảng thời gian này ngắn dài tuỳ từng công ty, nhưng thường là trên 2 năm. Quyền mua sẽ chỉ có hiệu lực chừng nào người nắm quyền còn là nhân viên của công ty. Vì vậy mà quyền mua cổ phiếu đôi khi được ví von với cái cùm tay bằng vàng (tương tự như cái bắt tay bằng vàng hay cái dù bằng vàng). Nhiều nhân viên sẽ có cảm giác bó buộc trước những thời hạn quá dài như vậy cho dù họ không có ý định rời khỏi công ty. Với các công ty chưa được niêm yết công khai, thì quyền mua cổ phiếu về lý thuyết là không thể thực hiện được (do đó nó không có giá trị gì) cho đến khi công ty bị thâu tómhoặc được niêm yết công khai lần đầu (IPO). Quyền mua cổ phiếu là không thể chuyển nhượng được, trừ trường hợp người hưởng quyền chết, thì vợ hoặc chồng người đó được thừa kế toàn bộ quyền mua cổ phiếu có thể thực hiện (quyền mua đã đến hạn). Việc sử dụng quyền mua cổ phiếu để trả lương cho nhân viên có một số điểm lợi và hại như sau: Lợi: Công ty không phải sử dụng đến tiền mặt để trả lương, trong khi tiền mặt là thứ các công ty rất cần, đặc biệt là giai đoạn đầu Người nắm quyền mua cổ phiếu không phải đóng thuế thu nhập cho đến khi quyền mua được thực hiện, do đó tỉ lệ thuế trên thu nhập giảm đi Khi giá cổ phiếu lên, nhân viên sẽ có động lực làm việc hăng say nhiệt tình hơn Quyền mua cổ phiếu trói chặt quyền lợi của người nắm quyền với công ty, do đó giữ chân được những vị trí quan trọng trong công ty. Hại: Khi giá cổ phiếu giảm, gây tâm lý tiêu cực cho nhân viên nắm quyền mua cổ phiếu Khuyến khích giới lãnh đạo ra quyết định để công ty mua ngược cổ phiếu trên thị trường nhằm nâng giá cổ phiếu lên (vì họ có quyền mua cổ phiếu) thay vì trả cổ tức (vì cổ tức trả trên cổ phiếu, chứ không được trả cho quyền chọn mua), gây thiệt hại cho cổ đông.

Repressed Inflation / Lạm Phát Bị Kiềm Chế

Là trường hợp việc ấn định giá kiểm soát được tốc độ thay đổi của giá cả mà không tác động đến những xu hướng lạm phát đang diễn ra.

Representative Firm / Hãng Đại Diện

Là một hãng tiêu biểu cho một ngành hay một khu vực của nền kinh tế đang được phân tích.

Replacement Ratio / Tỷ Số Thay Thế

Là tỷ số giữa tổng thu nhập ròng (thu nhập cộng với phúc lợi đã trừ thuế và tiền nhà ở, cho phép hoàn trả lại tiền thuê) khi thất nghiệp và tổng thu nhập thuần khi đang làm việc.

Replacement Investment / Đầu Tư Thay Thế

Là khoản tiền cần thiết để thay thế phần vốn đầu tư cơ bản đã được sử dụng hết trong quá trình sản xuất.

Đầu Tư Thay Thế (Replacement Investment) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Đầu Tư Thay Thế (Replacement Investment) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Replacement Cost Accounting / Hạch Toán Chi Phí Thay Thế

Là một phương pháp kế toán có điều chỉnh theo những thay đổi về giá cả bằng cách tính lợi nhuận như là khoản chênh lệch giữa giá bán một mặt hàng và chi phí thay thế của nó tại thời điểm bán hàng.

Emoluments / Khoản Thù Lao; Thù Lao Ngoài Lương Chính

Được định nghĩa là một phần tiền lương của ban quản lý và các lợi ích PHI TIỀN TỆ mà lợi ích này không phải là một phần giá cung cấp của doanh nghiệp (lương chính).

Emissions Trading / Mua Bán Giấy Phép Khí Thải

Là một kế hoạch nhằm tạo ra nguồn động viên để các quốc gia và các ngành công nghiệp giảm bớt lượng khí thải gây ô nhiễm. Trong kế hoạch này, các chính phủ quy định lượng khí thải gây ô nhiễm tối đa mà các ngành kinh doanh có thể thải ra. Các công ty hoặc các ngành công nghiệp phải giữ một số giấy phép nhất định để được phép thải ra một lượng khí thải tương đương. Tổng lượng chất thải tương đương với số giấy phép được cấp không được vượt quá lượng tối đa quy định. Những công ty cần phải thải ra lượng khí thải lớn hơn thì phải mua thêm giấy phép từ những công ty không sử dụng hết số giấy phép. Việc mua bán giấy phép như thế được gọi là kinh doanh giấy phép chất thải. Hành động mua bán như vậy cho phép tổng lượng thải ra luôn ở mức kiểm soát, trong khi đó các công đi lại được phép linh hoạt, các công ty thải ít được thưởng (bằng số tiền bán lại) các công ty thải nhiều (bị phạt bằng số tiền phải trả). Vì vậy theo lí thuyết, đây là một cách giảm thiểu ô nhiễm với chi phí thấp nhất cho xã hội.

Rent-Seeking / Trục Lợi

Rent-seeking trong kinh tế học được hiểu là trục lợi, hay vụ lợi hoặc mưu lợi. Nội dung của nó dùng để chỉ một đơn vị, một tổ chức hay cá nhân sử dụng nguồn lực của mình để dành được một lợi ích kinh tế từ những người khác mà không có sự đáp lại bất kỳ lợi ích nào cho xã hội. Ví dụ: một doanh nghiệp vận động Chính phủ để được ưu đãi vốn vay, trợ cấp hay bảo hộ thuế quan. Nhưng kết quả của những hành động đó không đem lại lợi ích nào cho xã hội cả, mà chúng chỉ phân phối lại nguồn lực do người dân đóng thuế tạo nên cho một nhóm lợi ích đặc biệt.  Hành động đó được gọi là sự mưu lợi/vụ lợi riêng.

Rent-Seeking / Tìm Kiếm Đặc Lợi (Tiền Thuê)

Tìm kiếm đặc lợi (tiền thuê), rent-seeking, là khái niệm kinh tế học do Anne Krugger (từng giữ vị trí Phó giám đốc quĩ tiền tệ quốc tế IMF) đưa ra. Bà Krugger cho rằng khi được ưu đãi và bảo vệ, các doanh nghiệp trong nước sẽ không chịu cải cách để nâng cao tính cạnh tranh mà chỉ tìm cách xoay xở để giữ lại bổng lộc từ những ưu đãi và trợ giúp của nhà nước. Tình huống thường xuất hiện rent-seeking là nỗ lực vận động chính phủ tạo ra các rào cản gia nhập mới trong lĩnh vực kinh doanh đang hưởng đặc quyền. Qua đó, mức lợi nhuận siêu ngạch tiếp tục được duy trì cho tới khi cân bằng chi phí-lợi ích không còn nữa. Vận động của thị trường cùng với một chính phủ không tư lợi sẽ dần xóa bỏ động lực tìm kiếm đặc lợi. Mức lợi nhuận cao vượt trội là động lực mạnh mẽ để ngày càng có nhiều hơn đối thủ tham gia cạnh tranh và tìm kiếm quyền khai thác lợi ích đặc biệt. Điều này dẫn tới sự suy giảm dần lợi nhuận biên. kết cục, lợi thế đặc quyền bị xóa bỏ. Vấn đề gây tranh cãi là những cơ hội trở nên giàu có từ việc tìm kiếm đặc lợi có thể đúng là không mang lại lợi ích cho bất kỳ ai trong nền kinh tế (đặc biệt khi xét trong dài hạn) bởi nó khuyến khích việc sử dụng lãng phí các nguồn lực.

Rentiers / Chủ Cho Thuê Tài Sản; Chủ Cho Thuê Vốn

Là những chủ sở hữu vốn mà toàn bộ hoặc hầu hết thu nhập của họ có được từ nguồn này nhưng họ lại chọn cách không áp đặt quyền kiểm soát của mình đối với việc sử dụng nó.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55