Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Return On Assets - ROA / Hệ Số Thu Nhập Trên Tài Sản

Đây là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản của nó. ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời. ROA được tính bằng cách chia thu nhập hàng năm cho tổng tài sản, thể hiện bằng con số phần trăm.  Công thức tính như sau: Trong đó Net income : thu nhập ròngTotal assets : tổng tài sản Chú ý : một số nhà đầu tư có cộng cả chi phí lãi vay vào thu nhập ròng trong công thức tính toán trên vì họ thích sử dụng doanh thu hoạt động trước lãi vay. ROA sẽ cung cấp cho bạn các thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư(hay lượng tài sản). ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh. Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để so sánh các công ty, tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và so giữa các công ty tương đồng nhau. Tài sản của một công ty thì được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của  công ty. Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn. Ví dụ nếu công ty A có thu nhập ròng là 1 triệu $, tổng tài sản là 5 triệu$, khi đó ROA là 20%, tuy nhiên nếu công ty B cũng thu được khoản thu nhập tương tự trên tổng tài sản là 10 triệu $, ROA của B sẽ là 10%. Như vậy công ty A hiệu quả hơn trong việc biến đầu tư thành lợi nhuận. Và do đó, công việc khó khăn nhất của người quản lý là phân bổ vốn và các nguồn lực một cách khôn ngoan. Bất kì ai cũng có thể kiếm lời bằng cách quăng cả núi tiền ra để giải quyết rắc rối nào đó. Tuy nhiên chỉ có rất ít các nhà quản lý có khả năng kiếm những món lợi lớn mà chỉ cần đầu tư khoản tiền nhỏ. Các nhà đầu tư cũng nên chú ý tới tỉ lệ lãi suất mà công ty phải trả cho các khoản vay nợ. Nếu một công ty không kiếm được nhiều hơn số tiền mà nó bỏ ra để chi cho các hoạt động đầu tư, đó hiển nhiên không phải là một dấu hiệu tốt. Ngược lại, nếu ROA mà tốt hơn chi phí vay thì có nghĩa là công ty đang bỏ túi một món hời.

Đây là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản của nó. ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời. ROA được tính bằng cách chia thu nhập hàng năm cho tổng tài sản, thể hiện bằng con số phần trăm.  Công thức tính như sau:                        ROA = Net Income/ Total Assets Trong đó Net income : thu nhập ròngTotal assets : tổng tài sản Chú ý : một số nhà đầu tư có cộng cả chi phí lãi vay vào thu nhập ròng trong công thức tính toán trên vì họ thích sử dụng doanh thu hoạt động trước lãi vay. ROA sẽ cung cấp cho bạn các thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư(hay lượng tài sản). ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh. Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để so sánh các công ty, tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và so giữa các công ty tương đồng nhau. Tài sản của một công ty thì được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của  công ty. Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn. Ví dụ nếu công ty A có thu nhập ròng là 1 triệu $, tổng tài sản là 5 triệu$, khi đó ROA là 20%, tuy nhiên nếu công ty B cũng thu được khoản thu nhập tương tự trên tổng tài sản là 10 triệu $, ROA của B sẽ là 10%. Như vậy công ty A hiệu quả hơn trong việc biến đầu tư thành lợi nhuận. Và do đó, công việc khó khăn nhất của người quản lý là phân bổ vốn và các nguồn lực một cách khôn ngoan. Bất kì ai cũng có thể kiếm lời bằng cách quăng cả núi tiền ra để giải quyết rắc rối nào đó. Tuy nhiên chỉ có rất ít các nhà quản lý có khả năng kiếm những món lợi lớn mà chỉ cần đầu tư khoản tiền nhỏ. Các nhà đầu tư cũng nên chú ý tới tỉ lệ lãi suất mà công ty phải trả cho các khoản vay nợ. Nếu một công ty không kiếm được nhiều hơn số tiền mà nó bỏ ra để chi cho các hoạt động đầu tư, đó hiển nhiên không phải là một dấu hiệu tốt. Ngược lại, nếu ROA mà tốt hơn chi phí vay thì có nghĩa là công ty đang bỏ túi một món hời.

Retention Ratio / Tỷ Lệ Giữ Lại

Là tỷ lệ lợi nhuận ròng được tính làm thu nhập giữ lại.

Entitlement Principle / Nguyên Tắc Được Quyền

Một nguyên tắc về sự công bằng trong phân phối cho rằng, các cá nhân được coi là "có quyền" đối với những vật sở hữu chừng nào sở hữu đó có được nhờ, do trao đổi tự nguyện hay do quà biếu.

Retention Ratio / Tỷ Lệ Thu Nhập Giữ Lại

Đối với lĩnh vực Ngân hàng, Tỷ lệ thu nhập giữ lại có ý nghĩa rất quan trọng đối với HĐQT. Vì nếu tỷ lệ thu nhập giữ lại quá thấp sẽ làm cho mức tăng trưởng vốn ngân hàng chậm, giảm khả năng mở rộng tài sản sinh lời, tăng rủi ro phá sản; Ngược lại nếu tỷ lệ này quá lớn sẽ làm giảm thu nhập của cổ đông dẫn đến thị giá cổ phiếu của ngân hàng sẽ giảm. Công thức tính của Tỷ lệ thu nhập giữ lại = (Thu nhập ròng trong cùng kỳ - cổ tức)/Thu nhập ròng cùng kỳ Tùy thực tế của từng doanh nghiệp, sẽ quyết định giữ lại thu nhập là bao nhiêu cho việc tái đầu tư.

Retained Earnings / Lợi Nhuận Giữ Lại

Phần trăm lợi nhuận thuần không dùng để trả cổ tức mà được doanh nghiệp giữ lại để tái đầu tư theo các mục tiêu chiến lược hoặc để trả nợ. Lợi nhuận giữ lại được thể hiện bên dưới vốn cổ phần chủ sở hữu trong bảng cân đối kế toán. Lợi nhuận giữ lại được tính toán bằng cách thêm vào lợi nhuận giữ lại ban đầu (các năm trước đó) thu nhập thuần và trừ đi cổ tức trả cho các cổ đông Lợi nhuận giữ lại = lợi nhuân giữ lại ban đầu + thu nhập ròng – cổ tức. Lợi nhuận giữ lại (Retained Earnings) còn được gọi là "retention ratio" hoặc là "retained surplus". Trong hầu hết các trường hợp, công ty giữ lại lợi nhuận nhằm đầu tư vào các khu vực mà công ty có thể tạo ra các cơ hội tăng trưởng tốt, thí dụ như mua máy móc thiết bị mới hoặc chi tiền chi nhiều hơn cho việc nghiên cứu và phát triển (R&D). Nếu khoản lỗ trong năm nay lớn hơn thu nhập giữ lại ban đầu thì lợi nhuận giữ lại có thể là một số âm, tạo nên một khoản thiếu hụt trong doanh nghiệp.

Enterprise Resource Planning Sofware - Erp / Phần Mềm Hoạch Định Tài Nguyên Doanh Nghiệp

Đây là quy trình của một công ty (thường là công ty sản xuất) nhằm quản lý và tích hợp các bộ phận quan trọng lại với nhau. Một hệ thống quản lý thông tin ERP thường tích hợp các bộ phận như lập kế hoạch, mua bán, kho vận, marketing, bán hàng, tài chính, nhân lực vv.. với nhau. Vì phương pháp này ngày càng trở nên phổ biến nên có rất nhiều các phần mềm ứng dụng đã được phát triển, nâng cấp để giúp doanh nghiệp có thể triển khai áp dụng ERP. Có thể coi ERP là một chất keo liên kết các hệ thống máy tính trong tổ chức lớn. Thông thường mỗi bộ phận phòng ban đều có một hệ thống riêng tối ưu để thực hiện chuyên môn của họ. Với việc ứng dụng ERP, mỗi phòng ban vẫn duy trì hệ thống riêng của mình nhưng đồng thời lại có thể trao đổi và chia sẽ thông tin một cách dễ dàng với các bộ phận còn lại trong công ty. Phần mềm ERP nhằm mục đích liên kết các bộ phận chức năng riêng lẻ của công ty vào một hệ thống máy tính duy nhất mà vẫn có khả năng đáp ứng nhu cầu riêng của từng bộ phận. Thiết lập một chương trình phần mềm duy nhất có thể đáp ứng nhu cầu của phòng tài chính, phòng nhân sự hay kho vận quả là một yêu cầu khó khăn. Nhưng một khi lắp đặt thành công phần mềm này, hiệu quả mà nó mang lại là vô cùng to lớn. Có thể xét một ví dụ liên quan đến yêu cầu của khách hàng.Thông thường khi khách đặt hàng, đơn hàng này thường được chuyển lần lượt qua các bộ phận trong công ty, qua các hệ thống máy tính khác nhau. Quá trình này thường làm cho đơn hàng bị chậm lại và thậm chí là lỡ đơn hàng. Quá trình mã hoá dữ liệu qua các hệ thống máy tính cũng rất dễ gây ra sai sót. Trong khi đó thì không ai trong công ty thực sự biết tình trạng của đơn hàng tại một thời điểm cụ thể vì chẳng có cách nào để phòng tài chính đăng nhập vào hệ thống máy tính của phòng kho vận để kiểm tra xem hàng hoá đã được gửi đi chưa... ERP đã khắc phục được tình trạng đơn lẻ của các hệ thống máy tính và thay vào đó là một phần mềm duy nhất chia thành các module tương đồng với từng hệ thống cũ. Phòng tài chính, nhân sự, kho vận, sản xuất vẫn có phần mềm riêng của mình đồng thời được kết nối với nhau do đó một nhân viên ngồi tại phòng tài chính vẫn có thể kiểm tra được tình trạng hàng hoá tại phòng kho vận. Vào những năm 90 ERP là phần mềm liên kết chặt chẽ tất cả các phòng ban, tuy nhiên sau đó phần mềm này đã được cải tiến linh hoạt hơn, cho phép cài đặt một số module nhất định chứ không nhất thiết phải cài đặt toàn bộ.

Retailing / Bán Lẻ

Bán lẻ bao gồm việc bán hàng hóa từ một địa điểm cố định, như khu bách hóa tổng hợp, hoặc Ki-ốt, qua đường bưu điện, hoặc trong những số lượng nhỏ để người mua có thể tiêu thụ trực tiếp. Bán lẻ có thể còn bao gồm cả dịch vụ hỗ trợ như phân phối/ đưa hàng. Người mua hàng có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp. Trong thương mại, người bán lẻ mua hàng hóa và sản phẩm với khối lượng lớn từ nhà sản xuất hoặc nhà nhập khẩu, hoặc thông qua người bán buôn, sau đó bán ra với khối lượng nhỏ hơn cho người tiêu dùng cuối cùng. Người bán lẻ nằm ở đoạn cuối của chuỗi cung cấp. Giá bán lẻ Thường có 2 cách tính giá bán lẻ. Thứ nhất là cách cộng thêm một khoản nào đó vào vào giá in trên bao bì. Thứ 2 là sử dụng phương pháp định giá bán lẻ dự tính. Giá này được in ngay trên sản phẩm và bán cho người tiêu dùng với đúng giá đó, nhưng người bán lẻ sẽ lấy hàng với giá nhỏ hơn mức giá đó để hưởng chênh lệch. Ngành công nghiệp bán lẻ đã đem lại những thay đổi mang tính chất hiện tượng trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu thụ hàng hóa trên khắp thế giới. Hiện tịa, hầu hết các nền kinh tế phát triển đều coi ngành công nghiệp bán lẻ là công cụ phát triển thiết yếu của họ. Ở Mỹ hiện nay, ngành công nghiệp bán lẻ chiếm vị trí thứ 2 xét về khía cạnh tạo ra việc làm.

Enhanced Indexing / Tạo Chỉ Số Nổi Bật

Đây là một triết lý đầu tư nhằm cố gắng khuếch đại tỷ suất sinh lợi của một danh mục đầu tư cơ sở hoặc một quỹ chỉ số đồng thời tối thiểu hóa các ảnh hưởng của các sai sót hiệu chỉnh. Dạng đầu tư này được xem như là một triết lý kết hợp giữa quản trị thụ động và quản trị năng động và được sử dụng để mô tả bất kỳ một chiến lược nào mà được sử dụng như là cầu nối với quỹ đầu tư chỉ số cho mục tiêu đánh bại một danh mục chuẩn xác định nào đó.Ví dụ, một nhà đầu tư có thể bán khống các cổ phiếu có mức thể hiện tệ trong một chỉ số và sau đó sử dụng các quỹ để mua lại các cổ phần của các công ty  mà họ hi vọng sẽ có mức tỷ suất sinh lợi cao. Các nhà đầu tư có thể chắc chắn thể hiện tốt hơn danh mục chuẩn qua một thời gian dài bằng việc loại trừ các cổ phiếu có mức thể hiện tệ một cách dứt khoát và sử dụng tiền thu được để đầu tư vào các chứng khoán khác.

Retailer Financing / Tài Trợ Kinh Doanh Bán Lẻ

Tài trợ kinh doanh bán lẻ là một hình thức cho vay gián tiếp người tiêu dùng. Đối với các công ty bán lẻ thực hiện bán hàng trả góp cho người tiêu dùng và các hợp đồng bán hàng đó nếu thỏa mãn các tiêu chuẩn tín dụng sẽ được ngân hàng mua lại theo mức lãi suất phù hợp với mức độ rủi ro, chất lượng của các bảo đảm và thời hạn vay. Qui trình tài trợ được thực hiện như sau : Sau khi đã có thỏa thuận giữa các bên về phương thức tài trợ này, nhà sản xuất sẽ giao hàng cho công ty bán lẻ, ngân hàng cấp tín dụng cho công ty bán lẻ để trả cho nhà sản xuất. Khi công ty bán lẻ tiêu thụ được hàng hóa sẽ thanh toán nợ cho ngân hàng. Theo định kì ngân hàng sẽ tiến hành kiểm tra tồn kho để xác định số lượng hàng hóa đã bán, nếu phát hiện hàng hóa đã bán nhưng không thanh toán cho ngân hàng thì yêu cầu công ty bán lẻ phải thanh toán ngay, nếu công ty không có khả năng trả nợ ngân hàng sẽ thu hồi một phần hoặc toàn bộ hàng hóa tồn kho để chuyển trả nhà sản xuất ( nhà sản xuất sẽ thanh toán tiền cho ngân hàng).

Retail Banking / Ngân Hàng Bán Lẻ

Các dịch vụ ngân hàng phục vụ quần chúng nói chung. Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ là một nhóm các dịch vụ tài chính bao gồm: các khoản vay trả góp, thế chấp nhà ở, các khoản vay tín dụng vốn, dịch vụ tiền gửi, và các tài khoản lương hưu cá nhân. Ngược lại với ngân hàng bán buôn hay ngân hàng dành cho doanh nghiệp, ngân hàng bán lẻ thực hiện khối lượng công việc đồ sộ với rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ cạnh tranh giành giật thị phần. Một số dịch vụ ngân hàng bán lẻ, như thẻ tín dụng, là những dịch vụ mang lại nhiều lợi nhuận nhất của các định chế tài chính.

Retail / Bán Lẻ

Là giai đoạn cuối cùng trong dây chuyền phân phối từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng.

Reswitching / Tái Chuyển Đổi

Trong CUỘC TRANH LUẬN VỀ VỐN, quan điểm cho rằng một phương pháp sản xuất bị từ bỏ khi tỷ lệ lợi nhuận thấp có thể được đưa ra khi tỷ lệ lợi nhuận tăng lên tới những mức cao hơn nhiều, cùng với việc một (hoặc nhiều) Phương pháp sản xuất thay thế có khả năng sinh lợi cao hơn được sử dụng trong giai đoạn chuyển tiếp.

Restructuring / Tái Cấu Trúc

Tái cấu trúc là một sự thay đổi quan trọng đối với nợ, hoạt động hoặc cấu trúc của một công ty. Một công ty thường tiến hành hoạt động tái cấu trúc khi nó thật sự gặp phải các vấn đề nghiêm trọng có thể khiến công ty lâm vào tình thế “hiểm nghèo”. Thông qua việc tái cấu trúc, công ty hi vọng có thể giải quyết được các khó khăn tài chính và cái thiện tình hình sản xuất kinh doanh. Khi công ty gặp vấn đề với khả năng trả nợ, thường thì nó sẽ củng cố và điều chỉnh khoản mục nợ trong cấu trúc nợ. Sau khi tái cấu trúc nợ, công ty sẽ đủ khả năng để kiểm soát các khoản nợ trong doanh nghiệp cũng như là khả năng trả nợ cho các trái chủ cũng gia tăng. Các hoạt động cắt giảm chi phí thí dụ như lương trả cho nhân viên, hoặc giảm quy mô qua việc bán một số tài sản của công ty là những hoạt động dễ thấy khi một công ty thực hiện việc tái cấu trúc hoạt động hoặc tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp. Khi tình hình hoạt động hiện tại của công ty không tốt và có thể đưa công ty đến bên bờ vực phá sản thì tái cấu trúc doanh nghiệp được xem là một giải pháp cần thiết.

Engineering Method / Phương Pháp Kỹ Thuật

Một phương pháp được dùng trong phương pháp phân tích chi phí thống kê, trong đó những ước tính của người kỹ sư về mối liên hệ đầu vào- đầu ra là cơ sở để tính toán chi phí sản xuất tối thiểu tại các mức sản lượng khác nhau.

Restrictive Trade Practices Act 1968 / Đạo Luật Năm 1968 Về Những Thông Lệ Thương Mại Hạn Chế

Điểm chính của đạo luật này là một điều khoản nới lỏng việc đăng ký bắt buộc các thoả thuận theo quy định của đạo luật năm 1956 về những Thông lệ thương mại hạn chế.

Engel's Law / Quy Luật Của Engel

Một "quy luật" tiêu dùng thực nghiệm do Ernst Engel đề xướng. Ý tưởng ở đây là phần thu nhập quốc gia được chi tiêu cho lương thực là một chỉ số tốt về phúc lợi của quốc gia đó.

Restrictive Trade Practices Act 1956 / Đạo Luật Năm 1956 Về Những Thông Lệ Thương Mại Hạn Chế

Là đạo luật của Anh quy định việc các hãng sản xuất thoả thuận với nhau để duy trì giá bán lẻ là bất hợp pháp.

Engagements / Tuyển Dụng (Hay Thuê Mới)

Một đường biểu thị mối quan hệ giữa thu nhập và tiêu dùng của một cá nhân về một hàng hoá cụ thể.

Enfranchisement Of The Nomenklatura / Đặc Quyền Của Giới Chức

Một cách tiếp cận không chính thức và không rõ ràng đối với quá trình tư nhân hóa nhanh chóng tài sản nhà nước ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây (và một vài nước khác), qua đó các nhà hoạt động đảng phái trước đây và quan chức nhà nước có thể mua tài sản nhà nước với giá thấp hơn giá thị trường. Thuật ngữ nomenklatura chỉ những người được lựa chọn vào các chức vụ cao, nhưng không phải do công trạng mà do sự phán quyết của đảng cầm quyền.

Restricted Stock / Cổ Phiếu Hạn Chế

Cổ phiếu hạn chế là loại cổ phiếu được nắm giữ bởi các cổ đôngtrong nội bộ công ty (Insider holdings)- những thành viên có quyền quản lý công ty, và quyền mua bán chuyển nhượng loại cổ phiếu này bị hạn chế. Loại cổ phiếu này chỉ được phép giao dịch dưới sự cho phép và theo quy định của luật Chứng khoán ở mỗi nước (ví dụ Đạo luật chứng khoán- SEC ở Anh năm 1933). Lý do cũng thật đơn giản đối với những cổ đông sáng lập hay quản lý công ty thì việc họ dễ dàng chuyển nhượng cổ phiếu ra ngoài sẽ làm thay đổi cơ cấu vốn nắm giữ của các cổ đông chủ chốt, và nếu tự do hơn nữa sẽ kéo theo sự thay đổi chủ sở hữu của công ty. Với một công ty mà thành viên trong Hội đồng quản trị không ổn định thì rõ ràng sẽ gây ảnh hưởng tới việc ra quyết định, quản lý và điều hành công ty. Chính vì vậy việc sử dụng cổ phiếu hạn chế nhằm giảm thiểu sự bất ổn định trong cơ cấu các cổ đông chủ chốt và duy trì sự ổn định trong việc quản lý công ty. Cổ phiếu hạn chế cũng được trả cổ tức tương tự như cổ phiếu thường. Cổ phiếu hạn chế thường được trao cho các cổ đông nội bộ trong hai trường hợp sau sáp nhập hoặc mua lại công ty hay sau khi công ty được bảo lãnh phát hành. Sau việc sáp nhập hay mua lại thì công ty mới sẽ được cơ cấu lại và hình thành một Hội đồng quản trị mới và lúc đó cổ phiếu hạn chế sẽ được phát hành cho các cổ đông chính. Trường hợp trước khi niêm yết, cổ phần của một công ty không được phép mua bán chuyển nhượng, nhưng khi công ty phát hành chứng khoán ra công chúng (IPO), sau đó có thể được bảo lãnh phát hành, lúc này cổ phiếu đã được niêm yết trên thị trường và người nắm giữ cổ phiếu hoàn toàn có thể chuyển nhượng cho người khác để kiếm lời hoặc thu tiền mặt. Chính vì vậy cần phát hành cổ phiếu hạn chế cho các cổ đông chủ chốt để hạn chế quyền chuyển nhượng của họ.  Các cổ phiếu hạn chế không có nhiều ưu điểm như quyền mua bán cổ phiếu - người ta dễ dàng định giá chúng hơn vì chúng được mua bán thường xuyên trên thị trường. Chính vì vậy mà cổ phiếu hạn chế cũng coi như một tài sản không có tính thanh khoản. Cổ phiếu hạn chế cũng chỉ giới hạn quyền chuyển nhượng trong một thời gian nhất định hay khi đạt đến mức điều kiện nào đó về hoạt động của công ty, ví dụ sau khi công ty đã đạt tới mục tiêu tài chính nhất định như thu nhập trên một cổ phần (EPS) thì cổ phiếu hạn chế được phép chuyển nhượng tự do và lúc đó nó trở thành cổ phiếu phổ thông. Nên đôi khi cổ phiếu hạn chế được sử dụng như là một hình thức thưởng đối với các nhân viên đặc biệt là nhân viên cấp cao, công ty sẽ trao cổ phiếu hạn chế cho họ coi như là cổ phiếu thưởng với điều kiện sau một thời gian nhất định nếu họ hoàn thành được dự án hoặc kế hoạch công ty đề ra thì cổ phiếu này sẽ được chuyển nhượng tự do.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55