Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Revenues / Doanh Thu

Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh: Là một bộ phận có thể phân biệt được của một doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ riêng lẻ, một nhóm các sản phẩm hoặc các dịch vụ có liên quan mà bộ phận này có rủi ro và lợi ích kinh tế khác với các bộ phận kinh doanh khác. Các nhân tố cần xem xét để xác định sản phẩm và dịch vụ có liên quan hay không, gồm: a) Tính chất của hàng hóa và dịch vụ; b) Tính chất của quy trình sản xuất; c) Kiểu hoặc nhóm khách hàng sử dụng các sản phẩm hoặc dịch vụ; d) Phương pháp được sử dụng để phân phối sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ; e) Điều kiện của môi trường pháp lý như hoạt động ngân hàng, bảo hiểm hoặc dịch vụ công cộng. Bộ phận theo khu vực địa lý: Là một bộ phận có thể phân biệt được của một doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ trong phạm vi một môi trường kinh tế cụ thể mà bộ phận này có rủi ro và lợi ích kinh tế khác với các bộ phận kinh doanh trong các môi trường kinh tế khác. Các nhân tố cần xem xét để xác định bộ phận theo khu vực địa lý, gồm: a) Tính tương đồng của các điều kiện kinh tế và chính trị; b) Mối quan hệ của những hoạt động trong các khu vực địa lý khác nhau; c) Tính tương đồng của hoạt động kinh doanh; d) Rủi ro đặc biệt có liên quan đến hoạt động trong một khu vực địa lý cụ thể; e) Các quy định về kiểm soát ngoại hối; và f) Các rủi ro về tiền tệ. Doanh thu bộ phận: Là doanh thu trình bày trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp được tính trực tiếp hoặc phân bổ cho bộ phận, bao gồm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ ra bên ngoài và doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ cho bộ phận khác của doanh nghiệp. Doanh thu bộ phận không bao gồm: (i) Thu nhập khác; (ii) Doanh thu từ tiền lãi hoặc cổ tức, kể cả tiền lãi thu được trên các khoản ứng trước hoặc các khoản tiền cho các bộ phận khác vay, trừ khi hoạt động của bộ phận chủ yếu là hoạt động tài chính; hoặc (iii) Lãi từ việc bán các khoản đầu tư hoặc lãi từ việc xoá nợ trừ khi hoạt động của bộ phận đó chủ yếu là hoạt động tài chính. Doanh thu của bộ phận bao gồm cả phần lãi hoặc lỗ do đầu tư vào công ty liên kết, công ty liên doanh hoặc các khoản đầu tư tài chính khác được hạch toán theo phương pháp vốn chủ sở hữu khi các khoản doanh thu đó nằm trong doanh thu hợp nhất của tập đoàn.

Doanh Thu (Revenues) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Doanh Thu (Revenues) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Equal Pay / Trả Lương Ngang Nhau; Trả Lương Bình Đẳng

Sự công bằng giữa các giới về điều khoản và điều kiện việc làm: một khái niệm về trả lương ngang nhau cho công việc có giá trị ngang nhau, mặc dù định nghĩa về "trả lương" và "công việc ngang nhau" không giống nhau giữa các nước.

Revenue / Tổng Thu Nhập

Đây là lượng tiền mà công ty thực tế thu được trong một khoảng thời gian nhất định, trong đó bao gồm cả các khoản chiết khấu và giá trị hàng bán bị trả lại. Đây là dòng đầu tiên hay là con số thể hiện tổng doanh thu trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, từ đó  tiến hành điều chỉnh tăng giảm các khoản khác để ra thu nhập ròng của doanh nghiệp. Tổng doanh thu được tính bằng cách lấy giá bán nhân với số lượng sản phẩm bán được. Đây chính là lượng tiền một công ty thu về từ hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên khi nói đến nhà nước doanh thu được hiểu là lượng tiền nhà nước thu về bao gồm các khoản thuế, phí, tiền phạt, tiền viện trợ của các tổ chức và quốc gia khác, tiền thu từ bán trái phiếu chính phủ, tiền thu  từ hoạt động khai thác khoáng sản, các nguồn tài nguyên và bất cứ khoản thu nào khác. Doanh thu là một nhân tố quan trọng trong các phân tích tài chính. Hoạt động của một công ty được đánh giá một phần thông qua tài sản mà công ty đó thu về (chính là doanh thu) so với lượng tài sản mà nó mất đi (các khoản chi phí_expenses). Khi lấy hiệu của hai con số trên, ta được thu nhập ròng.  Nếu một công ty thể hiện tốc độ tăng trưởng doanh thu bền vững, các nhà phân tích vẫn có thể nhận định hoạt động của doanh nghiệp trong thời kì này là tốt cho dù tốc độ tănglợi nhuận có chậm chạp. Ngược lại, tốc độ tăng lợi nhuận cao có thể là dấu hiệu xấu nếu như công ty không có tốc độ tăng doanh thu đáng kể. Sự tăng trưởng nhất quán giữa doanh thu và lợi nhuận thường được coi là yếu tố cần thiết đối với các công ty cổ phần nếu họ muốn thu hút nhà đầu tư. Thu nhập được sử dụng để đánh giá chất lượng của lợi nhuận. Có một vài chỉ số tài chính liên quan tới doanh thu, trong đó có các chỉ số : Giá/doanh thu, lãi gộp, thu nhập ròng/tổng doanh thu... Chỉ số giá/ doanh thu đôi khi được sử dụng thay cho tỉ lệ P/E nếu như thu nhập là số âm và P/E  khi này là vô nghĩa. Mặc dù công ty có thể có lợi nhuận âm nhưng thường doanh thu bao giờ cũng là số dương. Lãi gộp là kết quả thu được sau khi lấy doanh thu trừ các khoản giảm trừ và giá vốn hàng bán, nó được sử dụng để xác định khả năng bù đắp các chi phí trực tiếp liên quan đến sản xuất hàng hoá của doanh thu. Thu nhập ròng/ doanh thu (hay chính là biên lợi nhuận): được các nhà đầu tư tính toán để xác định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cho biết mỗi đồng doanh thu có thể tạo ra bao nhiêu đồng lãi.

Equal Employment Opportunity Commision / Uỷ Ban Cơ Hội Việc Làm Bình Đẳng / Ngang Bằng

Một uỷ ban được thành lập để giải quyết những khiếu nại bắt nguồn từ sự thông qua Đạo luật Quyền dân sự của Mỹ năm 1964. Đạo luật này nghiêm cấm hành động phân biệt đối xử của các ông chủ.

Revealed Preference / Sở Thích Được Bộc Lộ

Là một phương thức tiếp cận học thuyết về cầu của SAMUELSON, dựa trên những nhận định về cách thức mà người tiêu dùng phản ứng đối với những thay đổi về giá cả và thu nhập.

Equal Employment Opportunity Act Of 1972 / Đạo Luật Về Cơ Hội Việc Làm / Bình Đẳng / Ngang Bằng Năm 1972

Một đạo luật mở rộng vi phạm của mục VII của Đạo luật Quyền dân sự của Mỹ năm 1964 sang các chính quyền tiểu bang và địa phương và cho phép Uỷ ban cơ hội việc làm ngang nhau lập hồ sơ kiện tụng cho bản thân họ.

Revaluation / Sự Nâng Giá Trị; Sự Tăng Giá

Là một thay đổi theo hướng đi lên của sức mua ngang giá đối với một đồng tiền trong một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định.

Environmental Impact Analysis / Phân Tích Tác Động Môi Trường

Một phân tích tìm cách xác định rõ ràng những ảnh hưởng lên toàn bộ môi trường của một dự án đầu tư.

Revaluation / Nâng Giá Tiền Tệ

Là việc nâng sức mua của tiền tệ nước mình so với ngoại tệ, cao hơn sức mua thực tế của nó. Ảnh hưởng của nâng giá tiền tệ ngược lại so với phá giá tiền tệ. Một quốc gia nâng giá tiền tệ do: Áp lực của nước khác; Để tránh phải tiếp nhận những đồng đôla bị mất giá từ Anh và Mỹ chạy vào nước mình; Để hạ nhiệt nền kinh tế quá nóng (do giảm xuất khẩu, giảm đầu tư vào trong nước); Để xây dựng sự ảnh hưởng của nước mình ở ra bên ngoài (tăng cường đầu tư và xuất khẩu vốn ra bên ngoài).

Returns To Scale / Lợi Tức Theo Quy Mô

Là tỷ lệ mà theo đó sản lượng thay đổi khi số lượng của tất cả các đầu vào thay đổi.

Return On Investment (ROI) / Hệ Số Thu Nhập Trên Đầu Tư

Hệ số thu nhập trên đầu tư (ROI) được sử dụng như là một cách thức tiện lợi để xác định mức độ ảnh hưởng của biên lợi nhuận so với doanh thu và tổng tài sản. Mục đích của công thức này là so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một công ty, và cách thức công ty sử dụng tài sản để tạo doanh thu.           Thu nhập ròng        Doanh số bán             Thu nhập ròng ROI  = -------------------   x     ------------------      =       --------------------           Doanh số bán         Tổng tài sản                Tổng tài sản Theo công thức trên thì tỷ lệ "Thu nhập ròng/Doanh số bán hàng" chính là thước đo biên lợi nhuận, và đó cũng chính là chỉ số phản ánh cách thức tạo ra lợi nhuận của công ty. Còn tỷ số "Doanh số bán hàng/Tổng tài sản" thể hiện cách thức công ty khai thác nguồn lực của mình để tạo ra doanh thu. Rõ ràng nếu khả năng sử dụng tài sản của công ty là không đổi thì hệ số thu nhập trên đầu tư phụ thuộc chặt chẽ vào biên lợi nhuận: tỉ suất lợi nhuận càng cao thì ROI càng cao và ngược lại. Trường hợp mức độ sử dụng nguồn lực không đổi mà vẫn có biên lợi nhuận cao phản ánh khả năng kinh doanh khéo léo của công ty: Marketing thu hút nhiều khách hàng, nắm được cơ hội bán hàng khi thị hiếu khách hàng đang tăng... Còn khi biên lợi nhuận không đổi, doanh số bán hàng càng cao thì chứng tỏ cách khai thác tài sản của công ty càng hiệu quả, và lúc đó kéo theo ROI cao. Viết một cách ngắn gọn thì tỷ lệ thu nhập trên đầu tư được tính bằng cách chia thu nhập ròng (lợi nhuận) cho tổng giá trị tài sản của công ty nhân với 100 để thể hiện dưới dạng phần trăm (%). Hệ số này thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận của một công ty với một lượng tài sản nhất định trong tay, chính vì vậy nó là một công cụ để ra quyết địnhtài chính cho các nhà đầu tư, như mua trái phiếu, cổ phiếu... Nhưng quan trọng hơn là đối với các nhà quản lý, ROI là chỉ tiêu thông thường về mức độ lợi nhuận mà mức độ đó lại được dùng để đánh giá hiệu quả của khả năng sử dụng các nguồn lực đã được giao phó cho công ty. Việc kiểm soát ROI sẽ giúp cho nhà quản lý đánh giá hiệu quả của công tác hoạch định và các hoạt động sản suất khác.

Environmental Conditions / Những Điều Kiện Môi Trường

Mặc dù trình độ hiểu biết khoa học và kỹ thuật của thế giới đang gia tăng, vẫn còn chênh lệch lớn về kiến thức này, đặc biệt liên quan đến điều kiện môi trường ở các nước đang phát triển.

Return On Invested Capital / Hệ Số Thu Nhập Trên Vốn Đầu Tư

Hệ số thu nhập trên vốn đầu tư (Return of Invested Capital - ROIC) phản ánh khả năng sử dụng vốn đầu tư để tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp. Công thức tính hệ số thu nhập trên vốn đầu tư như sau: ROIC = EBIT * (1- Thuế suất) / Vốn đầu tư Trong đó Vốn đầu tư = Tổng tài sản - (tiền và các khoản tương đương tiền) - các khoản nợ không phải trả lãi Tuy nhiên tính theo công thức này không đơn giản vì rất khó xác định đâu là các khoản nợ không phải trả lãi, do các báo cáo tài chính do các doanh nghiệp Việt Nam rất ít khi báo cáo đầy đủ, ngay cả khi họ cung cấp thuyết minh báo cáo tài chính. Vì vậy công thức trên được thay bằng công thức gần đúng, trong đó vốn đầu tư được coi là bằng vốn sử dụng (Capital Employed): Vốn đầu tư = Vốn sử dụng = Tổng tài sản - Tổng nợ ngắn hạn.

Return On Capital Employed - ROCE / Tỷ Lệ Thu Nhập Trên Vốn Sử Dụng

Hiểu một cách đơn giản ROCE là chỉ số thể hiện khả năng thu lợi nhuận của một công ty dựa trên lượng vốn đã sử dụng. RCOE được tính toán theo công thức: ROCE =        Profit Before Interest and Taxation /   Capital Employed                              Trong đó: Profit Before Interest and Taxation: Lợi nhuận trước thuế và trả lãiCapital employed: vốn sử dụng Trong công thức tính toán trên, phần tử số (thu nhập) bao gồm các khoản lợi nhuận trước thuế, các khoản thu nhập bất thường và khoản trả cổ tức. Các số liệu này đều có thể thu thập trên báo cáo thu nhập của doanh nghiệp. Mẫu số (lượng vốn công ty đã sử dụng) bao gồm tổng giá trị của các cổ phiếu thông thường và cổ phiếu ưu đãi, các khoản nợ, các khoản thuê tài chính và các khoản dự phòng. Các số liệu này có thể thu thập từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Đối với những nhà đầu tư mới gia nhập sân chơi thì ROCE là một chỉ số tốt để so sánh khả năng sinh lời của các công ty, tương tự như biên lợi nhuận. Thêm vào đó ROCE còn có thể được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của một công ty. Ví dụ: Giả sử rằng công ty A kiếm được khoản lợi nhuận là 100$ trên doanh thu 1000$, công ty B kiếm được 150$ tiền lãi trên tổng doanh thu là 1000$. Nếu xét về mức sinh lợi đơn thuần, B có biên lợi nhuận là 15%, A có biên lợi nhuận là 10%. Tuy nhiên, nếu giả sử rằng lượng vốn mà A sử dụng là 500$, B sử dụng là  1000$. Khi đó tỉ lệ ROCE của A và B tương ứng là 20% và 10%. Như vậy rõ ràng là công ty A đã sử dụng vốn hiệu quả hơn công ty B. Các nhà đầu tư cũng nên so sánh ROCE của một công ty với chi phí vay vốn hiện tại. Nếu một nhà đầu tư gửi tiết kiệm ngân hàng 100$ với mức lãi suất là 5% một năm, như vậy thu nhập trên vốn của anh ta là 5$. Khi đầu tư 100$ này vào một doanh nghiệp, nhà đầu tư bao giờ cũng kì vọng sẽ thu về một khoản tiền lời cao hơn nhiều so với mức 5$ như trên. Nhưng để tạo ra mức lãi cao, một công ty phải huy động vốn theo một cách ít tốn kém nhất, và ROCE đo lường khả năng này của công ty. Không có một điểm quy chuẩn nào cho các doanh nghiệp, nhưng thông thường thì ROCE ít nhất phải cao gấp đôi tỉ lệ lãi suất. Công ty nào có ROCE thấp hơn thì có nghĩa là nó đang sử dụng vốn một cách không hiệu quả. Tính nhất quán là một yếu tố rất quan trọng đối với hoạt động của một công ty. Nói cách khác, các nhà đầu tư nên tránh việc đầu tư dựa trên số liệu ROCE trong chỉ một năm, thay vào đó hãy xem xét chỉ số này qua các năm. Nếu một doanh nghiệp có thu nhập trên mỗi đồng vốn sử dụng tăng qua các năm thì doanh nghiệp đó sẽ có giá hơn các doanh nghiệp khác. Nhưng cũng hãy cẩn thận với sự sụt giảm ROCE vì đây là dấu hiệu cho thấy công ty đang mất đi lợi thế của mình. Vì được dùng để đo lường mức sinh lợi của  một công ty so với lượng vốn mà nó sử dụng nên ROCE là chỉ số rất quan trọng đối với các công ty có mức độ tập trung vốn cao như các công ty truyền thông, năng lượng, các công ty công nghiệp nặng, và đặc biệt quan trọng đối với các công ty xăng dầu. Tuy nhiên, ROCE cũng có thể phản ánh không chính xác hiệu quả của các doanh nghiệp có lượng tiền dự trữ lớn. Lượng tiền này được tính là một phần của số vốn mà doanh nghiệp sử dụng thậm chí ngay cả khi nó chưa được dùng tới, vì thế mà nó làm thổi phồng lượng vốn sử dụng của doanh nghiệp  và làm giảm ROCE. Ví dụ: một công ty có lợi nhuận là 15$ trên lượng vốn sử dụng là 100$, tức là ROCE = 15%. Trong 100$ tiền vốn thì có 40$ vừa được huy động và hiện vẫn chưa đầu tư sản xuất. Nếu chỉ tính lượng vốn thực sử dụng thì con số ROCE còn ngoạn mục hơn, lên tới 25%. Những người theo trường phái bảo thủ còn cho rằng các tài sản vô hình như thương hiệu, nhãn hiệu, R&D không được tính là bộ phận cấu thành vốn sử dụng (capital employed), vì thế phải trừ các khoản này đi.

Environment Fund And Other Funds / Quỹ Môi Trường Và Các Quỹ Khác

Công ty quỹ tương hỗ cũng tạo ra các loại quỹ khác nhằm thu hút các nhà đầu tư mà quan điểm xã hội và chính trị mạnh mẽ của họ khiến họ không muốn đầu tư vào những quỹ có hoạt động kinh doanh không có lợi đối với niềm tin của họ. Một quỹ môi trường có thể tránh không đầu tư vào các công ty thuốc lá, các công ty có kết quả tồi về bảo vệ môi trường hoặc các công ty bán một số sản phẩm nào đó cho các nước lạc hậu. Mặc dù các quỹ này thường không đứng đầu trong bảng xếp hạng kết quả kinh doanh do các hạn chế về những loại chứng khoán họ có thể mua nhưng rất nhiều quỹ lại được xếp hạng là tăng trưởng trên mức trung bình. Không như các quỹ đầu tư chuyên biệt khác, các quỹ môi trường không được coi là một hạng mục đầu tư đặc biệt đối với các công ty theo đuổi mục tiêu lợi nhuận kinh doanh, ví dụ như công ty Lipper, Inc. Nhà đầu tư nào cảm thấy rõ ràng về việc tiền của họ nên đầu tư vào đâu sẽ phải thực hiện những nghiên cứu bổ sung để tìm ra một quỹ mà họ cảm thấy phù hợp với mình. Một số nhóm có lợi ích đặc biệt sẽ tài trợ hoặc giới thiệu các quỹ cụ thể.

Entry Preventing Price / Giá Ngăn Chặn Nhập Ngành

Giá mà các hãng đã thiết lập trong một ngành định ra ở mức không sợ những doanh nghiệp mơí nhập ngành.

Return On Capital Employed / Hệ Số Thu Nhập Trên Vốn Sử Dụng

Hệ số thu nhập trên vốn sử dụng là chỉ số thể hiện khả năng thu lợi nhuận của một doanh nghiệp dựa trên lượng vốn đã sử dụng.

Entrepreneurial Supply Price / Giá Cung Ứng Của Doanh Nghiệp

Lợi tức vừa đủ để giữ một người điều hành với một số phẩm chất nào đó ở lại với công việc hiện tại của người đó.

Entrepreneur / Chủ Doanh Nghiệp

Một nhân tố tổ chức trong một quá trình sản xuất. Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm về các quyết định kinh tế như sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu và phương pháp sản xuất nào được áp dụng.

Entrepreneur / Doanh Nhân, Doanh Nhân Khởi Nghiệp

Một cá nhân, thay vì làm việc như một nhân công, tự điều hành công việc kinh doanh của chính mình, chấp nhận tất cả rủi ro và phần thưởng mà công việc kinh doanh đó mang lại. Doanh nhân thường được coi như người lãnh đạo của một công việc kinh doanh và người đưa ra những ý tưởng mới, nhà cải cách quy trình kinh doanh. Các doanh nhân đóng vai trò chính trong bất kỳ một nền kinh tế nào. Đó là những người có những kỹ năng và sáng kiến cần thiết để đưa những ý tưởng hay ra ngoài thị trường, và đưa ra những quyết định đúng đắn để bắt ý tưởng đó sinh lợi nhuận. Phần thưởng cho việc chấp nhận rủi ro là những lợi nhuận kinh tế tiềm năng mà doanh nhân đó có thể kiếm được. Doanh nhân khởi nghiệp là người phải chịu những rủi ro khi bắt đầu một công việc kinh doanh mới. Rất nhiều doanh nhân khởi nghiệp có hiểu biết về kĩ thuật để sản xuất nhữnghàng hóa có thể bán được hay thiết kế những dịch vụ mới cần thiết. Thường thì những Quỹ vốn đầu tư mạo hiểm sẽ trợ cấp tài chính cho những doanh nghiệp khởi nghiệp, bù lại họ sẽ nhận được một phần vốn sở hữu. Một khi công việc kinh doanh của doanh nhân khởi nghiệp được thiết lập, cổ phiếu có thể được bán ra công chúng trong đợt IPO trong những điều kiện thị trường thích hợp.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55